Đề cương Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII

Phần I

Đề cương Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII

- Phần I -

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá, từ ngày 04/10 đến ngày 07/10/2021, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã họp bàn, cho ý kiến về các nội dung sau: (1) Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021 và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022; Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; về việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá XII. (2) Báo cáo kết quả công tác phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua; quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới. (3) Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. (4) Quy định về những điều đảng viên không được làm. (5) Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 3 đến Hội nghị Trung ương 4 và các nhiệm vụ trọng tâm từ Hội nghị Trung ương 4 đến Hội nghị Trung ương 5.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

Tham dự Hội nghị có 192 đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng (173 Uỷ viên chính thức và 19 Uỷ viên dự khuyết); đại biểu mời dự có 18 đồng chí không là Uỷ viên Trung ương Đảng (Bí thư Tỉnh uỷ Đăk Nông, Chính uỷ Quân khu 2, Phó Chủ nhiệm và Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIII). Tổng số có 210 đại biểu tham dự Hội nghị.

Sau hơn 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các báo cáo. Bộ Chính trị đã họp, thảo luận để tiếp thu ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất cao nội dung ý kiến tiếp thu và giải trình của Bộ Chính trị, thông qua những nội dung cơ bản các văn kiện của Hội nghị Trung ương.

Sau đây là Thông báo nhanh về kết quả Hội nghị.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, thảo luận về Tờ trình, Báo cáo và thống nhất ban hành Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề về kinh tế - xã hội.

I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI[1]

1. Về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021

1.1. Bối cảnh tình hình

Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất đánh giá, năm 2021 diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước; là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và các kế hoạch 5 năm 2021 - 2025 trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức so với năm 2020. Kinh tế thế giới tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề do các đợt bùng phát dịch Covid-19 với những biến thể mới; tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo phục hồi nhưng còn chậm, không đồng đều. Trong nước, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp hơn, nhất là dịch bùng phát lần thứ tư, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất kinh doanh, tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội và đời sống người dân.

1.2. Kết quả đạt được và nhiệm vụ, giải pháp những tháng cuối năm 2021

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng chúng ta vẫn đạt được một số kết quả nổi bật trên các lĩnh vực là:

- Năm 2021, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, chúng ta đã chuẩn bị tốt nhất để tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, phê chuẩn và kiện toàn các chức danh quan trọng của Nhà nước; quyết định và thông qua các Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025 về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và đầu tư công.

- Mặc dù đây là lần đầu tiên đối mặt với tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng toàn cầu cả về y tế, kinh tế, xã hội, nhất là tác động của dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư, nhưng chúng ta vẫn giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô, cơ bản bảo đảm các cân đối lớn; lạm phát được kiểm soát, bình quân 9 tháng tăng 1,82% so với cùng kỳ; thu ngân sách nhà nước ước vượt dự toán, cơ bản bảo đảm nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch bệnh và các nhiệm vụ cấp bách khác; bội chi ngân sách nhà nước trong phạm vi dự toán (4% GDP). Huy động vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm đạt 35% GDP; kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ước tăng 10,7% so với năm 2020. Mặt bằng lãi suất bình quân giảm; tỉ giá và thị trường ngoại tệ ổn định; dự trữ ngoại hối nhà nước tiếp tục được củng cố. Nhiều ngành, lĩnh vực quan trọng tiếp tục được duy trì, ổn định. Nông nghiệp khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế trong bối cảnh khó khăn, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò quan trọng; an ninh năng lượng được bảo đảm. Khởi công một số công trình, dự án đường bộ cao tốc; đẩy mạnh triển khai nhiều dự án kết cấu hạ tầng quan trọng quốc gia. Trong 9 tháng đầu năm có 85,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và 32,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.

- Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá. Khẩn trương triển khai thể chế hoá Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Từ đầu năm đến nay, đã ban hành Luật về phòng, chống ma tuý; tiếp tục xây dựng, chỉnh lý 11 dự án luật theo Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2021 để trình Quốc hội khoá XV thông qua tại Kỳ họp thứ 2; đang khẩn trương xây dựng trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số luật.

- Trong bối cảnh dịch bệnh, thực hiện giãn cách xã hội, các hoạt động văn hoá, xã hội được tổ chức dưới nhiều hình thức phù hợp với tình hình dịch bệnh. Trong khó khăn, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của người dân, doanh nghiệp, doanh nhân càng được phát huy. Tổ chức tốt các kỳ thi tốt nghiệp, tuyển sinh cao đẳng, đại học; tổ chức dạy và học trực tuyến; khai giảng năm học mới linh hoạt, phù hợp tại các địa phương đang thực hiện giãn cách xã hội... Nhiều nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh tiếp tục được triển khai và phát huy hiệu quả.

- Các hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ được thúc đẩy mạnh mẽ, như: Cơ bản hoàn thành việc thu thập dữ liệu và chính thức vận hành hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ ngày 01/7/2021; dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đạt trên 50%; chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025; kết nối liên thông nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh từ Bộ Y tế; kết nối trực tuyến từ Văn phòng Chính phủ đến gần 100% xã, phường, thị trấn tại các tỉnh, thành phố để nắm bắt tình hình, trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống dịch ở cấp cơ sở; các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ phục vụ phòng, chống dịch Covid-19, nhất là nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sản xuất vắc-xin...

