Thế giới với việc thực hiện chính sách phát triển thị trường tín chỉ carbon và những gợi mở cho Việt Nam
Hiện nay, tình hình biến đổi khí hậu (BĐKH) trên thế giới đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, gây ra nhiều tác động đến kinh tế, xã hội và môi trường. Nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành xây dựng và thực hiện các giải pháp khác nhau nhằm giảm phát thải khí nhà kính (KNK), trong đó, xây dựng thị trường tín chỉ carbon (TTTCCB) được xem là một trong số các giải pháp được đặt ra.
TTTCCB ra đời, cùng với những cam kết, quy định của Chính phủ các nước đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy giảm phát thải KNK toàn cầu. Tại Việt Nam, TTTCCB vẫn đang trong giai đoạn ban đầu, xây dựng và nghiên cứu thị trường. Chính vì vậy, để giúp Việt Nam hoàn thiện xây dựng thị trường, cần nghiên cứu chính sách, mô hình thí điểm của các quốc gia đang phát triển đã có kinh nghiệm và quốc gia có nét tương đồng về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, cùng khu vực với Việt Nam trong xây dựng TTTCCB.
1. Một số quốc gia trên thế giới
TTTCCB là một trong số các giải pháp giảm phát thải KNK hàng đầu mà các quốc gia trên thế giới lựa chọn. Tuy nhiên, chính sách phát triển TTTCCB tại các quốc gia đều bị ảnh hưởng và chi phối bởi nhiều yếu tố đặc thù khác nhau. Chính vì thế, để đạt được sự ổn định, xây dựng và phát huy hiệu quả các chính sách, các quốc gia trên thế giới đã đưa ra nhiều chính sách phát triển thị trường khác nhau, trong đó các quốc gia đều có sự học hỏi, vận dụng và đút kết các kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước.
- Tại Trung Quốc:
Trung Quốc là quốc gia có mức độ phát thải carbon lớn, không chỉ vì Trung Quốc hiện là quốc gia đang phát triển lớn nhất thế giớicó nhu cầu năng lượng tăng trưởng lớn mạnh từ quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng, mà còn do cấu trúc năng lượng của quốc gia này không hợp lý. Dựa trên quan điểm về việc chịu trách nhiệm giảm phát thải carbon trong nước và toàn cầu, Trung Quốc đã đặt ra Mục tiêu giảm lượng khí thải carbon và đã liên tục thành lập các dự án thử nghiệm cho thương mại carbon từ năm 2013, như sau:
Một là, Trung Quốc ưu tiên phát triển “Cơ chế phát triển sạch” - CDM và dần trở thành quốc gia lớn nhất thế giới về dự án này. Năm 2005, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NDRC), Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính đã hỗ trợ và ban hành quy định cho phép tham gia Cơ chế phát triển sạch là viên gạch đầu tiên khởi đầu TTTCCB[1].
Hai là, thực hiện thí điểm tại 7 tỉnh, thành phố, vùng kinh tế đặc biệt thuộc các khu vực khác nhau trải dài từ phía Bắc đến phía Nam[2]. Để quản lý giao dịch tín chỉ carbon, mỗi địa điểm tiến hành thí điểm sẽ được cung cấp hướng dẫn thông qua các tài liệu, như: các giải pháp tạm thời để quản lý và giao dịch tín chỉ carbon, giải thích chi tiết về phân bổ và quản lý hạn ngạch carbon, cách thức giao dịch trong thị trường. Mỗi địa điểm thực hiện thí điểm cũng xem xét và ban hành “Đề án phân bổ hạn ngạch phát thải carbon” mỗi năm để làm rõ việc phân bổ hạn ngạch carbon cho năm hiện tại[3].
Nhìn chung, 7 thị trường thí điểm giao dịch tín chỉ carbon bắt buộc tại Trung Quốc đã lần lượt được đưa vào chính thức. Xét sự phát triển không đồng đều vùng miền và sự mất cân đối của cấu trúc công nghiệp, 7 thị trường thử nghiệm đã được chọn một cách có mục đích ở phía Đông và Tây của Trung Quốc với sự phát triển kinh tế và vị trí địa lý khác nhau[4].
