Phát triển đối ngoại nhân dân Việt Nam: Một số kinh nghiệm thực tiễn vận dụng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, cùng với sự nổi lên của các thách thức an ninh phi truyền thống, đối ngoại nhân dân ngày càng khẳng định vai trò là một kênh quan trọng trong nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam.

Không chỉ góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định, đối ngoại nhân dân (ĐNND) còn trực tiếp tham gia lan tỏa giá trị văn hóa, nâng cao hình ảnh quốc gia và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục phát huy truyền thống, tổng kết thực tiễn, nâng tầm hiệu quả của ĐNND, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống lịch sử hình thành và phát triển của ĐNND Việt Nam, từ đó rút ra các kinh nghiệm và đề xuất định hướng vận dụng trong giai đoạn mới là hết sức cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.

1. Một số kinh nghiệm thực tiễn từ lịch sử đối ngoại nhân dân Việt Nam

Từ thực tiễn lịch sử phát triển của đối ngoại nhân dân Việt Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm cơ bản sau:

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với hòa bình, hợp tác và phát triển

   Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động ĐNND. Dù trong chiến tranh hay hòa bình, đối ngoại nhân dân luôn phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời gắn với các giá trị chung của nhân loại như hòa bình, công lý, phát triển bền vững.

Hai là, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân

Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của ĐNND. Sức mạnh của đối ngoại nhân dân chính là sức mạnh của quần chúng, của các tổ chức xã hội, của cộng đồng người Việt Nam ở cả trong và ngoài nước.

Ba là, kết hợp chặt chẽ các kênh đối ngoại

Đối ngoại nhân dân luôn được triển khai trong mối quan hệ hữu cơ với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao toàn diện.

Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong phương thức hoạt động

Tùy từng giai đoạn lịch sử, đối ngoại nhân dân luôn có sự điều chỉnh linh hoạt về nội dung và phương thức, từ vận động phong trào phản chiến đến ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng đến ngoại giao số.

Năm là, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới

Việc xây dựng mạng lưới bạn bè quốc tế rộng khắp để tăng cường hiểu biết lẫn nhau hướng tới xây dựng lòng tin, đoàn kết, trách nhiệm, tranh thủ sự ủng hộ,… đây  là một trong những thành công nổi bật của đối ngoại nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh và phát triển.

Sáu là, phát huy sức mạnh mềm của quốc gia

Đối ngoại nhân dân là kênh quan trọng để lan tỏa các giá trị văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, qua đó nâng cao uy tín và vị thế quốc gia.

2. Vận dụng kinh nghiệm đối ngoại nhân dân trong giai đoạn phát triển mới (kỷ nguyên vươn mình của dân tộc)

- Bối cảnh mới đặt ra đối với đối ngoại nhân dân Việt Nam

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, Việt Nam đứng trước một bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến chuyển nhanh chóng, sâu sắc, vừa mở ra những thời cơ chiến lược, vừa đặt ra không ít thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tổng thể đó, ĐNND với tư cách là một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, phải được nâng tầm cả về tư duy, nội dung và phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

    Trước hết, môi trường quốc tế đang chứng kiến sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xu hướng phân cực, phân mảnh trong quan hệ quốc tế ngày càng rõ nét. Các yếu tố bất ổn như xung đột khu vực, cạnh tranh địa chính trị, tranh chấp chủ quyền, an ninh phi truyền thống… tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. “Nhân loại bước vào một giai đoạn tiềm ẩn những rủi ro nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển mới. Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển, có thể đứng ngoài sự vận động của thời cuộc”[1].Trong bối cảnh đó, nhu cầu xây dựng lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây chính là không gian hoạt động đặc thù và lợi thế của ĐNND, nơi “sức mạnh mềm” của quốc gia được phát huy thông qua các kênh giao lưu, hợp tác và kết nối xã hội.

   Hai là, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển, song đi kèm với đó là sự gia tăng của chủ nghĩa dân túy, bảo hộ, và những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực. Những vấn đề này không thể giải quyết bằng nỗ lực của một quốc gia đơn lẻ, mà đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của các chủ thể phi nhà nước, các tổ chức xã hội và nhân dân. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với ĐNND phải chủ động tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương, góp phần định hình các chuẩn mực và luật lệ quốc tế, đồng thời tranh thủ nguồn lực phục vụ phát triển bền vững đất nước.