- Quốc phòng, an ninh, chủ quyền, biên giới quốc gia được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thanh tra, kiểm tra được chú trọng; tăng cường ngăn ngừa, xử lý, đấu tranh với thông tin xấu, độc trên không gian mạng, tin giả, sai sự thật, xuyên tạc về đường lối, chính sách, pháp luật Việt Nam, nhất là về phòng, chống dịch Covid-19 và bảo đảm kịp thời; xử lý nghiêm các vi phạm, không để các thế lực thù địch phản động lợi dụng, gây hoang mang, kích động, chia rẽ, ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

- Công tác đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với bối cảnh tình hình dịch bệnh, nhất là ngoại giao vắc-xin; nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển, tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Về những hạn chế, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất đánh giá:

- Dự kiến 4/12 chỉ tiêu chủ yếu chưa đạt mục tiêu đề ra. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt 5,64%, tuy nhiên quý III giảm 6,17% do ảnh hưởng nghiêm trọng của đợt dịch bùng phát lần thứ 4, tính chung 9 tháng GDP tăng 1,42%. Kinh tế vĩ mô tiềm ẩn một số rủi ro; sức ép lạm phát tăng; xuất khẩu giảm tốc trong khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng mạnh, ước nhập siêu cả năm khoảng 2 tỉ USD, chủ yếu do nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, máy móc, thiết bị; xuất, nhập khẩu vẫn còn phụ thuộc vào một số ít thị trường và khu vực FDI; tỉ trọng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước còn thấp. Xuất hiện tình trạng đứt gãy một số chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng; lưu thông hàng hoá có lúc, có nơi ách tắc cục bộ, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Các thị trường tài chính, bất động sản, chứng khoán có thời điểm tăng nóng. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công thấp, chậm được khắc phục, nhất là vốn ODA và vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài. Khu vực dịch vụ gặp khó khăn nghiêm trọng, đặc biệt là thương mại, du lịch, lưu trú, ăn uống, vận tải hành khách. Tình hình lao động, việc làm bị ảnh hưởng nặng nề; riêng trong quý III/2021, tỉ lệ thất nghiệp là 3,72%, thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 4,39%, cao nhất từ quý I/2020 đến nay. Nhiều doanh nghiệp đã phải chuyển sản xuất, chuyển đơn hàng tạm thời. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể vẫn ở mức khá cao. Tỉ lệ nợ xấu có xu hướng tăng.

- Dưới tác động nghiêm trọng của dịch bệnh Covid-19, tình hình sản xuất kinh doanh và đời sống một bộ phận nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là người dân trong các khu cách ly, người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, lao động tự do... Sức chống chịu của nền kinh tế suy giảm mạnh; số lượng người lao động tạm ngừng việc, thiếu, mất việc làm gia tăng. Đời sống tinh thần, tâm lý của người dân bị nhiều tác động, nhất là tại các địa bàn thực hiện giãn cách xã hội và tăng cường giãn cách xã hội.

- Cơ cấu các ngành, lĩnh vực và nội ngành chuyển dịch chậm. Cơ cấu lại 3 lĩnh vực trọng tâm còn hạn chế. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chưa đạt tiến độ. Việc xử lý các ngân hàng yếu kém và các dự án, doanh nghiệp kém hiệu quả còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Công tác lập quy hoạch từ khi có Luật Quy hoạch (có hiệu lực từ năm 2019) đến nay vẫn còn chậm. Tinh giản biên chế chưa gắn với vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa chuyển biến rõ nét.

- Công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và đấu tranh, phòng, chống tội phạm còn nhiều thách thức, nhất là đối với tội phạm lừa đảo, tội phạm tài chính, tội phạm qua mạng.

Từ những kết quả đạt được và hạn chế, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ giải pháp chủ yếu những tháng cuối năm 2021 là:

(1) Chủ động theo dõi, dự báo sát tình hình quốc tế, trong nước, quyết liệt hành động, triển khai thực hiện hiệu quả, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra theo các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.

(2) Tập trung ưu tiên cho phòng, chống dịch Covid-19; nỗ lực cao nhất để kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của nhân dân; ngăn chặn, không để dịch lan rộng, nhất là các địa bàn đặc biệt quan trọng, các khu đô thị lớn, khu công nghiệp. Chủ động dự báo, hoàn thiện các kịch bản, phương án phòng, chống dịch phù hợp với tình hình mới. Hoàn thành Chiến lược tổng thể phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới.

