Để đổi mới sáng tạo trở thành năng lực của toàn xã hội
Với chủ đề “Đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển của toàn xã hội”, Ngày hội đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 đặt ra yêu cầu khơi dậy sức sáng tạo của mỗi người, mỗi tổ chức, đưa tri thức, công nghệ và sáng kiến vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Điều cốt lõi là tạo môi trường để những ý tưởng có giá trị được nuôi dưỡng, thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng, từng bước hình thành năng lực đổi mới sáng tạo của toàn xã hội.
1. Đổi mới sáng tạo trong yêu cầu phát triển đất nước
Năng lực tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành kết quả thực tế ngày càng có vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Với Việt Nam, yêu cầu nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực tự chủ đặt ra nhiệm vụ đổi mới mô hình phát triển, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực chính. Sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng phụ thuộc vào khả năng tiếp thu, sáng tạo và ứng dụng tri thức trong từng ngành, lĩnh vực.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm đó đặt đổi mới sáng tạo trong tổng thể yêu cầu phát triển đất nước, gắn với sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của Nhân dân. Trong quá trình ấy, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi.
Những nỗ lực ấy đang có kết quả bước đầu. Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ngày 29/9/2026, Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025 và 16 bậc so với năm 2016; tiếp tục đứng thứ ba trong ASEAN và dẫn đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao, xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Tuy nhiên, khoảng cách giữa đầu ra (hạng 35) và đầu vào đổi mới sáng tạo (hạng 54) cho thấy nền tảng về thể chế, nguồn nhân lực, đầu tư cho nghiên cứu và sự tham gia của các chủ thể vẫn cần được củng cố mạnh mẽ hơn, nếu muốn đạt mục tiêu vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu vào năm 2030 và nhóm 30 vào năm 2045 như Nghị quyết số 57-NQ/TW đề ra.
Từ yêu cầu đó, cần khắc phục cách hiểu thu hẹp đổi mới sáng tạo vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, khởi nghiệp hay các ngành công nghệ cao. Đổi mới sáng tạo cần hiện diện trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và đời sống xã hội. Một doanh nghiệp cải tiến quy trình để tiết kiệm nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm; một cơ quan đổi mới phương thức phục vụ để giảm thời gian, chi phí cho người dân; một cơ sở giáo dục áp dụng phương pháp phù hợp để nâng cao chất lượng dạy và học đều đang tạo ra những giá trị thiết thực từ đổi mới sáng tạo. Những cải tiến ở từng đơn vị, khi được kiểm chứng và nhân rộng, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế và xã hội.
Thước đo của đổi mới sáng tạo vì vậy cần gắn với giá trị được tạo ra qua quá trình triển khai, ứng dụng. Một ý tưởng có triển vọng cần được thử nghiệm và hoàn thiện; một giải pháp công nghệ cần chứng minh hiệu quả trong điều kiện sử dụng cụ thể; một kết quả nghiên cứu ứng dụng cần được kết nối với nhu cầu của sản xuất và đời sống. Đồng thời, phải coi trọng nghiên cứu cơ bản, bởi việc tích lũy tri thức, phát hiện quy luật và phát triển phương pháp mới tạo nền tảng cho những bước tiến lâu dài. Gắn kết nghiên cứu, ứng dụng và nhu cầu thực tiễn là điều kiện để phát huy đầy đủ giá trị của khoa học và mở rộng khả năng đổi mới sáng tạo.