- Tại Indonesia:
Indonesia là một trong số các quốc gia tham gia Thỏa thuận Paris theo Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH, Indonesia cam kết thực hiện “Đóng góp do quốc gia tự nguyện quyết định (NDC)”, với mục tiêu hạn chế mức phát thải ròng bằng không vào năm 2060. Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ Cộng hòa Indonesia sử dụng cách tiếp cận dựa trên thị trường, liên quan đến giao dịch phát thải - xây dựng chiến lược Giao dịch tín chỉ carbon, qua đó quốc gia này đã gặt hái được các thành tựu thông qua việc xây dựng cơ sở pháp lý cho việc hình thành thị trường. TTTCCB tại Indonesia đã phát triển nhanh chóng và đạt được những cột mốc quan trọng, trong đó phải kể đến các chính sách, quy định nhằm xây dựng thị trường, như: (1) Tổng thống Joko Widodo ban hành Luật số 4 năm 2023 về phát triển và tăng cường lĩnh vực tài chính (Luật PPSK), bao gồm 27 Chương và 341 điều, qua đó thể hiện nỗ lực của Chính phủ nhằm cải cách lĩnh vực tài chính bằng cách thích ứng với những thay đổi hiện nay về cơ chế giao dịch tín chỉ carbon, giao dịch thông qua trao đổi tín chỉ carbon; (2) Quy định của Tổng thống (Perpres) số 98/2021 (PR 98/2021) về giá trị kinh tế carbon (Nilai Ekonomi Karbon – NEK) được ban hành vào năm 2021, đóng vai trò nền tảng để xây dựng khung pháp lý. Sự ra đời của NEK nhằm ứng phó nhanh chóng với Điều 6 Thỏa thuận Paris, cho phép các bên tham gia giao dịch carbon nhằm mục đích giảm lượng khí thải; (3) Quy định số 21 năm 2022 của Bộ Môi trường và Lâm nghiệp về hướng dẫn thực hiện định giá carbon (MOEF 21/2022) được ban hành như một quy định hướng dẫn thực hiện các nội dung của quy định số 98/2021[5].
- Tại Liên minh châu Âu:
EU đã thực thi chính sách phát triển TTTCCB trên toàn bộ các quốc gia trực thuộc thông qua cơ chế phát thải nghiêm ngặt, ứng dụng cao trên thực tiễn. Đối mặt với những thách thức và hậu quả từ BĐKH, EU là quốc gia đi đầu trong việc đề xuất và thực hiện các chương trình, chính sách nhằm bảo vệ môi trường, ứng phó với BĐKH và sự gia tăng KNK. Sau gần 20 năm đi vào hoạt động, thị trường giao dịch hạn ngạch phát thải của EU là một cơ chế đã mang đến những lợi ích nhất định cho môi trường, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống con người, xã hội.
Thứ nhất, EU đã thiết lập được một hệ thống pháp lý đủ vững mạnh, rõ ràng để có thể quản lý chung các vấn đề, từ việc thí điểm trong từng giai đoạn cho tổng thể 30 quốc gia[6]. Bên cạnh đó, từ năm 2005 đã xây dựng thành công Chương trình giao dịch khí thải (EU ETS) - là nền tảng, tài liệu tham khảo cho các khu vực phát triển TTTCCB hoạt động tại 31 quốc gia, áp dụng cho hơn 11.000 doanh nghiệp, bao gồm: các nhà máy điện, cơ sở sản xuất công nghiệp, hãng hàng không[7].