(3) Khẩn trương rà soát, tháo gỡ nhanh các khó khăn, vướng mắc; xử lý các vấn đề tồn đọng, điểm nghẽn, giảm thiểu các thủ tục và chi phí trong sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu hàng hoá; tiếp tục đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người dân (thuế, phí, lãi suất…); cơ cấu lại một số ngành, lĩnh vực quan trọng và doanh nghiệp đang bị tác động trực tiếp bởi dịch Covid-19 như hàng không, du lịch để thích ứng với Covid-19, tạo nền tảng cho giai đoạn phục hồi các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp này từ năm 2022 trở đi. Có giải pháp bảo vệ các doanh nghiệp trong các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, cũng như tránh sự đổ vỡ của các tập đoàn kinh tế lớn (cả nhà nước và tư nhân), có thể dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền trong nền kinh tế. Chỉ đạo quyết liệt đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các dự án lớn, trọng điểm quốc gia. Chuẩn bị phương án khả thi phục hồi kinh tế - xã hội trong thời gian tới, nghiên cứu, xây dựng kịch bản tăng trưởng mới cho thời kỳ "hậu Covid-19", không để Việt Nam rơi vào suy thoái kinh tế và suy giảm các động lực tăng trưởng trong dài hạn.

(4) Thực hiện tốt Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 của Quốc hội; tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển, trong đó đề xuất Quốc hội xem xét dự án một Luật sửa một số Luật. Chính phủ, các bộ, ngành kịp thời sửa đổi các nghị định, thông tư theo thẩm quyền. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.

(5) Chăm lo sức khoẻ, đời sống của người dân, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục; trong đó dựa trên tình hình thực tế để đề xuất chính sách hỗ trợ phù hợp. Cho phép học sinh trở lại trường học bình thường ở những nơi an toàn, kiểm soát được dịch bệnh.

(6) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, triển khai quyết liệt ngoại giao vắc-xin; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nhất là trong phòng, chống dịch Covid-19, tạo không khí thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, sớm đưa nước ta trở về trạng thái bình thường mới.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2022

Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cho rằng, từ bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế đúc rút được thời gian qua, cần phải đổi mới tư duy, nhận thức đúng đắn hơn về phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh gắn với duy trì, phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh để xây dựng các phương án, kịch bản phù hợp, bảo đảm sát hợp, khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

2.1. Về mục tiêu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định, phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh Covid-19 hiệu quả để sớm mở cửa trở lại, tận dụng tốt các cơ hội thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với các giải pháp tổng thể kích thích nền kinh tế, hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động, không để suy giảm các động lực tăng trưởng trong dài hạn; bảo vệ các doanh nghiệp trong các lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế. Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế. Tiếp tục ưu tiên rà soát, hoàn thiện về thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng; đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chú trọng phát triển văn hoá, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là người có công, người nghèo, người yếu thế. Quản lý chặt chẽ đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, khơi thông các nguồn lực cho phát triển. Thực hiện nghiêm quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Chủ động tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao vắc-xin; làm tốt công tác thông tin, truyền thông, tạo đồng thuận xã hội.

Về các chỉ tiêu chủ yếu: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) phấn đấu đạt khoảng 6 - 6,5%; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; bội chi ngân sách nhà nước so với GDP khoảng 4%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân khoảng 5,5%; tỉ lệ lao động qua đào tạo khoảng 67%, trong đó có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 27 - 27,5%; tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) giảm khoảng 1 - 1,5%; tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 92%…

2.2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

(1) Tập trung thực hiện linh hoạt, hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Triển khai hiệu quả Chiến lược tổng thể về phòng, chống dịch Covid-19 để tạo điều kiện thuận lợi thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, điều hành các chính sách tài chính - tiền tệ linh hoạt, hiệu quả để hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá, lao động, thúc đẩy xuất khẩu, tiêu dùng nội địa, đẩy mạnh đầu tư. Tăng cường kỷ luật tài chính, quản lý thu, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, thu hồi nợ thuế, phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước; triệt để tiết kiệm các khoản chi ngay từ khâu dự toán, nhất là chi thường xuyên, đặc biệt là chi sự nghiệp có tính chất đầu tư; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, quản lý hoá đơn điện tử, áp dụng trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/7/2022. Huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội và ưu tiên bố trí nguồn ngân sách nhà nước để tập trung nâng cao năng lực hệ thống y tế và các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách khác. Phấn đấu tiếp tục giảm lãi suất cho vay, giám sát chặt chẽ tình hình phát sinh nợ xấu, bảo đảm an toàn hệ thống.

(2) Ưu tiên công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật, tập trung tháo gỡ khó khăn, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Tiếp tục thể chế hoá kịp thời, đầy đủ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII. Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp. Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hạn chế tối đa nợ đọng văn bản quy định chi tiết. Khẩn trương xây dựng, ban hành những văn bản pháp luật trong phòng, chống và khắc phục hậu quả dịch bệnh Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về ngân sách nhà nước để tăng cường vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, tăng tính chủ động của ngân sách địa phương. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, giảm thiểu rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ; chú trọng giải quyết các tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý để phát triển đồng bộ, ổn định, bền vững các loại thị trường, nhất là thị trường vốn, lao động, khoa học công nghệ, bất động sản. Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho hoạt động của các mô hình kinh doanh số, các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia; thử nghiệm một số mô hình, chính sách mới để phục hồi, phát triển mạnh một số lĩnh vực phù hợp như du lịch, vận tải, logistics… gắn với bảo đảm an toàn dịch bệnh ngay từ nửa đầu năm 2022.

