BIỂN ĐÔNG: CUỘC CHIẾN CÔNG HÀM VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM (Phần II)
BBT
BIỂN ĐÔNG: CUỘC CHIẾN CÔNG HÀM VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM (Phần II)
(Tiếp Phần I)
1.4. Hệ quả
Kết quả rõ ràng nhất của cả hai cuộc chiến công hàm là sự củng cố thêm nữa quyết tâm của các bên nhằm khẳng định và thực hiện mục tiêu đề ra của mình. Một là, Trung Quốc khăng khăng và đẩy mạnh các hành động quân sự hóa Biển Đông, biến hóa “đường lưỡi bò” thành đòi hỏi “Tứ Sa” lảng tránh phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016, quyết biến Biển Đông thành “ao nhà” của Bắc Kinh. Hai là, các nước ASEAN kiên trì đấu tranh pháp lý và trên thực địa nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của mình tại Biển Đông; Ba là, vấn đề Biển Đông trở thành quốc tế hóa rõ ràng và mạnh mẽ hơn khi có các nước khác ngoài khu vực tham gia cuộc chiến công hàm: Mỹ, Australia, Anh, Pháp, Đức có công thư, công hàm phản đối các hành động ngang ngược của Trung Quốc, phủ quyết “quyền lịch sử” của Bắc Kinh tại Biển Đông, Ấn Độ, Nhật Bản... có các tuyên bố ủng hộ quan điểm của một số nước ASEAN.
Tình hình Biển Đông nóng lên do: các hoạt động phi pháp, đòi chủ quyền trên thực địa của Trung Quốc (các cuộc thăm dò khảo sát tại các EEZ của các nước, các cuộc tập trận bắn đạn thật tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đưa thêm vũ khí ra Hoàng Sa[1]) và phản ứng của các nước trong và ngoài khu vực (các cuộc tập trận của Mỹ, tập trận chung Mỹ - Nhật Bản, Mỹ - Australia...).
Các nước trong và ngoài khu vực “xích lại” gần nhau hơn cả về quan điểm lẫn hành động thực địa phản đối Trung Quốc. Dư luận trong và ngoài khu vực nhận rõ bản chất “bành trướng” của Trung Quốc, ủng hộ quan điểm của các nước ASEAN, các hành động của Mỹ, Australia, Nhật Bản, Ấn Độ... về châu Á - Thái Bình Dương tự do và rộng mở tại khu vực Biển Đông.
Công hàm của Australia là “cú đánh trực diện từ Canberra tới Bắc Kinh”, gián tiếp giúp tăng cường sức mạnh đàm phán của ASEAN với Trung Quốc về dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử về Biển Đông (COC) trong khu vực.
2. Tác động đến Việt Nam
Việt Nam là một trong các bên tham gia tích cực vào cuộc chiến công hàm, cả lần một lẫn lần hai. Tham gia cuộc chiến, Việt Nam có hai mục tiêu chủ yếu: bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước sự xâm lược của Trung Quốc; và xác định chủ quyền theo quy định của UNCLOS về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam tại các khu vực ở Biển Đông. Nhìn chung, nội dung của 3 công hàm năm 2020 của Việt Nam đều liên quan đến hai mục tiêu trên. Trọng tâm của Công hàm số 22/HC-2020 là phản đối công hàm CML/11/2020 của Trung Quốc, thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa: Một là, Việt Nam phản đối các yêu sách của Trung Quốc, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông; Hai là, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế; Ba là, Việt Nam có cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo đó, vùng biển của các cấu trúc luôn nổi tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phải được xác định phù hợp với Điều 121(3) của UNCLOS 1982; các nhóm đảo tại Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không có đường cơ sở được vẽ bằng cách nối liền các điểm ngoài cùng của các cấu trúc xa nhất; các bãi ngầm, hoặc cấu trúc lúc chìm lúc nổi không phải là đối tượng thụ đắc lãnh thổ và không có vùng biển riêng. Việt Nam phản đối các yêu sách ở Biển Đông vượt quá những giới hạn được quy định tại UNCLOS 1982, trong đó có yêu sách “quyền lịch sử”, các yêu sách này đều không có giá trị pháp lý.
Trọng tâm quan trọng nhất trong hai công hàm 24/HC-2020, 25/HC-2020 của Việt Nam - “Việt Nam lưu ý rằng theo Điều 76 (10) và Phụ lục II của UNCLOS 1982 mà cả Việt Nam và Malaysia là thành viên, hoạt động của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa không làm phương hại đến các vấn đề liên quan đến phân định ranh giới giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền”, là nhằm nhắc tới vai trò của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trong việc nếu có công nhận thềm lục địa mở rộng của Malaysia thì cũng không được vượt quá các quyền của Việt Nam trong việc phân định ranh giới biển giữa Việt Nam và Malaysia.
