Phát triển sản xuất xanh tại Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu kép
Những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp xanh, được xem là trụ cột trong tương lai. Các “kế hoạch xanh” lấy chủ đề bảo vệ môi trường đã được xây dựng, như: “Kế hoạch công nghiệp xanh” của Nhật Bản và “Kế hoạch xanh” của Canada.
Hơn 20 quốc gia, bao gồm: Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Phần Lan, Singapore, Malaysia và Úc, đã triển khai dán nhãn môi trường để thúc đẩy phát triển “sản phẩm xanh” tại các quốc gia này[1]. Trong khi đó, ngày càng nhiều nhà đầu tư và người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Các doanh nghiệp cũng cần tham gia vào sự chuyển đổi này. Quá trình chuyển đổi không chỉ giúp các công ty thích ứng với những thách thức và nhu cầu trong tương lai, mà còn tạo ra giá trị gia tăng về kinh tế và sinh thái. Bằng cách tránh các tác động tiêu cực, thúc đẩy bảo tồn năng lượng và giảm carbon, tham gia vào quá trình phục hồi sinh thái và đạt được chuyển đổi kinh doanh, các công ty sẽ cung cấp động lực đáng kể để thúc đẩy các mục tiêu kép và chuyển đổi tích cực về thiên nhiên, cùng nhau xây dựng một cộng đồng tương lai chung cho nhân loại với sự chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam cũng cần tích cực tham gia vào xu thế chung này, góp phần thực hiện mục tiêu kép đã đặt ra.
1. Phát triển sản xuất xanh để thực hiện mục tiêu kép
Thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch từ tăng trưởng kinh tế sang phát triển bền vững, từ “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh”, từ “kinh tế tuyến tính” sang “kinh tế tuần hoàn” và từ “kinh tế thực” sang “kinh tế số”[2]. Tăng trưởng xanh là trọng tâm để đạt được 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc vào năm 2030. Việt Nam, cũng như chính phủ nhiều nước: EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, đã triển khai hoặc thông qua Chiến lược tăng trưởng xanh nhằm cải thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách.
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã tiến hành xây dựng và thực thi các chiến lược và chính sách về xóa đói giảm nghèo, phát triển con người và phát triển bền vững. Năm 2004, trong Chương trình nghị sự 21, Việt Nam đã ban hành Định hướng chiến lược về phát triển bền vững. Từ đó, nhiều chiến lược, kế hoạch và quy định khác nhau đã được ban hành và cập nhật nhằm cân bằng lợi ích kinh tế và mục tiêu phát triển môi trường bền vững.
Năm 2020, Luật Bảo vệ môi trường đã được thông qua, trong đó định nghĩa kinh tế tuần hoàn và nhiều chính sách, quy định về kinh tế tuần hoàn. Tháng 10/2021, Chính phủ Việt Nam cũng đã thông qua Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ngay sau COP26, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc thực hiện các cam kết đã công bố thông qua việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan để triển khai các cam kết này một cách khẩn trương, bao gồm cả việc đưa ra Chương trình hành động.
Trong những năm qua, khái niệm “danh mục xanh”, “dự án xanh” đã được sử dụng khá rộng rãi ở Việt Nam trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính, ngân hàng, nông nghiệp, năng lượng, giao thông, xây dựng…, nhằm thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của các ngành, lĩnh vực. Chính phủ và các cơ quan nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các tiêu chí môi trường, danh mục phân loại xanh ở Việt Nam... Việc quan tâm đầu tư, triển khai các dự án xanh với nội hàm chung là loại dự án đem lại lợi ích về môi trường đã tạo nên những hiệu ứng tích cực với một số thành công nhất định, góp phần thu hút và nâng cao trách nhiệm, vai trò của các tổ chức, cá nhân, các ngành, lĩnh vực trong hoạt động bảo vệ môi trường.Trong giai đoạn 2017 - 2020, đã có nhiều nỗ lực từ các bộ, ngành và các bên liên quan để xây dựng danh mục dự án xanh[3].
Việt Nam đang có vị thế vững chắc để trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực về phát triển công nghiệp bền vững. Theo báo cáo mới của Jones Lang LaSalle (JLL) tại Việt Nam, động lực thị trường công nghiệp, đặc điểm nhân khẩu học thuận lợi và các sáng kiến xanh đang diễn ra của Việt Nam sẽ đóng vai trò là chất xúc tác cho quá trình chuyển đổi bền vững có thể hành động trong lĩnh vực này[4]. Để thực hiện cam kết đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, như đã tuyên bố tại COP26, Việt Nam đang thúc đẩy lộ trình hướng tới nền kinh tế trung hòa carbon thông qua tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả năng lượng và thúc đẩy giao thông điện. Ngành công nghiệp dẫn đầu trong việc đạt được chứng nhận công trình xanh, với hơn 70% dự án được chứng nhận LEED vào năm 2023 là các cơ sở công nghiệp theo Hội đồng Công trình Xanh Hoa Kỳ[5].
