Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoại của Việt Nam hiện nay
Hơn 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, khẳng định vị thế của một quốc gia có trách nhiệm, chủ động hội nhập và đóng góp tích cực vào công việc chung cộng đồng quốc tế.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, để tự tin vững bước đòi hỏichúng ta phải có tư duy, cách tiếp cận mới, đặc biệt là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong điều kiện mới.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là nhà ngoại giao kiệt xuất, người sáng lập nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Người luôn quan tâm chỉ đạo công tác đối ngoại nhằm xây dựng khối đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các nước cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống các quan điểm toàn diện, “bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta”[1]. Trong đó, tư tưởng đối ngoại là một bộ phận quan trọng về chiến lược, sách lược cách mạng đối với các vấn đề quốc tế, không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.Cụ thể, những nội dung chủ yếu trong tư tưởng là:
Thứ nhất, giữ vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập, tự chủ trong đối ngoại và hợp tác quốc tế
Trong Tuyên ngôn Độc lập - bản “khai sinh” nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[2]. Từ “những lẽ phải không ai chối cãi được” này, theo Hồ Chí Minh, việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản phải gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững.
Độc lập, tự chủ là tư duy nổi bật, nhất quán trong toàn bộ hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh, nguyên lý chủ yếu của tư tưởng đó là “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”[3]; “Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”; “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”[4]. Giữ vững độc lập, tự chủ vừa là đường lối, vừa là nguyên tắc bất biến để bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Đường lối và nguyên tắc đó cũng được kết tinh trong tư tưởng và thực tiễn hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh.Người đúc kết thành chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chân lý ấy, vẫn là một yêu cầu thiết yếu đối với quá trình hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ hai, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong công tác đối ngoại
Đây là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng là quy luật, bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam. Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh coi nguồn lực bên trong giữ vai trò quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng và chỉ được phát huy thành sức mạnh thông qua nguồn lực bên trong. Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò của từng nguồn sức mạnh, Người chỉ rõ sự cần thiết phải chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân nhằm vận động được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Đảng và Nhân dân Việt Nam. Bởi như Người khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của Nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của Nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...”[5].
Thứ ba, tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm lược
Tư tưởng yêu chuộng hòa bình, chống chiến tranh xâm lược được thể hiện từ rất sớm và luôn nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người. Ngày 07/12/1946, trong “Lời kêu gọi Liên hiệp quốc”, Hồ Chí Minh đưa ra thông điệp: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng Nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[6].
Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ. Ngay cả khi phải tiến hành cuộc chiến tranh một mất một còn với đế quốc thực dân để giành độc lập dân tộc, Người cũng luôn tìm kiếm những cơ hội đối thoại, đàm phán để tránh một cuộc chiến bạo lực phi nghĩa.
Thứ tư, tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù
Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn phân biệt rõ giữa bạn và thù, tìm cách giảm bớt kẻ thù, tránh đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc, xác định kẻ thù chính để tập trung mũi nhọn đấu tranh. Người khẳng định: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”[7]. Để “thêm bạn, bớt thù”, Người chủ trương phân biệt giữa nhân dân yêu chuộng hòa bình với lực lượng phản động, hiếu chiến trong chính phủ của nước đối phương. Đương thời, trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác đối ngoại,Người giáo dục từ các bộ, chiến sĩ đến người dân phải phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp cũng như nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của họ, cô lập, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Thứ năm, tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế
Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12/1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Người khẳng định: “Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”[8]. Người cũng nhiều lần tuyên bố: Việt Nam “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[9]. “Bất kỳ nước nào... thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam, với mục đích làm lợi cho cả hai bên, thì Việt Nam sẽ rất hoan nghênh... Bất kỳ nước nào... mong đưa tư bản đến để ràng buộc áp chế Việt Nam thì, Việt Nam sẽ cương quyết cự tuyệt”[10]. Có thể xem những lời tuyên bố đó là tư tưởng đặt nền móng cho phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.
