BIỂN ĐÔNG: CUỘC CHIẾN CÔNG HÀM VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM ( Phần I)
BBT
BIỂN ĐÔNG: CUỘC CHIẾN CÔNG HÀM VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM ( Phần I)
Những năm gần đây, Biển Đông đã và đang là một trong những điểm nóng địa - chính trị quy mô khu vực và toàn cầu. Nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực đang bị cuốn vào cuộc đấu tranh giành pháp lý, chủ quyền, quyền tự do hàng hải... Cuộc chiến công hàm đang là chủ điểm nổi bật trong cuộc chiến pháp lý nhằm biến vùng biển này dần trở thành một khu vực hòa bình, tự do đi lại trong châu Á - Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Những diễn biến, hệ quả của cuộc chiến này đang và sẽ có những tác động nhiều mặt đến các nước trong và ngoài khu vực. Tác động của cuộc chiến đối với Việt Nam là đáng kể trong cuộc đấu tranh gìn giữ chủ quyền biển, đảo trước bối cảnhsức ép nặng nề từ các hành động “bắt nạt” gia tăng đột biến từ láng giềng phương Bắc.
Mở đầu
Biển Đông thực sự trở thành điểm nóng an ninh trong khu vực. Mồi lửa bất ổn an ninh này tăng thêm vào năm 2009, khi Trung Quốc gửi Công hàm lên Tổng Thư ký Liên Hợp quốc (LHQ) tuyên bố quyền tối cao đối với “các đảo ở Biển Đông và các vùng lân cận”. Mặc dù ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 ở The Hague, Hà Lan tuyên bố “yêu sách đường lưỡi bò” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý cũng như Trung Quốc không có “quyền lịch sử” với các vùng biển ở Biển Đông[1], nhưng Trung Quốc đã không công nhận phán quyết trên, đồng thời ngày càng gia tăng các hoạt động phi pháp tại đây.
Cuộc đấu tranh giữa một bên có tham vọng độc chiếm Biển Đông làm “ao nhà” và bên khác là các nước đấu tranh gìn giữ chủ quyền biển, đảo, tự do hàng hải, đã và đang diễn ra ngày càng gay gắt với nhiều hình thức khác nhau. Nổi bật là cuộc đấu tranh pháp lý mà cuộc chiến công hàm là hình thức hợp lý được các bên lựa chọn. Đến nay, liên quan đến an ninh Biển Đông đã có hai cuộc chiến công hàm được ghi nhận: Cuộc chiến lần thứ nhất (1.0) bắt đầu từ năm 2009 đến năm 2011, cuộc chiến lần hai (2.0) nối tiếp từ năm 2019 đến nay vẫn chưa có hồi kết.
1. Cuộc chiến công hàm
Trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế và luật quốc tế, nguyên tắc Im lặng ngụ ý sự chấp thuận được coi là hợp pháp. Vì thế nếu một bên (bên thứ nhất) đưa ra một văn bản (công thư, công hàm...) nào đó có nội dung làm tổn hại đến quyền và lợi ích của bên khác (bên thứ hai) mà bên khác im lặng (không có hành động nào đó để đáp trả) thì bên thứ nhất mặc định được coi là đạt được mục tiêu của họ. Chính vì vậy, mặc dù các “Công hàm (mà các nước khác) gửi Trung Quốc như giấy ném vào tường gạch”[2], các nước vẫn tiếp tục có các công thư, công hàm (gửi cho phía Trung Quốc hay cho các cơ quan quốc tế thẩm quyền) phản bác lại những quan điểm và hoạt động phi lý, phi pháp, mang tính “cưỡng đoạt”, “áp chế” của Bắc Kinh trong cuộc chiến Biển Đông, tạo ra các cuộc chiến công hàm.
1.1. Nguyên nhân
Nguyên nhân trực tiếp của cả hai cuộc chiến công hàm đều là hành động cụ thể của một bên (Trung Quốc) hoặc của một trong các nước thuộc bên đối lập.