(3) Thực hiện thực chất, hiệu quả hơn cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển kinh tế số, xã hội số. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công gắn với các dự án hạ tầng chiến lược. Hoàn thành phê duyệt đề án tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Quyết liệt, hiệu quả hơn nữa trong cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu và các dự án, doanh nghiệp kém hiệu quả. Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, tăng cường quản lý nợ công. Đẩy mạnh cơ cấu lại gắn với phát triển các ngành, lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ theo hướng khai thác hiệu quả không gian tăng trưởng mới và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Phục hồi các chuỗi sản xuất, cung ứng bị đứt gãy, tổ chức kết nối và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia. Cơ cấu lại, phục hồi và phát triển một số ngành, lĩnh vực quan trọng và doanh nghiệp đang bị tác động trực tiếp bởi dịch Covid-19, như: Thương mại, dịch vụ, logistics, vận tải, hàng không, du lịch...; khẩn trương khôi phục thị trường du lịch, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hành khách quốc tế, trong nước, hỗ trợ phù hợp các doanh nghiệp du lịch gắn với bảo đảm an toàn dịch bệnh.

(4) Đẩy mạnh xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, nhất là về giao thông, năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng thương mại và hạ tầng văn hoá, xã hội. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án kết cấu hạ tầng trọng điểm, tăng cường kết nối liên vùng, khu vực, quốc tế, nhất là các công trình hạ tầng giao thông quan trọng (như đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 1, cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ; dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành...). Phát triển hệ thống hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, nhất là các công trình thuỷ lợi, cảng cá, trung tâm nghề cá lớn, khu neo đậu tránh trú bão.

(5) Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Phê duyệt, triển khai Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; đưa học sinh trở lại trường học gắn với bảo đảm an toàn dịch bệnh, đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy và học trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh còn có thể kéo dài. Phê duyệt và triển khai các chiến lược, quy hoạch giáo dục nghề nghiệp. Thực hiện hiệu quả chính sách đào tạo, thu hút nguồn nhân lực khoa học công nghệ; đẩy nhanh thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển phong trào đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trên phạm vi toàn quốc, lấy doanh nghiệp làm trung tâm; xây dựng cơ chế thương mại hoá kết quả nghiên cứu; tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước.

(6) Thúc đẩy phát triển liên kết vùng, khu kinh tế và phát triển đô thị, kinh tế đô thị, đẩy nhanh tiến độ lập, phê duyệt các quy hoạch. Phấn đấu cơ bản hoàn thành việc phê duyệt trong năm 2022 các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chú trọng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng động lực tăng trưởng mới. Tiếp tục triển khai các kế hoạch, đề án về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị tăng trưởng xanh, đô thị thông minh bền vững; lấy đô thị làm động lực phát triển vùng; phấn đấu tỉ lệ đô thị hoá đạt 41,5 - 42%.

(7) Gắn kết hài hoà giữa phát triển kinh tế với văn hoá, xã hội; phát huy giá trị văn hoá, con người Việt Nam; chú trọng thực hiện chính sách người có công, bảo trợ xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; nâng cao năng lực hệ thống y tế. Triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030. Tổ chức phù hợp các hoạt động văn hoá, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn, bảo đảm an toàn dịch bệnh. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách người có công, bảo trợ xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, giảm nghèo đa chiều, bền vững; gia tăng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm tự nguyện. Tiếp tục rà soát, ban hành và triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động; triển khai các giải pháp phục hồi và ổn định thị trường lao động, trọng tâm là các chính sách hỗ trợ nhằm "giữ chân" người lao động, thu hút lao động quay trở lại làm việc. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội; khẩn trương rà soát, không để sót, để lọt đối tượng, địa bàn cần hỗ trợ. Nhanh chóng triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chú trọng phát triển nhà ở cho công nhân, xây dựng thiết chế văn hoá ở các khu công nghiệp. Tổ chức thành công các sự kiện thể thao quốc tế, trong nước quan trọng, bảo đảm tiết kiệm, an toàn dịch bệnh. Nâng cao năng lực hệ thống y tế, bảo đảm an ninh y tế, nhất là tuyến cơ sở ngay trong năm 2022. Củng cố, hoàn thiện và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng, hình thành hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh đồng bộ ở các cấp.

(8) Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Hoàn thiện, trình ban hành Luật Đất đai (sửa đổi), Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch sử dụng đất quốc gia 5 năm 2021 - 2025; sớm hoàn thành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai. Huy động và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực từ đất đai, tài nguyên; chú trọng bảo vệ, phát triển các loại rừng. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động các biện pháp phòng ngừa, ứng phó, giảm nhẹ hậu quả thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước; thúc đẩy hợp tác trong quản lý, sử dụng nguồn nước xuyên biên giới. Chú trọng các giải pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, thực hiện các cam kết theo Thoả thuận Paris. Huy động nguồn lực, tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng Sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

(9) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực kiến tạo phát triển; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính đi đôi với tạo dựng môi trường đổi mới sáng tạo. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tạo chuyển biến rõ nét trong năm 2022. Triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2026. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực. Khẩn trương rà soát, hoàn thành kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy bên trong các cấp, các ngành; tiếp tục sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã. Tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đi đôi với xác định vị trí việc làm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, thực hiện tốt văn hoá công vụ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm sai phạm.