Cần làm rõ thêm một chi tiết rất quan trọng, lâu nay nhiều người tại Việt Nam và nước ngoài từng băn khoăn, liên quan đến tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam trong các cuộc chiến công hàm. Rất nhiều lần (đặc biệt là Công hàm số CML/42/2020) Trung Quốc nhắc đến “công hàm Phạm Văn Đồng” để “xác nhận” rằng, Việt Nam đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu và luật gia trong và ngoài nước, trong những năm gần đây, đã chỉ rõ rằng, không có cơ sở pháp lý chính đáng nào biện minh cho “lập luận” trên của Bắc Kinh. Quan điểm chính thức của Việt Nam về Công thư Phạm Văn Đồng đã được đề cập rõ trong Sách trắng về Chủ quyền của Việt Nam đối với Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1979, trong các tài liệu của Việt Nam gửi đến và được lưu hành tại LHQ số A/68/942 và A/72/692[2]. Đó là: (i) Công hàm (thực chất là Công thư) của cố Thủ tướng là văn bản ngoại giao; (ii) nội dung chính của công thư là Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư của Trung Quốc, không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa, vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa; (iii) vào thời điểm công thư Phạm Văn Đồng được gửi đến Trung Quốc thì Hoàng Sa và Trường Sa đang là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa và họ đang quản lý, chưa thuộc chủ quyền của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (do Phạm Văn Đồng khi đó là Thủ tướng) cũng như không thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà Bắc Kinh đã tự liệt kê vào lãnh thổ của họ với tên gọi Tây Sa, Nam Sa; (iv) vì thế công thư của Việt Nam Dân chủ cộng hòa không có giá trị chủ quyền với Tây Sa, Nam Sa theo cách gọi của Trung Quốc. Trên thực tế, đến nay không nước nào trên thế giới công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Cuộc chiến giành lại Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam sẽ là cuộc chiến trường kỳ và gian khổ. Cuộc chiến công hàm 1.0 và 2.0 là một trong những giai đoạn và biện pháp góp phần vào thắng lợi cuối cùng cho cuộc chiến lâu dài trên.
Kết quả của hai cuộc chiến công hàm, bước đầu, đã có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến cuộc đấu tranh của Việt Nam trong các vấn đề phức tạp tại Biển Đông. Cuộc chiến đã tăng cường lực lượng, cùng với Việt Nam, phản đối và bác bỏ những luận điểm chiếm đóng trái phép các thực thể tại Biển Đông của Trung Quốc. Việc tham gia của Mỹ, Australia, Anh, Pháp, Đức vào cuộc chiến công hàm, với những bác bỏ công khai “quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với các thực thể và vùng nước trong cái gọi là đường chín đoạn hay đường lưỡi bò của Trung Quốc, cộng với những tuyên bố của Ấn Độ, Nhật Bản... theo xu hướng trên đẩy Trung Quốc ngày càng cô lập trên trường quốc tế. “Từ nay Việt Nam không “cô đơn” trong vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc”.
Ưu tiên trong sách lược hiện nay của Việt Nam và ASEAN là việc tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982. TS. Bec Strating thuộc Đại học La Trobe (Úc) nhận định việc (Canberra) đệ trình công hàm lên LHQ vào thời điểm này “rất có ý nghĩa”, Úc đã bác bỏ cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Quốc trên Biển Đông dựa theo phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài quốc tế. Hành động lần này của Úc là một chiến thắng cho những ai thượng tôn luật pháp quốc tế trên Biển Đông. TS. Sascha-Dominik Dov Bachmann - giáo sư tại Trường luật Canberra, ĐH Canberra (Úc) khẳng định: “Đây có thể được xem là sự đẩy lùi dành cho việc bành trướng của Trung Quốc về yêu sách biển ở Đông Nam Á”[3].
Trong cuộc chiến công hàm 2.0, Việt Nam lần đầu tiên đưa ra “Công hàm Biển Đông “mới mẻ, chưa từng có”. Theo Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, có ba điểm mới trong công hàm này: (i) Các thực thể đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, phải được xác định hiệu lực theo Điều 121, Khoản 3, tức là những đảo nào không thích hợp cho con người ở và không có đời sống kinh tế riêng, như các thực thể trong hai quần đào này, thì không có vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa 200 hải lý như Công ước Luật biển quy định, mà chỉ có tối đa 12 hải lý; (ii) Những bãi cạn lúc chìm, lúc nổi hoặc hoàn toàn chìm, không phải là đối tượng của quyền thụ đắc lãnh thổ; (iii) Trung Quốc nói những bãi cạn nằm trên thực địa của Việt Nam, của Philippines, cũng như của Malaysia là phần lãnh thổ của Trung Quốc là không đúng, hơn nữa, họ nói chủ quyền lịch sử của Trung Quốc nằm trong trong đường lưỡi bò (hay bản đồ đường 9 đoạn) cũng là hoàn toàn sai. Đây là những nội dung mà chúng ta nêu rõ quan điểm và là nội dung chúng ta có thể đưa ra các cơ quan tài phán quốc tế[4].