Hướng tới thực hiện mục tiêu xanh, Việt Nam đã ban hành Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, ngày 28/5/2022 để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi này, trong đó công nghiệp xanh, công nghiệp sinh thái là một trong những trọng tâm. Hiện nay, việc Việt Nam thí điểm một số dự án với Khu công nghiệp Amata Biên Hòa và Deep C đang cho thấy những tiến bộ đáng kể trong việc triển khai các mô hình khu công nghiệp sinh thái xanh. Các sáng kiến này tập trung vào hiệu quả năng lượng, tái chế chất thải và sử dụng năng lượng tái tạo, mang lại lợi ích đáng kể về môi trường và kinh tế.
Tuy nhiên, xu hướng phát triển xanh và bền vững không chỉ xuất phát từ cam kết chính trị của các chính phủ mà còn từ áp lực thị trường. Thị trường công nghiệp Việt Nam đang ở thời điểm then chốt khi thực hiện phát triển xanh, bền vững không chỉ là tuân thủ quy định, mà còn là lợi thế cạnh tranh. Hiện nay, người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn đến tiêu dùng xanh và lối sống xanh, trong đó, người tiêu dùng yêu cầu các sản phẩm xanh và an toàn. Ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng tăng lên, buộc các nhà sản xuất phải xanh hóa sản phẩm và quy trình sản xuất, cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Vì vậy, các mô hình kinh doanh và lĩnh vực đầu tư mới, bao gồm: kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thành phố thông minh và kinh tế sáng tạo, đang trở thành xu thế đầu tư tất yếu của các doanh nghiệp. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp phát triển theo các tiêu chí của Bộ chỉ số phát triển bền vững của doanh nghiệp (CSI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) đưa ra từ năm 2016[6].
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, Việt Nam cũng gặp phải những thách thức trong việc phát triển sản xuất xanh, như: (i) Chất lượng đổi mới công nghệ xanh chưa cao và sự hỗ trợ cho sản xuất xanh chưa đầy đủ. So với trình độ tiên tiến của thế giới, công nghệ xanh của nước ta nói chung vẫn đang trong giai đoạn đầu và thiếu các công nghệ cốt lõi tiên tiến; (ii) Nhận thức về sản xuất xanh của doanh nghiệp và tiêu dùng xanh của người dân còn chưa đầy đủ, chưa hình thành được bầu không khí sản xuất xanh, lối sống xanh; (iii) Hệ thống pháp lý và quy định về sản xuất và tiêu dùng xanh còn chưa hoàn thiện; (iv) Sự phối hợp của các chính sách khuyến khích và ưu đãi tài chính cho sản xuất xanh chưa đầy đủ; (v) Các công cụ đánh giá và hệ thống tiêu chuẩn cho các cấp độ sản xuất xanh chưa được hoàn thiện. Tiêu chuẩn là bước đầu tiên và then chốt trong việc xây dựng hệ thống sản xuất xanh. Đặc biệt, việc xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm xanh chậm tiến độ sẽ ảnh hưởng đến sự nhiệt tình của các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu phát triển, quảng bá và ứng dụng.
2. Môt số giải pháp
Nhằm phát triển sản xuất xanh nhằm thực hiện mục tiêu kép, cần có thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cải thiện luật pháp và quy định liên quan đến sản xuất xanh và tăng cường sự phối hợp chính sách: Sản xuất xanh có tính hệ thống, lâu dài và mang tính chiến lược. Việc tái cơ cấu và quy hoạch toàn bộ chuỗi công nghiệp sản xuất xanh xoay quanh mục tiêu kép là hết sức cấp thiết. Lộ trình và các thông số kỹ thuật vận hành hỗ trợ cung cấp tài liệu tham khảo toàn diện cho sự phát triển trung và dài hạn của sản xuất xanh công nghiệp. Đối với các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng, như: thép, hóa chất, kim loại màu và vật liệu xây dựng, cần có chính sách hợp lý và kiểm soát tổng thể dựa trên việc điều chỉnh cơ cấu và nâng cấp công nghiệp, đồng thời, đề xuất kế hoạch phát triển xanh công nghiệp tổng thể, cải thiện lượng khí thải; hệ thống giấy phép; dựa trên các điều kiện kinh tế của từng khu vực và khả năng chịu đựng môi trường, xây dựng một cách khoa học tổng hạn ngạch phát thải carbon và mở rộng phạm vi thị trường mua bán khí thải carbon một cách có trật tự. Về mặt pháp luật và quy định, xem xét việc xây dựng luật, quy định liên quan đến “Khuyến khích sản xuất xanh” để kích thích các doanh nghiệp tích cực tham gia và chuyển đổi sang sản xuất xanh.
Thứ hai, tối ưu hóa hệ thống chính sách tài chính xanh và hướng dẫn các nguồn lực hướng tới sản xuất xanh: Thực hiện các chính sách bảo hiểm và tín dụng xanh nhằm tập trung hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và hiệu quả trong các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thực hiện chuyển đổi năng lượng truyền thống sang chuyển đổi xanh và ít carbon trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng, khuyến khích phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo. Xây dựng chính sách ưu tiên cho các dự án sử dụng toàn diện chất thải rắn công nghiệp số lượng lớn…
Thứ ba, hoàn thiện tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách cho tín dụng xanh, trái phiếu xanh, phân loại xanh sau khi tiêu chí môi trường đối với dự án đầu tư được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh được ban hành để quản lý hiệu quả, đồng bộ các vấn đề về tín dụng xanh, trái phiếu xanh; ưu đãi, hỗ trợ cho tín dụng xanh, trái phiếu xanh; có cơ chế xác nhận dự án đầu tư thuộc Danh mục phân loại xanh để làm căn cứ hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cụ thể của Nhà nước[7].