    Ba là, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ số và truyền thông mạng xã hội, đang làm thay đổi căn bản phương thức tương tác giữa các quốc gia và nhân dân các nước. Không gian mạng trở thành một “không gian đối ngoại mới”, nơi thông tin được lan tỏa với tốc độ nhanh chóng, tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ của công chúng quốc tế. Trong điều kiện đó, ĐNND không chỉ dừng lại ở các hoạt động giao lưu truyền thống, mà cần mở rộng sang ngoại giao số, ngoại giao công chúng, chủ động tham gia vào cuộc cạnh tranh về thông tin và hình ảnh quốc gia.

Bốn là, trong nước, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Điều này đòi hỏi phải tạo dựng và duy trì một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc gia. Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, trong đó ĐNND giữ vai trò quan trọng trong việc, “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, … nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”, “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”[2].

Năm là, yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới, trong đó cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở thành một nguồn lực quan trọng của đất nước. Với khoảng 6 triệu người Việt Nam sinh sống ở trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ[3], đây là lực lượng có khả năng kết nối, lan tỏa hình ảnh Việt Nam ra thế giới, đồng thời là cầu nối quan trọng trong đối ngoại nhân dân.

  Như vậy, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng tầm ĐNND cả về nhận thức và hành động, chuyển từ tư duy “hỗ trợ” sang “chủ động”, từ “tham gia” sang “định hình”, từ “truyền thống” sang “hiện đại, chuyên nghiệp”, nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

- Định hướng vận dụng kinh nghiệm đối ngoại nhân dân trong giai đoạn mới

Trên cơ sở những kinh nghiệm được đúc kết từ lịch sử, việc vận dụng trong giai đoạn phát triển mới cần được thực hiện một cách sáng tạo, phù hợp với bối cảnh và yêu cầu nhiệm vụ mới. Theo đó, một số định hướng lớn cần được xác định như sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với hòa bình, hợp tác và phát triển, đồng thời nâng tầm tư duy ĐNND theo hướng chủ động, tích cực, sáng tạo. Nếu như trong các giai đoạn trước, ĐNND chủ yếu nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, thì trong bối cảnh hiện nay, cần chuyển mạnh sang việc tham gia định hình các vấn đề khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao vai trò và tiếng nói của Việt Nam trong các diễn đàn quốc tế. Điều này đòi hỏi phải đổi mới tư duy từ “đối ngoại phục vụ” sang “đối ngoại kiến tạo”, từ “ứng phó” sang “chủ động dẫn dắt trong một số lĩnh vực phù hợp”.

Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong điều kiện mới, gắn với việc xây dựng và phát triển nền ngoại giao toàn dân. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức mạnh của ĐNND chính là sức mạnh của quần chúng, của các tổ chức xã hội và của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trong bối cảnh hiện nay, cần mở rộng phạm vi chủ thể tham gia ĐNND, bao gồm không chỉ các tổ chức chính trị - xã hội mà còn cả doanh nghiệp, giới trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, và đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Việc phát huy vai trò của các chủ thể này sẽ tạo nên một “mạng lưới đối ngoại nhân dân rộng khắp”, góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam một cách tự nhiên, bền vững.

Thứ ba, tăng cường kết hợp chặt chẽ giữa các kênh đối ngoại, bảo đảm sự thống nhất trong mục tiêu và linh hoạt trong phương thức. Đối ngoại nhân dân cần được đặt trong tổng thể nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, phối hợp hiệu quả với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước. Sự kết hợp này không chỉ giúp tận dụng tối đa nguồn lực, mà còn tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả của công tác đối ngoại. Trong đó, ĐNND có lợi thế đặc thù trong việc tiếp cận các tầng lớp xã hội, xây dựng lòng tin và tạo dựng dư luận quốc tế thuận lợi.

Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, thích ứng với sự phát triển của khoa học - công nghệ và yêu cầu của thời đại. Bên cạnh các hoạt động giao lưu truyền thống, cần đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng và đặc biệt là ngoại giao số. Việc sử dụng hiệu quả các nền tảng số, mạng xã hội, truyền thông quốc tế sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận công chúng, lan tỏa thông tin tích cực về Việt Nam, đồng thời đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch. Đây là một trong những yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh về thông tin ngày càng gay gắt.