Thứ hai, thực hiện thí điểm TTTCCB theo lộ trình chia nhỏ từng giai đoạn. Cụ thể, EU đã thực hiện thí điểm với 1 giai đoạn thử nghiệm tự nguyện diễn ra tại Đan Mạch và Vương quốc Anh vào năm 2002, 4 giai đoạn thí điểm chính thức. Trong đó: (i) Giai đoạn I - Giai đoạn thí điểm (2005 - 2007) đã thử nghiệm với các chứng chỉ phát thải của EU được phân bổ miễn phí trong 2 năm, bắt đầu cho quá trình xây dựng thị trường với 15 quốc gia là thành viên tham gia; (ii) Giai đoạn II - Giai đoạn Kyoto (2008 - 2012), cho phép người tham gia mua một số lượng chứng chỉ Kyoto nhất định (bao gồm cả các đơn vị giảm phát thải được chứng nhận); (iii) Giai đoạn III - Giai đoạn hậu Kyoto (2013 - 2020), được xây dựng, cải cách đáng kể nhằm nâng cao hiệu quả vận hành thị trường, đồng thời giải quyết một số vấn đề tồn đọng trong giai đoạn trước; (iv) Giai đoạn IV - Giai đoạn hiện tại và tương lai (2021 - 2030), EU đặt mục tiêu giảm lượng KNK tới 2030 và thực hiện cải cách EU ETS, đảm bảo TTTCCB là công cụ hiệu quả trong việc ứng phó với BĐKH[8].
2. Về phát triển thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam
Ở nước ta, việc xác định được tầm quan trọng của TTTCCB đã đặt những viên gạch đầu tiên cho lộ trình xây dựng thị trường carbon nội địa và phát triển trên thị trường quốc tế, đó là:
Một là, xác định được lộ trình cụ thể, rõ ràng. Trong đó phân thành 03 giai đoạn, cụ thể: Giai đoạn chuẩn bị (2021 - 2027), thời gian kéo dài 4 năm, tập trung chủ yếu vào xây dựng khung pháp lý, cơ chế vận hành và nâng cao nhận thức, tạo nền tảng chững chắc cho các giai đoạn tiếp theo; Giai đoạn thí điểm (2025 - 2027), giai đoạn này giúp Việt Nam tự kiểm tra và đánh giá hiệu quả của mô hình thị trường trước khi được triển khai chính thức; Giai đoạn vận hành (bắt đầu từ năm 2028 trở đi).
Hai là, Việt Nam đã nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, bao gồm: các chính sách, chiến lực, những ký kết, thỏa thuận quốc tế về bảo vệ môi trường, khí hậu và ban hành quy định trong các văn bản Luật, dưới luật về cách thức, lộ trình xây dựng, phát triển TTTCCB và các vấn đề liên quan[9].
Ba là, nhiều dự án thí điểm mua bán tín chỉ carbon đã được triển khai, đặc biệt trong lĩnh vực tín chỉ carbon rừng. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Á Thái Bình Dương nhận được khoản thanh toán trị giá thu về 51,5 triệu USD (khoảng 1.200 tỷ đồng) khi bán được 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng[10].
Tuy nhiên, việc xây dựng và hình thành thị trường đến nay vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhất định, cụ thể là: (i) Hệ thống văn bản quy định, cơ sở pháp lý phát triển TTTCCB chưa hoàn thiện. Các quy định về việc thực hiện kiểm kê KNK vẫn chỉ ở mức sơ khởi trong lĩnh vực quản lý chất thải, trong khi đó, vẫn còn các lĩnh vực phát thải cao khác đáp ứng đủ các điều kiện cần thực hiện kiểm kê theo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, ngày 07/01/2022 Quy định giảm nhẹ phát thải KNK và bảo vệ tầng ô-dôn, như: lĩnh vực công thương, xây dựng và giao thông vận tải vẫn chưa được đề cập; (ii) Nguồn nhân lực có chuyên môn về môi trường, kiểm kê KNK, TTTCCB chưa đảm bảo. Báo cáo của UNDP Việt Nam từng cho thấy, có tới 60% thanh niên Việt Nam có thể thiếu các kỹ năng xanh cần thiết để phát triển trong công cuộc chuyển đổi xanh[11]; (iii) Cơ sở dữ liệu để phân bổ hạn ngạch phát thải KNK vẫn chưa cụ thể, rõ ràng. Mặc dù theo lộ trình dự kiến, năm 2025 Việt Nam sẽ chính thức thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon và đã có quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, nhưng đến nay, vẫn chưa có cơ sở cung cấp số liệu chi tiết để có căn cứ phân bổ hạn ngạch phát thải KNK.