(10) Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển đất nước. Tiếp tục nghiên cứu, theo dõi, nắm chắc tình hình, tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý kịp thời, linh hoạt, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh xã hội, an ninh công nhân. Tập trung trấn áp các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ; chú trọng phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh, sự cố môi trường, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.

(11) Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, góp phần củng cố vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tích cực triển khai các hoạt động đối ngoại, làm sâu sắc hơn quan hệ song phương với các đối tác, gia tăng tin cậy chính trị, đan xen lợi ích, xử lý hài hoà quan hệ với các nước lớn. Tăng cường các hoạt động ngoại giao cấp cao, khai thác hiệu quả các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao vắc-xin; tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ thiết thực cho phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Làm tốt hơn nữa công tác thông tin đối ngoại, ngoại giao văn hoá và bảo hộ công dân ở nước ngoài.

(12) Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội. Tập trung thông tin tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các sự kiện lớn của đất nước; chú trọng tuyên truyền, cổ vũ những gương người tốt, việc tốt; kịp thời phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, không để đối tượng thù địch lợi dụng; đấu tranh ngăn chặn các thông tin xấu, độc, xử lý nghiêm các vi phạm. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đề ra.

3. Về dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024 và lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW

Ban Chấp hành Trung ương Đảng cơ bản đồng ý các chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024. Căn cứ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Ban cán sự đảng Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định các giải pháp điều chỉnh linh hoạt chính sách tài khoá, tiền tệ phù hợp nhằm huy động nguồn lực để hỗ trợ kịp thời cho các doanh nghiệp, người dân, tạo điều kiện khôi phục sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, hạn chế tác động đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW; giao Ban cán sự đảng Chính phủ căn cứ tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2022 và dự kiến những năm tiếp theo, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Bộ Chính trị, Trung ương việc thực hiện cải cách chính sách tiền lương vào thời điểm phù hợp; nghiên cứu hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng thu nhập thấp. Cho phép các địa phương được sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư để chi cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong năm 2021 và năm 2022.

4. Về kết quả công tác phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua

4.1. Tình hình dịch bệnh trên thế giới và Việt Nam

- Sau gần 2 năm kể từ khi xuất hiện, dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường trên phạm vi toàn cầu, xuất hiện liên tục các biến chủng mới. Làn sóng dịch lần này biến chủng Delta chiếm chủ đạo đã bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu, kể cả ở các nước có tỉ lệ tiêm chủng cao và có năng lực y tế. Đến ngày 09/10/2021, thế giới ghi nhận trên 238 triệu ca mắc Covid-19; trong đó có trên 4,86 triệu ca tử vong. Mỹ là quốc gia chịu tác động nặng nề nhất với số ca mắc và tử vong cao nhất[2]. Tại khu vực Đông Nam Á, dịch bệnh bùng phát rất mạnh với số ca mắc và tử vong rất cao; trong đó In-đô-nê-xi-a ghi nhận số ca mắc và tử vong cao nhất, tiếp theo là Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a[3].

- Từ đầu năm 2020 đến nay, Việt Nam đã trải qua 3 đợt dịch và hiện nay đang ở đợt dịch thứ 4. Quy mô, địa bàn và mức độ lây lan qua mỗi đợt đều có xu hướng phức tạp hơn. Đợt dịch thứ 4 đã kéo dài hơn 5 tháng, ghi nhận hơn 836.134 ca mắc, hơn 20.442 ca tử vong. Dịch bệnh xuất hiện với đa nguồn lây, đa chủng, đa ổ bệnh và đã tấn công vào các khu công nghiệp, khu vực có mật độ dân cư cao làm số ca mắc tăng rất nhanh trong thời gian ngắn. Dịch bùng phát tại hầu hết các địa phương trên toàn quốc; trong đó một số tỉnh, thành phố đã phải thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội liên tục trên phạm vi rộng trong thời gian dài.

Đến nay, đợt dịch thứ 4 cơ bản được kiểm soát, số ca mắc hằng ngày đã giảm nhưng vẫn ở mức cao. Một số tỉnh, thành phố vẫn có các ca nhiễm cộng đồng không rõ nguồn lây, tiềm ẩn nguy cơ dịch bùng phát trở lại và lây lan trên diện rộng tại bất cứ khi nào, ở bất cứ đâu.

4.2. Kết quả công tác phòng, chống dịch

- Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống dịch với tinh thần "chống dịch như chống giặc" và yêu cầu đặt sức khoẻ, tính mạng của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo và đề ra những định hướng lớn, các phương châm, đường lối, chiến lược về phòng, chống dịch. Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 đã chỉ đạo đồng bộ, tổng thể công tác phòng, chống dịch, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự xã hội, huy động và vận động xã hội, sản xuất và lưu thông hàng hoá, bảo đảm nguồn lực và thông tin truyền thông.