Thứ năm, tập trung vào các vấn đề toàn cầu và lợi ích chung của nhân loại, qua đó nâng cao vị thế và trách nhiệm của Việt Nam. ĐNND Đối cần tích cực tham gia vào các lĩnh vực như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, an ninh con người, bình đẳng giới… Đây không chỉ là những vấn đề mang tính toàn cầu, mà còn gắn trực tiếp với lợi ích của Việt Nam. Chủ động tham gia và đóng góp vào giải quyết các vấn đề này sẽ giúp nâng cao hình ảnh một Việt Nam có trách nhiệm, tích cực và đáng tin cậy.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại nhân dân, bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, cán bộ làm công tác ĐNND cần được trang bị kiến thức toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, luật pháp quốc tế, cùng với các kỹ năng truyền thông, vận động quốc tế, ngoại ngữ và công nghệ số. Đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động ĐNND trong giai đoạn mới.

3. Kiến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng kinh nghiệm thực tiễn về đối ngoại nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Lan tỏa tinh hoa làng nghề truyền thống đến du khách quốc tế (ảnh: Phan Vũ Trọng)

Việc vận dụng các kinh nghiệm lịch sử của ĐNND Việt Nam trong bối cảnh hiện nay không chỉ là sự kế thừa đơn thuần, mà đòi hỏi phải được thể chế hóa thành các định hướng, chính sách cụ thể, phù hợp với yêu cầu của nền ngoại giao hiện đại và mục tiêu phát triển đất nước trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trên cơ sở những bài học đã được đúc kết, cần tập trung vào một số kiến nghị chính sách mang tính nền tảng sau:

Một là, thể chế hóa một cách đầy đủ và nhất quán các bài học kinh nghiệm đối ngoại nhân dân vào đường lối, chiến lược đối ngoại quốc gia

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, ĐNND chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong tổng thể đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Do đó, cần cụ thể hóa các bài học như: kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy vai trò của nhân dân; phối hợp các kênh đối ngoại… thành các quan điểm chỉ đạo mang tính chiến lược. Việc thể chế hóa không chỉ dừng lại ở các văn kiện mang tính định hướng, mà cần được cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động với mục tiêu, lộ trình và tiêu chí đánh giá rõ ràng.

Hai là, xây dựng cơ chế chuyển hóa kinh nghiệm lịch sử thành năng lực thực tiễn trong tổ chức hoạt động đối ngoại nhân dân

 Một trong những hạn chế hiện nay là khoảng cách giữa tổng kết kinh nghiệm và vận dụng vào thực tiễn. Do đó, cần thiết lập các cơ chế nhằm “chuyển hóa” kinh nghiệm thành năng lực hành động cụ thể, thông qua việc xây dựng các mô hình hoạt động, quy trình chuẩn và bộ công cụ triển khai đối ngoại nhân dân trong các lĩnh vực khác nhau. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các vấn đề đối ngoại ngày càng phức tạp, đòi hỏi tính chuyên nghiệp và khả năng thích ứng cao.

Ba là, đổi mới tư duy vận dụng kinh nghiệm theo hướng chủ động, sáng tạo và thích ứng với bối cảnh mới

Kinh nghiệm lịch sử là nền tảng, song không thể áp dụng một cách máy móc. Việc vận dụng cần đặt trong điều kiện cụ thể của giai đoạn hiện nay, khi môi trường quốc tế có nhiều biến động, phương thức tương tác giữa các quốc gia đã thay đổi sâu sắc. Do đó, cần chuyển từ tư duy “vận dụng kinh nghiệm” sang “phát triển kinh nghiệm”, trong đó nhấn mạnh tính sáng tạo, khả năng dự báo và thích ứng. Điều này đặc biệt quan trọng khi vận dụng kinh nghiệm thực tiễn của ĐNND trong các lĩnh vực mới như ngoại giao số, ngoại giao công chúng, hay tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Bốn là, tăng cường gắn kết giữa tổng kết thực tiễn và hoạch định chính sách đối ngoại nhân dân

Kinh nghiệm chỉ có giá trị khi được tổng kết một cách khoa học và kịp thời, từ đó phục vụ cho việc điều chỉnh chính sách. Do đó, cần thiết lập cơ chế thường xuyên tổng kết, đánh giá các hoạt động ĐNND, đặc biệt là các mô hình hiệu quả, các điển hình tiên tiến, cũng như những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng có thể kịp thời điều chỉnh chính sách, bảo đảm tính phù hợp với thực tiễn và nâng cao hiệu quả vận dụng kinh nghiệm.

Năm là, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ vận dụng kinh nghiệm đối ngoại nhân dân

Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đối ngoại, việc đánh giá không thể chỉ dựa vào số lượng hoạt động hay quy mô quan hệ, mà cần chú trọng đến mức độ vận dụng các bài học kinh nghiệm vào thực tiễn. Do đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá (KPIs) phản ánh cả yếu tố định lượng và định tính, như: mức độ lan tỏa thông tin tích cực về Việt Nam; khả năng tạo dựng lòng tin; mức độ huy động nguồn lực quốc tế; hay tác động đến nhận thức của công chúng. Đây sẽ là công cụ quan trọng để đo lường hiệu quả thực chất của việc vận dụng kinh nghiệm.