Với cuộc chiến công hàm lần thứ nhất: Một là, nguyện vọng của Malaysia và Việt Nam được hưởng Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) trong phạm vi 200 hải lý và giới hạn bên ngoài của vùng thềm lục địa kéo dài theo UNCLOS. Hai là, Trung Quốc đã gửi công hàm lên Liên Hợp quốc nêu bản đồ “đường chín đoạn” và tuyên bố quyền tối cao đối với “các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận”, yêu cầu Liên Hợp quốc bác bỏ nguyện vọng của hai nước trên.
Đối với cuộc chiến lần thứ hai: Thứ nhất, Trung Quốc đã và đang tiến hành những hành động ngang ngược và mang tính cưỡng ép trên thực địa tại Biển Đông. Một số ví dụ nổi bật nhất gồm: việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 8 của Trung Quốc hoạt động tại vùng đặc quyền kinh tế Malaysia tháng 4/2020; Trung Quốc ngang nhiên công bố thành lập cái gọi là “quận đảo” Tây Sa và Nam Sa để “quản lý” quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam ngày 18/04/2020; Trung Quốc công bố các “danh xưng tiêu chuẩn” áp dụng cho “25 đảo, đá và 55 thực thể địa lý dưới biển ở Biển Đông” ngày 19/4/2020... Thứ hai, Malaysia, Việt Nam và một số nước ASEAN muốn thực thi quyền trong phạm vi của vùng Đặc quyền kinh tế và giới hạn bên ngoài của vùng thềm lục địa kéo dài theo UNCLOS tại Biển Đông cũng như đòi hỏi của các nước trong và ngoài khu vực cần chấm dứt các chính sách và hành động gây bất ổn của Trung Quốc tại vùng biển này, ổn định hóa khu vực hòa bình và rộng mở, tự do hàng hải theo đúng UNCLOS.
Tất cả những nguyên nhân trực tiếp đều bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa: tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
1.2. Cuộc chiến công hàm lần thứ nhất (1.0)
Tham gia “Cuộc chiến Công hàm” lần thứ nhất bắt đầu từ ngày 06/5/2009 cho đến năm 2011 gồm: Trung Quốc và các nước gồm: Malaysia, Việt Nam, Philippines và Indonesia.
Cuộc chiến này bắt đầu từ hành động của Malaysia và Việt Nam vào tháng 6/2009, nộp lên LHQ một thỏa thuận chung về giới hạn thềm lục địa tại Biển Đông mà hai nước này đã đạt được theo UNCLOS. Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc chiến bắt đầu từ tháng 5/2009, khi Đại diện Thường trực của Trung Quốc tại LHQ gửi công hàm tới Tổng Thư ký Ban Ki-moon, yêu cầu Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của LHQ “không xem xét” hồ sơ của Malaysia và Việt Nam.
Từ năm 2009 đến 2011, đã có tới 12 công hàm được trao đổi, gồm Trung Quốc gửi 03 công hàm, Malaysia gửi 02 công hàm, Philippines gửi 03 công hàm, Việt Nam gửi 03 công hàm và Indonesia gửi 01 công hàm[3].
Trong công hàm của riêng Malaysia và cả chung với Việt Nam và trong các công hàm khác của Việt Nam... nổi bật các nội dung: (1) Phản bác lập luận của Trung Quốc rằng Kuala Lumpur không có quyền xin thiết lập thềm lục địa ở vùng biển phía Bắc của biển Đông; (2) Việt Nam, Malaysia có quyền thiết lập thềm lục địa của mình; (3) Khẳng định cái gọi là “đường chín đoạn” mà Trung Quốc tự vẽ ra để tuyên bố chủ quyền phần lớn Biển Đông là vi phạm UNCLOS[4]; Những yêu sách hàng hải của Bắc Kinh trên vùng biển này không có hiệu lực pháp lý.
Ngược lại, các công hàm từ phía Trung Quốc luôn nhắc lại quan điểm: (1) Các nước khác (ASEAN) không có quyền có thềm lục địa kéo dài (theo Bắc Kinh) vì sẽ lấn vào cái gọi là đường chín đoạn do họ tự vẽ; (2) Các đảo tại Biển Đông (quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Scarbourough...) là lãnh thổ của Bắc Kinh; (3) Bắc Kinh có quyền lịch sử tại Biển Đông...