- Các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương căn cứ quy định, chỉ đạo của Trung ương đã khẩn trương, tích cực, chủ động, linh hoạt bám sát tình hình và áp dụng các biện pháp phù hợp theo thẩm quyền. Các địa phương đã thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo tinh thần các chỉ thị của Chính phủ; kết hợp hài hoà giữa lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt và phân cấp, phân quyền trong tổ chức thực hiện. Các nhiệm vụ về bảo đảm an sinh xã hội, tiếp cận, truy vết, cách ly, chăm sóc y tế cho người dân được giải quyết ngay tại cơ sở với phương châm đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng. Nhiều địa phương đã có cách làm hay, mô hình hiệu quả, huy động hệ thống chính trị, các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia phòng, chống dịch.

- Đã ban hành nhanh, kịp thời các hướng dẫn về cách ly, khoanh vùng, dập dịch và xác định các địa bàn nguy cơ để triển khai các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp. Nhiều địa phương đã triển khai quyết liệt việc xét nghiệm, tăng cường năng lực xét nghiệm, thực hiện xét nghiệm thần tốc, xét nghiệm nhiều vòng ở các địa bàn nguy cơ cao, rất cao; tầm soát, sàng lọc tại các địa bàn nguy cơ và bình thường mới. Đã ưu tiên điều trị giảm tử vong bằng việc triển khai đồng bộ các giải pháp; triển khai các mô hình chăm sóc người nhiễm tại nhà, huy động cộng đồng tham gia... ở các địa phương có nhiều người nhiễm; đã huy động, điều động một lực lượng lớn nhân lực của y tế, quân đội, công an với gần 300.000 lượt cán bộ của Trung ương và 34 địa phương hỗ trợ cho Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các địa phương khác đang có dịch[4]. Các lực lượng hỗ trợ đã cùng với lực lượng tại chỗ phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch.

- Đặc biệt quan tâm và quyết liệt chỉ đạo, vận động, tác động để có vắc-xin tiêm chủng miễn phí cho Nhân dân; thành lập Quỹ vắc-xin; tích cực triển khai ngoại giao vắc-xin[5]; chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, sản xuất vắc-xin trong nước[6]. Quan tâm đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng, chống dịch. Hệ thống khám, chữa bệnh đã được kết nối đến tất cả các quận, huyện; kết nối điều hành chỉ huy tới gần 100% các xã, phường, thị trấn.

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ban dân vận các cấp, các đoàn thể, địa phương tổ chức vận động các tập thể, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ an sinh xã hội cho người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19[7]. Các nước, tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, kiều bào đã có đóng góp lớn bằng tiền và hiện vật với tổng giá trị nhiều chục nghìn tỉ đồng cho công tác phòng, chống dịch. Xuất hiện nhiều tấm gương tương thân, tương ái thể hiện truyền thống nhân văn tốt đẹp của dân tộc ta.

- Các cơ quan báo chí, truyền thông, hệ thống thông tin cơ sở, mạng xã hội, mạng viễn thông đã thông tin tương đối kịp thời, chính xác, đầy đủ về công tác phòng, chống dịch.

- Công tác bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm triển khai các chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Chỉ đạo xây dựng chính sách cho trẻ mồ côi do dịch bệnh Covid-19.

4.3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

4.3.1. Tồn tại, hạn chế

(1) Công tác dự báo có lúc chưa sát với thực tiễn. Công tác chỉ đạo, điều hành trong đầu đợt dịch thứ 4 có nơi, có lúc còn lúng túng, bị động, chưa thống nhất, chưa kịp thời điều chỉnh khi tình hình thay đổi; bộc lộ nhiều điểm yếu của hệ thống và năng lực quản lý của các cấp.

(2) Các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát được hết các tình huống ứng phó với bùng phát của dịch bệnh; nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, trong đó một số văn bản chưa sát thực tiễn, thiếu khả thi, có phần dành thuận lợi cho cơ quan quản lý và khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.

(3) Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu. Một số nơi chưa thực hiện theo đúng quy định, hướng dẫn của các cơ quan quản lý cấp trên; chưa ứng xử thực sự đúng mực trong xử lý tình huống nảy sinh, gây bức xúc, thiếu thiện cảm của người dân với chính quyền.

(4) Hệ thống y tế bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém, nhất là y tế cơ sở và y tế dự phòng, chưa đáp ứng được yêu cầu khi dịch xảy ra. Hầu hết các trang thiết bị y tế, thuốc, sinh phẩm, vắc-xin... đều phải nhập khẩu do chưa sản xuất được trong nước nên dẫn đến chưa kịp thời, bị động, chi phí cao. Không bảo đảm phương châm "4 tại chỗ" tại nhiều địa phương.

(5) Công tác truyền thông chưa được chuẩn bị kỹ, cơ chế cung cấp thông tin, nội dung, phương thức, lực lượng thông tin có lúc chưa thật hợp lý; có thời điểm bị động, lúng túng, chưa kịp thời, nhất là trong thời gian đầu của đợt dịch, tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch, bất mãn, chống phá. Ứng dụng công nghệ thông tin còn bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao.

(6) Công tác an sinh xã hội nhiều nơi chưa được kịp thời. Việc giải ngân các gói an sinh xã hội còn chậm, thủ tục hành chính còn phức tạp, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.