Thứ sáu, nhất quán phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong hoạt động đối ngoại
Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” thể hiện tư duy biện chứng nhất quán trong phương pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Đó là phương châm ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược trong đối ngoại.Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”[11]. Trong lãnh đạo và thực tiễn đối ngoại, Người luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, cũng như những thay đổi ý đồ của các nước lớn…
2.Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoại đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoại là làm cho sự vận dụng, phát triển đó phù hợp thực tiễn đất nước cũng như thế giới, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa hay “cơ hội”, “xét lại”. Đồng thời sự vận dụng, phát triển đó phải bổ sung những kết luận mới từ tổng kết thực tiễn mà đương thời hoạt động, lãnh đạo đối ngoại Hồ Chí Minh chưa có được.Hơn nữa, sự vận dụng, phát triển đó phải quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”, để tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.Để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoại của Việt Nam cần tập trung chú trọng những nội dung chủ yếu sau:
Một là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển
Thế giới hiện nay đang đứng trước những thay đổi căn bản mang tính thời đại, biến đổi sâu sắc về mọi mặt dưới tác động của các chuyển dịch lớn của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình và xác lập trật tự thế giới mới. Những thay đổi này đang tạo ra một môi trường quốc tế đa chiều hơn, mở ra những vận hội lớn cùng nhiều thách thức lớn cho đất nước.Trong giai đoạn giao thời, quá độ giữa cái cũ và cái mới, các nước vừa và nhỏ thường bị đặt ở thế bị động, không kịp thích ứng. Nhưng Việt Nam, nhờ kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và có nhiều chính sách phù hợp, khôn khéo theo tinh thần “vạn biến” của tư tưởng Hồ Chí Minh,đã bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong những thời điểm hết sức khó khăn, phức tạp. Việc tiếp tụcvận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại khi bước vào kỷ nguyên mới phải luôn giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Nghĩa là, không chỉ khắc phục sự lệ thuộc, chống sự áp đặt, lôi kéo, chi phối, mà còn phải nêu cao và phát huy tính chủ động trong tham gia vào các công việc chung của cộng đồng khu vực và quốc tế.
Hai là, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong công tác đối ngoại
Đứng trước thời điểm lịch sử, đất nước cần những quyết sách lịch sử. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải:“đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại”[12], gia tăng sức mạnh của mình thông qua việc gắn kết với thế giới.Chúng ta kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát huy triệt để những thế mạnh của chính mình, tận dụng mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các mối quan hệ quốc tế.Sức mạnh thời đại hiện nay là các xu thế chính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới như hòa bình, hợp tác và phát triển, xu thế dân chủ hóa quan hệ quốc tế, xu thế phát triển bền vững, xu thế hợp tác và liên kết kinh tế; là sức mạnh của cộng đồng quốc tế đồng thuận trong kiến tạo, củng cố thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế và đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.
Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nắm bắt được dòng chảy của sức mạnh thời đại và “nâng tầm” hội nhập quốc tế với những quan điểm mang tính cách mạng, tính đột phá, tính dân tộc, tính khoa học, tính thời đại cao.
Ba là, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước
Môi trường đối ngoại trong những năm tới tiếp tục chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường cả về an ninh, chính trị, kinh tế, đan xen nhiều cơ hội và những thách thức. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải làm cho công tác đối ngoại, ngoại giao phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò tiên phong, trọng yếu, thường xuyên trong việc tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định đi đôi với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, huy động các nguồn lực bên ngoài, nhất là các nguồn lực có tính đột phá, tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, góp phần tạo đà cho đất nước tăng tốc, bứt phá, vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đối ngoại, ngoại giao cần tiếp tục phát huy hiệu quả hơn nữa mạng lưới các quan hệ đối tác đã được xác lập để gia tăng tin cậy chính trị, tranh thủ nguồn lực cho phát triển, giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế. Tăng cường phối hợp với các đối tác để ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống như vấn đề Biển Đông, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; chống ô nhiễm, dịch bệnh, tội phạm mạng, tội phạm xuyên quốc gia…
Với thế và lực mới, đối ngoại Việt Nam có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong những lĩnh vực phù hợp; đóng góp tích cực hơn vào hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn quốc tế; đa dạng hóa hợp tác quốc phòng, an ninh, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động ngoại giao nhất là trong công tác thông tin đối ngoại, để lan tỏa hình ảnh Việt Nam độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, hữu nghị, phát triển, phồn vinh, hạnh phúc.
Bốn là, đối ngoại trong kỷ nguyên mới cần chủ động, kịp thời phát hiện và tận dụng cơ hội, hóa giải thách thức, mở rộng đóng góp vào sự nghiệp cách mạng thế giới, vì hòa bình, hợp tác và phát triển toàn cầu
“Giai đoạn từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình và xác lập trật tự thế giới mới”[13]. Sự biến chuyển toàn cầu đem lại không chỉ cơ hội, mà còn thách thức lớn, trong khi thời cơ mới có thể xuất hiện bất ngờ giữa những thay đổi đột biến của cục diện quốc tế. Công tác đối ngoại cần nắm vững xu thế, mâu thuẫn thời đại, dự báo chính xác thời cơ và triển khai chiến lược để giảm thiểu tác động tiêu cực, “đi tắt đón đầu”, gia tăng sức mạnh, tạo bước phát triển đột phá, giúp đất nước hoàn thành mục tiêu chiến lược 100 năm.