3. Mộ số gợi mở cho Việt Nam
Với sự nỗ lực giảm phát thải KNK toàn cầu, xây dựng TTTCCB là giải pháp hiệu quả hàng đầu hướng đến phát triển bền vững nói chung, phát triển kinh tế nói riêng. Từ cơ sở chính sách của các quốc gia trên thế giới, như: Trung Quốc, Indonesia, EU, đề xuất một số gợi mở cho Việt Nam để xây dựng TTTCCB, như sau:
(1) Cần tiếp tục xây dựng, nâng cao, kiện toàn chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo phục vụ hoạt động nghiên cứu, xây dựng, tổ chức và vận hành thị trường. Nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho TTTCCB, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về: (i) Đào tạo chuyên nghiệp, phát triển các chương trình đào tạo chuyên sâu về TTTCCB tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, tập trung vào các lĩnh vực, như: quản lý phát thải, đánh giá tác động môi trường, kinh tế môi trường, tài chính xanh...; (ii) Nâng cao năng lực, tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, hội thảo, tọa đàm, cập nhật kiến thức mới về TTTCCB, các công nghệ giảm phát thải tiên tiến...; (iii) Hỗ trợ nghiên cứu, khuyến khích các hoạt động nghiên cứu khoa học về TTTCCB, tạo điều kiện cho các nhà khoa học, chuyên gia tiếp cận thông tin, tài liệu, công nghệ mới; (iv) Xây dựng và thực hiện các chính sách thu hút nhân tài, xây dựng cơ chế thu hút, giữ chân và phát triển nhân tài trong lĩnh vực TTTCCB, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, thu nhập hấp dẫn, cơ hội thăng tiến.
(2) Thúc đẩy phát triển tín chỉ carbon rừng. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách cho phát triển tín chỉ carbon rừng. Trong đó, tiếp tục thực hiện các chính sách, chiến lược phát triển rừng bền vững; quản lý và bảo vệ rừng toàn diện; hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và khuyến lâm; hỗ trợ trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, khoanh nuôi tái sinh rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ đầu tư trồng, quản lý rừng và vườn giống. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống đăng ký tín chỉ carbon nói chung và tín chỉ carbon rừng nói riêng, giúp cơ quan chức năng xác định được tín chỉ carbon đã được đăng ký tín chỉ carbon, chủ sở hữu. Qua đó, nâng cao tính minh bạch, rõ ràng, tránh trường hợp tín chỉ carbon bán hai lần; tạo điều kiện thuận lợi cho các bên khi tham gia TTTCCB; xác định mức độ giảm phát thải KNK của quốc gia thông qua hệ thống đăng ký tín chỉ carbon.
(3) Tiếp tục hoàn thiện quy định, cơ chế và chính sách phát triển TTTCCB. Dựa trên cơ sở của hệ thống quy định pháp luật hiện có, Quốc hội và Chính phủ cần tiến hành sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung các quy định mới liên quan đến việc xây dựng và vận hành TTTCCB, cơ chế khuyến khích, tài chính, hệ thống đánh giá và xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải của các tổ chức, doanh nghiệp và chế tài xử phạt. Bên cạnh đó, tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định về môi trường, cụ thể về dữ liệu quốc gia về hạn ngạch phát thải; cơ chế thực hiện; cơ chế bù đắp carbon; hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định KNK. Đồng thời, xem xét về việc sửa đổi, bổ sung quy định pháp lý xác định tín chỉ carbon là một loại tài sản hay không phải là tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự hiện hành về tài sản.