4.3.2. Nguyên nhân

(1) Nguyên nhân khách quan: Đây là một đại dịch mới, chưa có tiền lệ, ảnh hưởng lớn, các nước chưa có nhiều kinh nghiệm trong phòng, chống. Đợt dịch thứ 4 với biến chủng Delta lây nhiễm nhanh, mạnh, khó kiểm soát. Dịch tấn công vào các khu công nghiệp, khu vực có mật độ dân cư cao làm số người nhiễm tăng rất nhanh trong thời gian ngắn gây áp lực lớn cho hệ thống y tế, gây quá tải cục bộ, dẫn đến số tử vong tăng trong thời gian ngắn. Nguồn vắc-xin nước ta phụ thuộc vào nhập khẩu, trong khi vắc-xin khan hiếm trên toàn cầu.

(2) Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức về mức độ nguy hiểm của dịch bệnh và dự báo tình hình chưa đúng, chưa sát, nên còn chủ quan, lơ là khi chưa có dịch; hoang mang, lo lắng, mất bình tĩnh khi có dịch. Trong lãnh đạo, chỉ đạo tại một số nơi, một số cấp còn lúng túng, chưa kịp thời chuẩn bị cho các tình huống, kịch bản xấu. Công tác quản lý nhà nước, cơ chế, chính sách và việc hướng dẫn mua sắm vật tư, trang thiết bị, đặc biệt là vắc-xin có nhiều bất cập. Tiếp cận và độ bao phủ vắc-xin chậm. Có nơi, có lúc sự phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo giữa các địa phương chưa chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả, thiếu nhất quán. Có địa phương chấp hành chưa nghiêm các chỉ đạo của Trung ương. Sự phối hợp giữa các lực lượng chưa thực sự nhịp nhàng, đồng bộ. Hệ thống y tế, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng chưa đáp ứng năng lực phòng, chống dịch; chưa có chính sách phù hợp đối với cán bộ y tế cấp cơ sở. Chưa chủ động được việc sản xuất vật tư, trang thiết bị, thuốc, sinh phẩm, vắc-xin. Công tác truyền thông giai đoạn đầu còn chậm trễ. Ứng dụng công nghệ thông tin chưa khoa học, cục bộ, thiếu thống nhất, đồng bộ. Chưa bảo đảm đủ nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là đối với các địa phương khi thực hiện giãn cách kéo dài.

5. Mục tiêu, quan điểm, giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 thời gian tới

Dự báo, trong năm 2022, tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở nước ta còn diễn biến phức tạp, khó lường; có thể còn bùng phát các đợt dịch mới với những biến chủng mới, lây lan nhanh hơn và nguy hiểm hơn. Cần phải có lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19.

5.1. Mục tiêu: Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, từng bước đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới; bảo vệ tối đa sức khoẻ, tính mạng của người dân; khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Phấn đấu bao phủ vắc-xin 2 mũi cho người dân từ 18 tuổi trở lên và cho trẻ em theo quy định nhanh nhất, sớm nhất có thể.

5.2. Quan điểm: (1) Tiếp tục đặt sức khoẻ, tính mạng người dân lên trên hết, trước hết; phát huy vai trò người dân là trung tâm, là chủ thể trong phòng, chống dịch. (2) Thống nhất trong toàn quốc việc thực hiện thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 với lộ trình từng bước, chặt chẽ, phù hợp, khả thi; vừa phòng, chống dịch hiệu quả vừa khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm an dân, an sinh, trật tự, an toàn xã hội. (3) Phòng dịch là chiến lược, thường xuyên, lâu dài; tiêm chủng, xét nghiệm, cách ly, điều trị là điều kiện tiên quyết; tiếp tục thực hiện yêu cầu 5K, đề cao ý thức người dân.

5.3. Một số giải pháp lớn

(1) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; huy động cả hệ thống chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong phòng, chống dịch và khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội. Làm tốt hơn nữa công tác dự báo, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện; phát huy trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền các cấp, nhất là ở cơ sở; đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong phòng, chống dịch. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát và phát huy tính tự chủ, linh hoạt, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương.

(2) Triển khai hiệu quả Chiến lược tổng thể về phòng, chống dịch Covid-19 để tạo điều kiện thuận lợi thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Các địa phương chủ động xây dựng và tổ chức lộ trình thích ứng an toàn trên cơ sở độ bao phủ vắc-xin, năng lực đáp ứng của hệ thống y tế và diễn biến dịch bệnh tại từng địa phương; từng bước nới lỏng các yêu cầu phòng, chống dịch với lộ trình cụ thể, khả thi để phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm kiểm soát dịch bệnh.

(3) Tập trung đầu tư, từng bước hiện đại hoá, nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng, y tế cơ sở. Bảo đảm an ninh y tế, chú trọng thúc đẩy nghiên cứu y sinh học, phát triển công nghiệp dược, vắc-xin, sinh phẩm, thuốc điều trị, trang thiết bị y tế để chủ động trong phòng, chống dịch, kể cả đối với các loại dịch bệnh nguy hiểm, mới nổi.