Một sự kiện đặc biệt quan trọng liên quan đến cuộc chiến công hàm lần thứ nhất là phán quyết của Tòa trọng tài, được quy định trong Phụ lục VII của UNCLOS năm 2013 vào năm 2016 rằng, “đường chín đoạn”, quyền lịch sử đối với các tài nguyên của Bắc Kinh tại Biển Đông không có giá trị pháp lý. Phán quyết cho phép các quốc gia ven biển mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lý. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã không thừa nhận phán quyết này và tiếp tục lắt léo hòng “lách” luật biển quốc tế, trong đó có UNCLOS năm 1982.
1.3. Cuộc chiến công hàm lần hai (2.0)
Khởi đầu cuộc chiến công hàm lần hai lại chính là Malaysia, nước đã đệ trình công hàm mới ngày 12/12/2019 liên quan đến ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý theo quy định của luật Biển quốc tế và Công ước LHQ về Luật biển năm 1982, với nội dung có điểm mới hơn so với nội dung trong công hàm lần đầu vào năm 2009.
Tham gia cuộc chiến công hàm lần hai gồm 02 nhóm nước ven biển là Trung Quốc và các nước: Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia + Mỹ, Australia, Anh, Pháp, Đức. Các nước đã ra ít nhất 23 công hàm, công thư đệ trình lên các cơ quan và tổ chức thẩm quyền quốc tế. Trong đó, Trung Quốc đã gửi 7 công hàm và 1 công thư; Việt Nam gửi 3 công hàm; Philippines gửi 3, Indonesia và Malaysia mỗi nước gửi 2, Mỹ gửi 1, Australia gửi 1; và Anh, Đức, Pháp gửi chung 1 công hàm...
Mở đầu cuộc chiến lần này ngày 12/12/2019 là công hàm của Malaysia gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và công hàm của Trung Quốc phản hồi đệ trình của Malaysia. Tiếp đến, ngày 06/3/2020 và 26/3/2020, Philippines đã ra công hàm đáp trả Công hàm của Malaysia và Trung Quốc. Ngày 23/3/2020, Trung Quốc ra công hàm đáp trả công hàm của Malaysia và Philippines. Ngày 30/03/2020, Việt Nam ra liền 3 công hàm để bày tỏ lập trường của mình. Ngày 26/5, Indonesia ra công hàm phản đốì các công hàm của Trung Quốc. Ngày 01/6/2020, Mỹ ra công thư, ngày 27/07/2020, Australia ra công hàm bác bỏ tất cả các yêu sách của Trung Quốc trái với UNCLOS 1982, Anh, Pháp, Đức ra công hàm ngày 16/09/2020...
“Vũ khí” Trung Quốc sử dụng trong các công hàm của nước này chủ yếu là những yêu sách “quyền lịch sử” với quyền lợi hàng hải đầy đủ cho các đặc điểm trên Biển Đông theo cách hiểu và luật pháp riêng của Bắc Kinh. Họ luôn cho rằng, các nước tranh chấp với Bắc Kinh tại Đông Nam Á có những “định kiến” với Bắc Kinh trong các công thư, công hàm đòi hỏi chủ quyền. Tuy nhiên, gần đây với sự tham gia cuộc chiến công hàm lần hai của một số nước ngoài khu vực, trước hết là Mỹ và Australia, Anh, Pháp, Đức, Bắc Kinh đã và đang phải đối mặt với sự thật là chính họ cần phải sửa đổi lại quan niệm và “quyền lịch sử” của họ tại Biển Đông.