(4) Đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, tăng cường liên kết giữa các ngành và doanh nghiệp để phát triển TTTCCB. Trong đó, tăng cường phối hợp, hợp tác hiệu quả giữacác bên, gồm: các đơn vị nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước và cơ quan quản lý nhà nước. Với vai trò chủ đạo, cơ quản quản lý nhà nước thực hiện mạng lưới liên kết đối với các đơn vị nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích sự hợp tác, trao đổi giữa các bên. Ngoài ra, cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư là yếu tố quyết định, vì họ là chủ thể có nhu cầu giao dịch, trao đổi, buôn bán trong TTTCCB, đồng thời là chủ thể tham gia chịu sự tác động trực tiếp từ các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước đến TTTCCB.
(5) Kiểm soát số lượng, phân bổ hạn ngạch phát thải KNK, tín chỉ carbon, nhu cầu cung và cầu của thị trường. Cần ưu tiên thực hiện 2 nội dung chính là kiểm soát, phân bổ hạn ngạch phát thải và kiểm soát, điều chỉnh giá tín chỉ carbon. Trong đó, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xây dựng và thực hiện phương pháp quyền uy, là cơ quan làm chủ thị trường, đặt ra các quy định chung và các đối tượng tham gia thị trường phải đảm bảo thực hiện các quy định đã được đề ra. Đồng thời, Chính phủ và cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ kiểm soát số lượng cấp hạn ngạch phát thải thông qua các cơ chế, như: (i) Cấp phát cố định: cấp phát một lượng hạn ngạch phát thải cố định cho mỗi doanh nghiệp dựa trên mức độ phát thải hiện tại. Phương thức này đơn giản, dễ thực hiện nhưng có thể không đủ khuyến khích các doanh nghiệp giảm phát thải; (ii) Hệ thống đấu giá: cơ quan có thẩm quyền tiến hành tổ chức đấu giá hạn ngạch phát thải, doanh nghiệp nào trả giá cao nhất sẽ được mua tín chỉ bù trừ. Phương thức này tạo ra thị trường cạnh tranh, thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia, nhưng có thể dẫn đến tình trạng giá tín chỉ carbon tăng cao; (iii) Phân bổ, phân bổ miễn phí: trong thời gian đầu khi thí điểm thị trường, để thúc đẩy các doanh nghiệp, tổ chức, đối tượng tham gia thị trường mạnh mẽ, thì việc phân bổ miễn phí hạn ngạch phát thải là một phương thức tiềm năng, tuy nhiên việc phân bổ cần có kế hoạch và thời hạn nhất định.
ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang
[1] https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2018.12.298.
[2] Cụ thể là: Hồ Bắc, Thượng Hải, Thiên Tân, Bắc Kinh, Thẩm, Quyến, Quảng, Thẩm Quyến, Quảng Đông, Trùng Khánh.
[3] https://icapcarbonaction.com/en/ets/china-national-ets.
[4] Lê Duy Khang (2023), Pháp luật về thị trường các-bon quốc gia Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, 56.
[5] Government of Indonesia (Gol) (2022), Indonesia emissions trading system, Nationally Determined Contribution (NDC) Republic of Indonesia.
[6] Gồm: các quốc gia thuộc EU và 3 quốc gia không thuộc EU là Iceland, Liechtenstein và Na Uy; Vương quốc Anh đã rời khỏi EU vào năm 2020, nhưng vẫn duy trì một hệ thống giao dịch phát thải riêng biệt – UK ETS tương tự như EU ETS.
[7] https://climate.ec.europa.eu/policies/ets/index_en.htm.
[8] Bùi Việt Hưng, Ngô Sỹ Tiệp (2022), Thị trường mua bán phát thải của Liên minh châu Âu, Tạp chí Kinh tế và Quản lý, 55, 94 - 100.
[9]https://baochinhphu.vn/thi-truong-tin-chi-carbon-can-di-truoc-de-bao-dam-loi-ich-quoc-gia-doanh-nghiep-10224010815402865.htm.
[10] https://tuoitre.vn/viet-nam-da-nhan-1-200-ti-dong-tu-ban-tin-chi-carbon-rung-20240321121410398.htm.
[11] https://thanhnien.vn/de-lam-chu-tuong-lai-thanh-nien-can-trang-bi-ky-nang-xanh-185230811154639802.htm.