Tiếp tục nhập khẩu vắc-xin và thúc đẩy sản xuất vắc-xin trong nước để từng bước chủ động nguồn cung, đáp ứng nhu cầu năm 2022 và các năm tiếp theo; khuyến khích huy động nguồn lực địa phương, doanh nghiệp để mua vắc-xin nhưng phải quản lý chặt chẽ về cấp phép, bảo đảm chất lượng, bảo quản và tổ chức tiêm miễn phí, an toàn, hiệu quả. Đẩy nhanh Chiến dịch tiêm chủng vắc-xin phòng Covid-19 toàn quốc, thực hiện tiêm mũi tăng cường và triển khai kế hoạch tiêm vắc-xin cho trẻ em thận trọng, an toàn, khoa học; nghiên cứu việc xã hội hoá tiêm chủng vào thời điểm thích hợp.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách huy động nguồn lực cho phòng, chống dịch, thúc đẩy xã hội hoá, kết hợp công tư; tiếp tục đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho hệ thống y tế đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch; có chính sách đặc thù, đãi ngộ đối với lực lượng y tế, lực lượng tuyến đầu có nhiều đóng góp, hy sinh.

(4) Đẩy mạnh thực hiện các chính sách, có giải pháp tổng thể, xã hội hoá công tác an sinh xã hội trong thời gian tới. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, sang chấn tâm lý của người dân; chú ý trẻ mồ côi, người mất việc, mất thu nhập do đại dịch; khắc phục các bất cập trong việc tổ chức học trực tuyến. Bảo đảm giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm phòng, chống dịch và tham nhũng, tiêu cực.

(5) Tiếp tục phát huy vai trò trung tâm và nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất và thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch. Các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ và thống nhất áp dụng các biện pháp quản lý, kiểm soát dịch bệnh; không ban hành các biện pháp trái với quy định của Trung ương, nhất là trong hoạt động giao thông vận tải, lưu thông hàng hoá, không để xảy ra ách tắc cục bộ; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân di chuyển bảo đảm an toàn, an ninh và các yêu cầu phòng, chống dịch.

(6) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng, chống dịch, thống nhất một ứng dụng công nghệ bảo đảm kết nối, liên thông, thuận lợi khi sử dụng và an ninh, an toàn thông tin. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền tạo đồng thuận, niềm tin xã hội; nâng cao nhận thức, tinh thần tự giác, chủ động, tích cực của các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp và người dân trong thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị, căn cứ ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo tiếp thu, hoàn chỉnh ban hành Kết luận; chỉ đạo Ban cán sự đảng Chính phủ hoàn chỉnh các báo cáo trên để trình Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XV.

Chú thích:

[1] Báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021 và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022; Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; về việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá XII; Báo cáo kết quả phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua; quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.

[2] Với trên 45 triệu ca mắc, trên 732.477 ca tử vong.

[3] In-đô-nê-xi-a ghi nhận hơn 4,2 triệu ca mắc, 142.000 tử vong, mỗi ngày ghi nhận từ 1.500 - 2.000 ca mắc mới, 110 ca tử vong. Phi-líp-pin ghi nhận hơn 2,5 triệu ca mắc, 38.000 tử vong, mỗi ngày ghi nhận từ 15.000 - 20.000 ca mắc mới, 190 ca tử vong. Ma-lai-xi-a ghi nhận hơn 2,2 triệu ca mắc, 26.000 tử vong, mỗi ngày ghi nhận khoảng 12.000 ca mắc mới, 230 ca tử vong.

[4] Ngành Y tế đã huy động gần 20.000 cán bộ; lực lượng quân đội huy động hơn 133.000 cán bộ; công an huy động hơn 126.000 cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ, tham gia phòng, chống dịch; huy động lực lượng y tế Trung ương và 12 tỉnh, thành phố hỗ trợ công tác phòng, chống dịch thành phố Hà Nội; lực lượng quân y đã hỗ trợ và triển khai 531 trạm y tế lưu động tại Thành phố Hồ Chí Minh...

[5] Đã tiếp nhận 52,2 triệu liều vắc-xin và tiêm được 45,1 triệu liều (đến ngày 03/10/2021, tỉ lệ tiêm ít nhất 1 mũi cho người từ 18 tuổi trở lên là 48%). Tổng số vắc-xin đã có hợp đồng mua, thoả thuận viện trợ và tài trợ trong năm 2021 là 189,8 triệu liều (dự kiến tháng 10/2021 sẽ tiếp nhận trên 50 triệu liều). Mặc dù xuất phát điểm chậm, song tỉ lệ tiêm ít nhất một mũi vắc-xin của Việt Nam gia tăng nhanh chóng, nhanh hơn một số nước trong khu vực và mức trung bình của thế giới.

[6] Đã có 2 vắc-xin được thử nghiệm lâm sàng; 2 vắc-xin chuyển giao công nghệ với Mỹ, Nga và 2 vắc-xin có thoả thuận chuyển giao công nghệ với Trung Quốc, Cu-ba.

[7] Riêng Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã vận động được kinh phí, hiện vật tương đương 19.310 tỉ đồng; thực hiện phân bổ, hỗ trợ các tỉnh, thành phố khoảng 13.106 tỉ đồng.