Đặt trong yêu cầu phát triển đất nước, đổi mới sáng tạo cần trở thành năng lực thường xuyên của mỗi tổ chức và của toàn xã hội: nhận diện đúng vấn đề, huy động tri thức và nguồn lực để tìm lời giải, tổ chức thực hiện và tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở kết quả thực tế. Năng lực ấy giúp đất nước chủ động thích ứng với biến động, tận dụng cơ hội phát triển và từng bước nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
2. Khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của toàn xã hội
Phát huy sức sáng tạo của toàn xã hội trước hết cần giúp mỗi người nhận thấy khả năng tham gia và trách nhiệm của mình. Đổi mới sáng tạo có thể bắt đầu từ những vấn đề cụ thể trong công việc, từ nhu cầu cải thiện điều kiện sản xuất, học tập và đời sống. Người nông dân điều chỉnh phương thức canh tác để sử dụng hiệu quả nguồn nước; người công nhân cải tiến thao tác nhằm giảm sai sót, nâng cao năng suất; cán bộ, công chức đề xuất quy trình xử lý công việc thuận tiện hơn; học sinh, sinh viên tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng. Khi được triển khai và mang lại hiệu quả, những sáng kiến ấy góp phần tạo nên nền tảng rộng khắp cho đổi mới sáng tạo.
Đổi mới sáng tạo toàn xã hội không có nghĩa là ai cũng phải trở thành nhà phát minh. Điều cần thiết là mỗi người có tinh thần học hỏi, biết phát hiện những bất hợp lý, chủ động tìm cách làm tốt hơn và có cơ hội đóng góp sáng kiến. Khả năng tiếp thu, vận dụng công nghệ và kinh nghiệm đã được kiểm chứng cũng rất quan trọng, nhất là với những tổ chức, doanh nghiệp còn hạn chế về nguồn lực nghiên cứu. Từ tiếp nhận, thích ứng đến cải tiến và sáng tạo, mỗi chủ thể có thể lựa chọn cách tham gia phù hợp với năng lực và nhu cầu của mình. Phong trào “Bình dân học vụ số” là một minh chứng cho thấy khi mục tiêu rõ ràng, cách làm gần gũi, sự tham gia của toàn dân hoàn toàn có thể trở thành hiện thực.
Sự tham gia rộng rãi ấy cần hướng vào những bài toán thiết thực của đất nước như: nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; làm chủ công nghệ; bảo đảm an ninh năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao chất lượng y tế, giáo dục; cải thiện quản trị và dịch vụ công. Xác định đúng nhu cầu là cơ sở để định hướng nghiên cứu, lựa chọn công nghệ và huy động nguồn lực. Những vấn đề nảy sinh từ sản xuất và đời sống cần được chuyển thành các yêu cầu cụ thể, có chủ thể đặt hàng, có sự phối hợp giải quyết và có tiêu chí đánh giá kết quả.
Trong quá trình đó, doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đặt hàng, đầu tư, ứng dụng công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và mở rộng thị trường. Nhu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, đáp ứng yêu cầu của khách hàng tạo động lực để doanh nghiệp đổi mới. Các viện nghiên cứu, trường đại học cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và địa phương, cùng xác định vấn đề, tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện giải pháp. Nhà nước tạo lập môi trường thể chế thuận lợi, định hướng ưu tiên, đầu tư cho những nền tảng thiết yếu và thúc đẩy kết nối. Các tổ chức trung gian, tổ chức tài chính, quỹ đầu tư hỗ trợ tư vấn, đánh giá công nghệ, huy động vốn và phát triển thị trường. Sự phối hợp giữa các chủ thể giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng.
Để sự phối hợp ấy có hiệu quả, cần tạo điều kiện cho sáng kiến được tiếp nhận và phát triển. Tại cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng, người có đề xuất cần biết ý tưởng của mình được gửi đến đâu, được xem xét như thế nào và có thể nhận được sự hỗ trợ gì. Những giải pháp có triển vọng cần được tiếp cận chuyên gia, dữ liệu, hạ tầng thử nghiệm và nguồn lực phù hợp để kiểm chứng, hoàn thiện. Cách đánh giá phải căn cứ vào đặc điểm của từng hoạt động, coi trọng hiệu quả và triển vọng ứng dụng, đồng thời nhìn nhận đầy đủ tính bất định của quá trình nghiên cứu, thử nghiệm. Việc ghi nhận đóng góp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích hợp lý sẽ tạo động lực để các bên hợp tác lâu dài.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và người lao động, sự hỗ trợ cần gần với khả năng tiếp cận và nhu cầu sử dụng. Tư vấn lựa chọn công nghệ, hướng dẫn cải tiến quy trình, đào tạo kỹ năng và kết nối với cơ sở nghiên cứu có thể giúp giải quyết những khó khăn cụ thể. Những mô hình đã phát huy hiệu quả cần được tổng kết cả về kết quả, chi phí, điều kiện thực hiện và giới hạn áp dụng để các chủ thể khác có thể học tập, điều chỉnh phù hợp. Nhân rộng đổi mới sáng tạo vì thế đòi hỏi sự hỗ trợ liên tục, gắn với đặc điểm của từng ngành, địa phương và nhóm đối tượng.