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại khi bước vào kỷ nguyên mới cần chủ động mở rộng đóng góp vào sự nghiệp cách mạng thế giới, vì hòa bình, hợp tác và phát triển toàn cầu. Cần thúc đẩy mạnh mẽ sự tham gia của đất nước vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế toàn cầu và duy trì hòa bình, ổn định. Đối ngoại, ngoại giao phải gắn kết sâu sắc tình cảm giữa Việt Nam và các dân tộc yêu chuộng hòa bình, liên kết sự nghiệp đất nước với những mục tiêu tiến bộ của nhân loại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế. Việt Nam cần đóng góp tích cực vào cuộc cách mạng thế giới, đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Giương cao ngọn cờ hòa bình, chính nghĩa, với nhiều sáng kiến vì lợi ích lâu dài của nhân loại, lan tỏa mạnh mẽ “phiên bản Việt Nam” độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, tạo nguồn cảm hứng và khát vọng phồn vinh, hạnh phúc trên toàn thế giới. Việt Nam tự hào đã tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, hơn 10 năm qua đã cử hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ gìn giữ hoà bình tại nhiều Phái bộ và trụ sở Liên hợp quốc, với tỷ lệ nữ cao, để lại nhiều ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh đất nước, con người và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Năm là, tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế
Môi trường an ninh và phát triển hiện đang chuyển biến rất nhanh, sâu sắc, tất cả các nước lớn nhỏ đều đứng trước nhu cầu tăng cường hợp tác, liên kết để cùng giải quyết các vấn đề chung cấp bách.Trên tinh thần đó, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại khi bước vào kỷ nguyên mới cần chuyển mạnh hơn nữa từ chủ trương “tham gia, tham dự” sang phát huy vai trò “thành viên tích cực, có trách nhiệm”; từ khởi xướng, dẫn dắt nhiều sáng kiến, ý tưởng hợp tác sang chủ động tham gia xây dựng, định hình quản trị toàn cầu, qua các khuôn khổ và luật lệ trên nhiều lĩnh vực.
Thế và lực mới của đất nước cho phép chúng ta trong giai đoạn mới không chỉ tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương, tham gia vào các sáng kiến của các nước mà còn có thể phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với lợi ích của ta. Đối ngoại Việt Nam cần tiếp đà đóng góp vào các vấn đề chung của thế giới, công tác đối ngoại đa phương cần tập trung làm tốt các công việc chuẩn bị, tổ chức các sự kiện mà Việt Nam đăng cai. Đồng thời Việt Nam tiếp tục đảm nhiệm vai trò thành viên tích cực và có trách nhiệm tại các tổ chức, cơ quan đa phương và tiếp tục ứng cử vào các vị trí phù hợp với ưu tiên, lợi ích của ta.
Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong phát huy sức mạnh của cộng đồng người Việt ở nước ngoài càng trở nên quan trọng. Hơn 50 năm đất nước thống nhất, Việt Nam đã có đủ bản lĩnh, đủ niềm tin, sự tự hào và đủ bao dung để hòa giải, hòa hợp dân tộc, vượt qua đau thương cùng nhau nhìn về phía trước. Hòa giải, hòa hợp dân tộc không có nghĩa là quên lãng lịch sử hay xóa nhòa sự khác biệt, mà là chấp nhận những góc nhìn khác nhau trong tinh thần bao dung và tôn trọng, để cùng hướng tới mục tiêu lớn hơn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, hùng mạnh, văn minh, thịnh vượng, để các thế hệ mai sau không bao giờ phải chứng kiến chiến tranh, chia ly và hận thù, mất mát như cha ông từng đối mặt.
Tóm lại, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoại đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộclà phải luôn giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;nhất quán và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, kiên định mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời cũng thể hiện tinh thần hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia của các dân tộc trên thế giới. Việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đối ngoạitheo tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị sẽ là bước chuyển quan trọng về tư duy và định hướng đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn tới, tạo động lực đưa đất nước tiến tới đài vinh quang của độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn thịnh, trường tồn.
PGS, TS. Thái Văn Long
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 83-84.
[2] “Bản Tuyên ngôn của tinh thần và ý chí độc lập, tự do” https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/. Ngày đăng 8/9/2023 10:2'(GMT+7)
[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.320.
[4]Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t. 7, tr. 112.
[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.675.
[6] Dẫn theo: “Ngày 07 tháng 12: “Đồng bào tôi và tôi thành thật muốn hòa bình”. https://www.sggp.org.vn/. Đăng ngày07/12/2009 02:40
[7]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.453.
[8]Dẫn theo: “Ngày 07 tháng 12: “Đồng bào tôi và tôi thành thật muốn hòa bình”. https://www.sggp.org.vn/. Đăng ngày07/12/2009 02:40
[9]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr 256
[10]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.145.
[11]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.555.
[12]Tô Lâm: “ Vươn mình trong hội nhập quốc tế” https://www.tapchicongsan.org.vn/. Ngày đăng 10:00, ngày 03/04/2025
[13]Tô Lâm: “ Vươn mình trong hội nhập quốc tế” https://www.tapchicongsan.org.vn/. Ngày đăng 10:00, ngày 03/04/2025