Trong công thư Mỹ gửi LHQ liên quan đến Biển Đông tháng 6/2020 thể hiện 3 điểm chính. Thứ nhất, Hoa Kỳ phản đối yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc tại Biển Đông mà Trung Quốc mở rộng yêu sách này đối với các quyền lợi biển mà Trung Quốc khẳng định là phù hợp với luật quốc tế, cụ thể là UNCLOS; Thứ hai, Hoa Kỳ phản đối việc Trung Quốc áp dụng một cách phi lý trong việc tự ý tuyên bố đường cơ sở thẳng bao quanh các cấu trúc nằm rải rác tại Biển Đông như trong trường hợp một quốc gia quần đảo; Thứ ba, Hoa Kỳ phản đối các yêu sách về các quyền lợi biển mà Trung Quốc tuyên bố dựa trên các cấu trúc tại Biển Đông. Trong khi các cấu trúc này không đáp ứng được yêu cầu là “đảo” như quy định tại Điều 121(1) của UNCLOS 1982. Theo đó, các cấu trúc này vì không đáp ứng được yêu cầu là “đảo” cho nên sẽ không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kèm theo; Thứ tư, khi khẳng định các “yêu sách biển quá đáng” của mình, Trung Quốc đã hàm ý hạn chế các quyền và sự tự do, bao gồm quyền hải hành và tự do hải hành cho tất cả các quốc gia khác.
Tương tự, công hàm của chính phủ Australia gửi LHQ tháng 7/2020 cũng nhấn mạnh một số điểm quan trọng. Thứ nhất, “Chính phủ Australia bác bỏ tất cả các yêu sách của Trung Quốc trái với UNCLOS 1982, cụ thể là các yêu sách vùng biển không tuân thủ quy định Công ước về đường cơ sở, các vùng biển và phân loại những thực thể”, Australia nhấn mạnh trong công hàm ngày 23/7; Thứ hai, cái gọi là “quyền lịch sử và quyền hàng hải” “đã được thiết lập từ lâu” mà Trung Quốc đưa ra để biện minh cho “Đường 9 đoạn” là “trái với UNCLOS” và “vô giá trị”. Thứ ba, khẳng định phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII UNCLOS 1982 đã làm rõ điều này.
Trong công hàm của ba nước châu Âu - Anh, Pháp, Đức nhấn mạnh hầu như những điểm cơ bản mà Hoa Kỳ, Australia... đã nêu về tính phi pháp của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông. Nổi bật nhất gồm: (1) Không có cơ sở pháp lý nào để các quốc gia lục địa, cụ thể là Trung Quốc, coi các quần đảo hoặc các đối tượng địa lý biển như một thực thể mà không tôn trọng các quy định liên quan trong Phần II của UNCLOS hoặc bằng cách sử dụng các quy định trong Phần IV chỉ áp dụng cho các quốc gia quần đảo và (2) Việc Trung Quốc thực thi “quyền lịch sử” trên Biển Đông là không tuân thủ luật pháp quốc tế và các điều khoản của UNCLOS, đồng thời ba nước tái khẳng định tính pháp lý của phán quyết Tòa trọng tài năm 2016 giữa Philippines và Trung Quốc.
Chú thích:
[1] Tòa trọng tài hác yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc, https://tuoitre.vn/toa-trong-tai-tuyen-philippines-thang-kien-trung-quoc-
1135699.htm, truy cập ngày 12/07/2016.
[2] Phương Anh (2019), Ngoại trường Philippines: Công hàm gửi Trung Quốc như giấy ném vào tường gạch, https://vtc.vn/ngoai-truong-philippines-cong-ham-gui-trung-quoc-nhu-giay-nem-vao-tuong-gach-d496444.html, truy cập ngày 04/09/2019.
[3] Nguyễn Hồng Thao, South China Sea: The Battle of the Diplomatic Notes Continues https://thediplomat.com/2020/08/south-china-sea-the-battle-of-the-diplomatic-notes-contin-ues/, truy cập ngày 04/08/2010.
[4] Indonesia đã có công hàm No. 480/POL-703/VII/10 ngày 8/7/2010 bác bỏ đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc đưa ra năm 2009. Indonesia khẳng định ‘không phải là quốc gia yêu sách có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông” và “cái gọi là bản đồ đường 9 đoạn có trong công hàm CML/17/2009 (của Trung Quốc) ngày 7/5 rõ ràng thiếu cơ sở luật quốc tế và hoàn toàn ngược lại với Công ước Luật biển 1982” (The so-called ‘nine-dotted lines map’ as contained in the above circular note Number CML/17/2009 dated 7th May 2009 clearly lacks international legal basis and is tantamount to upset the UNCLOS 1982).