Kết quả phát huy sức sáng tạo của toàn xã hội cần được thể hiện qua những chuyển biến cụ thể: công việc được giải quyết hiệu quả hơn, nguồn lực được sử dụng tiết kiệm hơn, sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn, người dân được phục vụ tốt hơn. Các hoạt động hưởng ứng, cuộc thi và hình thức tôn vinh cần gắn với quá trình tiếp nhận, hỗ trợ triển khai và theo dõi kết quả sáng kiến. Ở cấp địa phương, Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hằng năm là công cụ để mỗi tỉnh, thành phố nhận diện điểm mạnh, điểm nghẽn và có giải pháp phù hợp. Đó là cơ sở để đổi mới sáng tạo trở thành hoạt động thường xuyên, tạo ra đóng góp bền vững cho phát triển đất nước.
3. Phát huy vai trò công tác tuyên giáo trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Để đổi mới sáng tạo trở thành năng lực của toàn xã hội, cần xây dựng môi trường coi trọng tri thức, khuyến khích tìm tòi và tạo điều kiện cho những cách làm có giá trị được phát triển. Trong quá trình đó, công tác tuyên giáo có trách nhiệm góp phần thống nhất nhận thức, củng cố niềm tin và thúc đẩy hành động thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hiệu quả tuyên truyền cần thể hiện ở việc cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, thấy được trách nhiệm và chủ động tham gia bằng những việc làm phù hợp.
Trước hết, cần làm rõ vị trí của đổi mới sáng tạo trong yêu cầu phát triển đất nước và trong công việc của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cộng đồng. Tuyên truyền về Nghị quyết số 57-NQ/TW cần gắn với những vấn đề thực tiễn, giải thích được vì sao phải đổi mới, đổi mới từ đâu và kết quả mang lại cho người dân, doanh nghiệp là gì. Đối với cán bộ, đảng viên, nhận thức đó phải được thể hiện qua tinh thần chủ động học hỏi, cải tiến phương pháp làm việc và giải quyết công việc có trách nhiệm. Người đứng đầu cần quan tâm tiếp nhận đề xuất, tạo điều kiện xem xét, thử nghiệm những sáng kiến phù hợp và đánh giá hiệu quả trên cơ sở kết quả thực hiện.
Truyền thông chính sách cần giúp các chủ thể hiểu và tiếp cận được những điều kiện hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Thông tin phải chính xác, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng; làm rõ phạm vi, điều kiện thụ hưởng, đầu mối hướng dẫn và cách thức tham gia. Những nội dung chuyên sâu về công nghệ, sở hữu trí tuệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu cần có sự phối hợp của chuyên gia và cơ quan chuyên môn. Khi người dân, doanh nghiệp biết tìm thông tin đáng tin cậy ở đâu, liên hệ với ai và thực hiện những bước nào, công tác tuyên truyền mới góp phần đưa chính sách vào cuộc sống.
Cùng với truyền thông chính sách, cần chú trọng nâng cao hiểu biết khoa học và khả năng đánh giá, lựa chọn công nghệ của xã hội. Trước sự xuất hiện nhanh chóng của các công nghệ và mô hình mới, thông tin tuyên truyền phải làm rõ giá trị, điều kiện ứng dụng và những giới hạn cần lưu ý. Cách truyền đạt cần có căn cứ, tránh đề cao quá mức một công nghệ hoặc tạo kỳ vọng vượt quá khả năng thực tế. Sự hiểu biết đúng đắn giúp người dân, doanh nghiệp chủ động tiếp nhận tiến bộ khoa học, đồng thời có cơ sở nhận diện thông tin thiếu chính xác và lựa chọn giải pháp phù hợp.