Thứ tư, lựa chọn và tập trung phát triển nhóm doanh nghiệp đầu ngành và một số lĩnh vực điển hình để triển khai các dự án ứng dụng thiết bị công nghệ tiết kiệm năng lượng thực hiện chuyển đổi xanh quy trình sản xuất đối với các quy trình trọng điểm còn thiếu quy trình sản xuất cơ bản, hình thành các nhà máy kỹ thuật số linh hoạt, xanh và hiệu quả; các khu vực tập trung thiết bị chế tạo, hình thành trung tâm công nghệ chế tạo xanh.
Thứ năm, tăng cường đổi mới công nghệ xanh độc lập, tạo đột phá ở một số công nghệ cốt lõi chủ chốt: Tập trung đi đầu trong các lĩnh vực kỹ thuật, như: tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, sản xuất sạch, năng lượng sạch, thực hiện một số dự án trình diễn trọng điểm về sản xuất xanh, đẩy mạnhquảng bá các chính sách trọng điểm về tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Tập trung đẩy mạnh nghiên cứu phát triển, ứng dụng các công nghệ liên quan đến quy trình sản xuất, thiết bị tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển quy trình sản xuất thông minh, hiệu quả và sạch.
Thứ sáu, doanh nghiệp cần hướng đến việc xây dựng và tham gia các tiêu chuẩn tiên tiến quốc tế và tạo ra hệ thống tiêu chuẩn hạng nhất trong lĩnh vực sản xuất xanh[8]. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, chứng nhận, ghi nhãn sản phẩm xanh mang tính hệ thống, khoa học, công khai và tích hợp, với các chỉ số tiên tiến, thẩm quyền và thống nhất, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tham khảo thông lệ quốc tế mới nhất; Cải thiện hệ thống chứng nhận và ghi nhãn sản phẩm xanh; Tiếp tục tăng số lượng sản phẩm xanh cung cấp cho thị trường các tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm; Thúc đẩy xây dựng hệ thống tín dụng sản phẩm xanh, tận dụng công nghệ thông tin thế hệ mới để cải tiến các phương pháp giám sát sản phẩm xanh, tối ưu hóa cơ chế đánh giá định lượng các chỉ số chứng nhận; Tăng cường xây dựng nền tảng dịch vụ và nền tảng thông tin cơ bản về công nghệ công nghiệp, tiếp tục phát triển một số sản phẩm xanh đáp ứng tiêu chuẩn sản phẩm, chứng nhận và thử nghiệm các tổ chức dịch vụ chuyên nghiệp để xây dựng nền tảng thông tin sản phẩm xanh thống nhất. Tham gia xây dựng, đánh giá nhà máy xanh để đạt các tiêu chuẩn nhà máy xanh trong tương lai.
Thứ bảy, chủ động đào tạo nâng cao trình độ tin học hóa trong quản lý năng lượng và đẩy nhanh việc xây dựng các trung tâm dữ liệu xanh.
Thứ tám, tăng cường hợp tác quốc tế trong sản xuất xanh và phát triển thương mại các sản phẩm xanh. Tận dụng tối đa các cơ chế hợp tác và trao đổi sản xuất xanh với các nước phát triển. Sử dụng hợp lý các biện pháp thương mại công nghệ sản phẩm xanh, tích cực ứng phó với các rào cản xanh của nước ngoài, làm tốt việc gắn kết các quy định thương mại xanh với chính sách xuất nhập khẩu, tối ưu hóa cơ cấu sản phẩm thương mại, phát triển các sản phẩm xanh chất lượng cao, giá trị gia tăng cao và xây dựng hệ thống thương mại sản phẩm xanh.
Minh Phong
[1]Guomin Lin and Botao Hao (2020), Research on green manufacturing technology, Journal of Physics Conference Series, 1601(4), 042046.
[2]https://wtocenter.vn/chuyen-de/19821-viet-nams-green-economy-from-vision-to-action.
[3]https://vneconomy.vn/xay-dung-cac-tieu-chi-moi-truong-danh-muc-phan-loai-xanh-o-viet-nam.htm.
[4]https://www.joneslanglasalle.com.vn/en/trends-and-insights/research/accelerating-the-green-transition-in-vietnams-industrial-sector.
[5]https://www.joneslanglasalle.com.vn/en/trends-and-insights/research/accelerating-the-green-transition-in-vietnams-industrial-sector.
[6]https://wtocenter.vn/chuyen-de/19821-viet-nams-green-economy-from-vision-to-action.
[7]Lãi suất, thuế, phí, giá, đất đai…
[8]Như: ISO, IEC, ITU…