Sáu là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng “nội hóa” kinh nghiệm đối ngoại nhân dân

Kinh nghiệm lịch sử chỉ thực sự phát huy giá trị khi được “nội hóa” vào nhận thức và kỹ năng của đội ngũ cán bộ. Do đó, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp giữa giáo dục truyền thống với trang bị kỹ năng hiện đại. Đội ngũ cán bộ ĐNND cần không chỉ hiểu sâu các bài học lịch sử, mà còn có khả năng vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể, đặc biệt là trong môi trường quốc tế đa dạng và biến động hiện nay.

Bảy là, phát huy vai trò của các chủ thể xã hội trong việc vận dụng kinh nghiệm đối ngoại nhân dân

Một trong những bài học quan trọng là sức mạnh của ĐNND bắt nguồn từ nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, cần mở rộng sự tham gia của các chủ thể như doanh nghiệp, giới trí thức, thanh niên, các tổ chức xã hội và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những lực lượng có khả năng vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm ĐNND trong các lĩnh vực cụ thể, qua đó góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam một cách tự nhiên, bền vững.

Tám là, gắn việc vận dụng kinh nghiệm đối ngoại nhân dân với chiến lược phát huy sức mạnh mềm quốc gia

Các bài học lịch sử cho thấy, ĐNND là kênh quan trọng để phát huy sức mạnh mềm của đất nước. Do đó, cần lồng ghép việc vận dụng các kinh nghiệm này vào chiến lược phát triển văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia, quảng bá hình ảnh Việt Nam. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân, mà còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

Nhìn tổng thể, các kiến nghị nêu trên nhằm hướng tới mục tiêu cốt lõi là biến các kinh nghiệm lịch sử thành nguồn lực phát triển, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của hoạt động ĐNND trong giai đoạn mới.

Lịch sử hình thành và phát triển của ĐNND Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay là một quá trình liên tục vận động, thích ứng và phát triển gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Từ những hoạt động vận động quốc tế ban đầu, đến việc hình thành một hệ thống ĐNND ngày càng hoàn chỉnh, có tổ chức, có chiến lược, ĐNND đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, góp phần tích cực vào các thắng lợi lịch sử của đất nước. Những kinh nghiệm được đúc kết qua các giai đoạn không chỉ có giá trị lịch sử, mà còn mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công tác đối ngoại trong bối cảnh hiện nay. Đó là những bài học về kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc; về phát huy sức mạnh của nhân dân; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sự linh hoạt, sáng tạo trong phương thức hoạt động; và về khả năng tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đây chính là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động ĐNND trong giai đoạn phát triển mới.

Trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, việc vận dụng các kinh nghiệm lịch sử của ĐNND không chỉ là yêu cầu mang tính kế thừa, mà còn là nhiệm vụ mang tính đổi mới, sáng tạo. Chất lượng của quá trình vận dụng này cần được đánh giá trên cơ sở mức độ chuyển hóa kinh nghiệm thành năng lực thực tiễn, khả năng thích ứng với bối cảnh mới, cũng như hiệu quả thực chất trong việc nâng cao vị thế, uy tín quốc gia và huy động các nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Điều đó đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa tư duy chiến lược, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và phát huy vai trò của toàn xã hội. Chỉ khi các kinh nghiệm lịch sử được “hiện đại hóa” và “thực tiễn hóa” một cách hiệu quả, ĐNND mới có thể phát huy đầy đủ vai trò là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, giữa lợi ích quốc gia với các giá trị chung của nhân loại.

Trong tổng thể nền ngoại giao Việt Nam, ĐNND không chỉ là một kênh đối ngoại, mà còn là biểu hiện sinh động của bản sắc văn hóa, của tinh thần hòa hiếu, nhân văn của dân tộc Việt Nam. Việc phát huy và vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm ĐNND sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

PGS, TS. GVCC, Thái Văn Long

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

[1] Tô Lâm: “Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới” https://www.tapchicongsan.org.vn/  Ngày đăng 18-02-2026. 11:00

[2] “Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” https://baochinhphu.vn/. Ngày đăng  06/02/2026  21:13

[3] “Người Việt Nam ở nước ngoài - Một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam” https://vov.vn/chinh-tri. Ngày đăng 19/01/2026  05:16