Kết luận
Những hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông thời gian gần đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc chiến công hàm lần hai (2.0) xung quanh các vấn đề an ninh, chủ quyền của các nước trong khu vực. Cuộc chiến lần này còn có các nước ngoài khu vực tham gia như Mỹ, Australia, Anh, Pháp, Đức.
Cuộc chiến thể hiện rõ rằng, phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016 có ý nghĩa quan trọng. Luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982, cơ chế hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ với việc cho phép các nước ven biển mở rộng vùng đặc quyền kinh tế ra 350 hải lý... là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để giải quyết những tranh chấp liên quan đến các nước ven biển, trong đó có tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước ASEAN tại Biển Đông.
Việc giải quyết những vấn đề tranh chấp không thể thành công nếu chỉ sử dụng các cơ chế đơn phương với các luật lệ “ao nhà”. Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi rất đúng khi khẳng định rằng, đối thoại là “cách tốt nhất” để giải quyết xung đột, đồng thời nêu bật “nguyên tắc nhất quán” được Indonesia đề cao trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và tranh giành quyền lực ở Biển Đông là “tôn trọng luật pháp quốc tế”[5].
Việt Nam luôn thể hiện tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế và dựa vào đó để đấu tranh bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của mình đối với phần lãnh thổ và các thực thể vốn thuộc chủ quyền của mình tại Biển Đông. Cuộc chiến công hàm 2.0 có những ảnh hưởng và tác động nhiều mặt đến cuộc đấu tranh của Việt Nam tại Biển Đông. Theo GS. Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales, Australia, việc Malaysia đệ trình yêu sách về thềm lục địa mở rộng ở phía bắc Biển Đông lên LHQ tháng 12/2019 đã mở ra khả năng hình thành một mặt trận pháp lý thống nhất có sự tham gia của Malaysia, Philippines, Việt Nam và Indonesia để phản đối các yêu sách sai trái của Trung Quốc. Mặt trận này còn được sự hỗ trợ của một số nước ngoài khu vực, khi họ tham gia cuộc chiến công hàm lần 2 như Mỹ, Australia, Anh, Pháp, Đức.
Cuộc chiến công hàm 2.0 đem lại nhiều khả năng hơn cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh trong thời gian tới. Tuy nhiên, dù có thuận lợi hơn, thậm chí cả thắng lợi, giống như thắng lợi của Philippines năm 2016, trên mặt trận ngoại giao, pháp lý, cuộc chiến của Việt Nam vẫn rất khó khăn và kéo dài. Với một đối thủ luôn có những chiến lược, chiến thuật biến đổi khó lường và tham vọng độc chiếm Biển Đông thì nhiệm vụ đấu tranh ảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam vẫn rất gian nan. Việc tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của dư luận khu vực và quốc tế trong cuộc đấu tranh của Việt Nam là rất quan trọng. Để có được thành tựu cụ thể, Việt Nam cần có chiến lược khôn khéo, phù hợp, trong thế cân bằng lực lượng khu vực. Nhân tố quyết định để Việt Nam gìn giữ chủ quyền vẫn là sự đoàn kết nhất trí nội bộ trong việc lập ra và thực hiện các quyết sách lớn. Quan trọng hơn cả, Việt Nam cần phải tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia./.
Chú thích:
[1] Việt Anh (2020), Việt Nam phản đối các bên điều vũ khí ra Hoàng Sa, https://vnexpress.net/viet-nam-phan-doi-cac-ben-dieu-vu-khi-ra-hoang-sa-4149693.html, Truy cập ngày 20/8/2020.
[2] Việt Anh (2020), Việt Nam phản đối các bên điều vũ khí ra Hoàng Sa, https://vnexpress.net/viet-nam-phan-doi-cac-ben-dieu-vu-khi-ra-hoang-sa-4149693.html, Truy cập ngày 20/8/2020.
[3] Nguyễn Hồng Thao (2020), Công hàm Biển Đông của Úc là khởi đầu đẩy lùi việc bành trướng của Trung Quốc https://tuoitre.vn/cong-ham-bien-dong-cua-uc-la-khoi-dau-day-lui-viec-banh-truong-cua-trung-quoc-20200726075753685.htm, Truy cập ngày 26/07/2020.
[4] VN: Công hàm Biển Đông ‘mới mẻ, chưa từng có’ https://www.datviet.com/vn-cong-ham-bien-dong-moi-me-chua-tung-co/, Truy cập: 13/4/2020.
[5] Hồng Phúc, 2020, Ngoạ trưởng Indonesia: Đối thoại là cách duy nhất giải quyết xung đột ở Biển Đông, Trung Quốc cần tôn trọng UNCLOS, https://baoquocte.vn/ngoai-truong-indonesia-doi-thoai-la-cach-duy-nhat-giai-quyet-xung-dot-o-bien-dong-trung-quoc-can-ton-trong-unclos-120654.html, Truy cập: 01/08/2020.