Một nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài là xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng. Văn hóa ấy được nuôi dưỡng từ tinh thần tôn trọng tri thức, trung thực trong nghiên cứu, sẵn sàng lắng nghe ý kiến khác biệt, khuyến khích đặt câu hỏi và kiên trì tìm lời giải. Cần đề cao trách nhiệm đối với kết quả công việc, đồng thời có thái độ khách quan trước những thử nghiệm chưa đạt mục tiêu, coi trọng việc rút kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện. Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 02/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã xác định nhiệm vụ truyền thông đồng bộ, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Định hướng này cần được cụ thể hóa bằng hoạt động giáo dục, tuyên truyền và thực hành thường xuyên, phù hợp với từng môi trường.
Phát hiện, giới thiệu và tôn vinh điển hình là một phương thức quan trọng để lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo. Sức thuyết phục của mỗi điển hình nằm ở vấn đề đã giải quyết, cách thức thực hiện và lợi ích mang lại. Vì vậy, khi giới thiệu một sáng kiến, sản phẩm hay mô hình, cần làm rõ cả quá trình tìm tòi, những khó khăn đã vượt qua và điều kiện để áp dụng ở nơi khác. Những câu chuyện về người lao động cải tiến kỹ thuật, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, nhà khoa học bền bỉ hoàn thiện công nghệ hay cán bộ đổi mới cách phục vụ Nhân dân sẽ có giá trị giáo dục sâu sắc khi được phản ánh chân thực. Qua đó, việc biểu dương góp phần chia sẻ kinh nghiệm, khuyến khích học tập và mở rộng khả năng ứng dụng.
Công tác tuyên giáo cũng cần gắn chặt với nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội và phản hồi từ thực tiễn triển khai. Những băn khoăn của nhà khoa học, khó khăn của doanh nghiệp, tâm lý e ngại thay đổi trong cơ quan, đơn vị hay vướng mắc khi người dân tiếp cận chính sách cần được nhận diện kịp thời. Thông qua phối hợp với cơ quan chuyên môn, các tổ chức khoa học và công nghệ, đội ngũ trí thức và doanh nghiệp, cần tổng hợp, phản ánh đúng vấn đề, tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Quá trình lắng nghe và phản hồi có trách nhiệm sẽ góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận và khuyến khích các chủ thể tiếp tục đóng góp sáng kiến.
Để những nội dung đó đến được với đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân, cần phối hợp hiệu quả giữa báo chí, Hệ thống thông tin Tuyên giáo, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và các nền tảng số. Mỗi kênh cần lựa chọn cách thể hiện phù hợp, chú trọng thông tin ngắn gọn, dễ tiếp cận nhưng bảo đảm chiều sâu và tính chính xác. Việc tuyên truyền cần được duy trì thường xuyên, gắn với những vấn đề và kết quả cụ thể của từng ngành, địa phương; qua đó tạo sự tiếp nối từ nhận thức đến hành động.
Hưởng ứng Ngày hội đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 là dịp để mỗi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mỗi người xác định những việc có thể làm tốt hơn, những vấn đề cần tìm cách giải quyết và những sáng kiến cần được hỗ trợ thực hiện. Khi tinh thần ấy trở thành việc làm thường xuyên, sức sáng tạo của toàn xã hội sẽ được bồi đắp từ chính những kết quả cụ thể. Đó là đóng góp thiết thực vào việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chính cho phát triển đất nước./.
TS. Ngô Đình Sáng, Phó Vụ trưởng,
TS. Trương Công Doanh,
Vụ Khoa học và Công nghệ, Ban Tuyên giáo Trung ương
