Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” tiến vào kỷ nguyên phát triển mới
Để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, văn minh, trí tuệ, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, trong đó phải học tập nhiều điều mới mẻ mà công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đặt ra.
Tiếp tục kiên định mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, đặc biệt là công tác cán bộ, để đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Phát huy vai trò hạt nhân chính trị của Đảng trong kiến tạo tư duy phát triển, dẫn dắt thể chế, định hình chiến lược, thúc đẩy đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng vươn mình của dân tộc”[1].
1. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm, lập trường xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”[2]. Vì vậy, muốn xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, theo Người, trước tiên là phải tuân thủ theo các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh lý giải vấn đề tập trung trong Đảng là: Thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, tất cả đảng viên phải chấp hành vô điều kiện Nghị quyết của Đảng. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Người nói : “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt”[3]. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng là sự thống nhất biện chứng giữa dân chủ và tập trung, tập trung phải trên cơ sở dân chủ và dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung. Có dân chủ trong Đảng mới có dân chủ ở ngoài xã hội song dân chủ không phải là vô chính phủ.
Về “nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, theo quan điểm của Người, chỉ có tập thể lãnh đạo mới huy động được tất cả trí tuệ của đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc “Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó”[4]. Nhưng theo Người, “tập thể lãnh đạo” mới chỉ là một vế. Người cho rằng: “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau. Bởi lẽ nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”[5].
Về nguyên tắc tự phê bình và phê bình, theo Hồ Chí Minh đây là vũ khí sắc bén nhất để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh và là quy luật phát triển của Đảng. Người nhận thức sâu sắc rằng, tuy Đảng ta gồm những người có tài, có đức, phần đông là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất..., nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”, do vậy trong Đảng phải luôn luôn tự phê bình và phê bình, mà phê bình và tự phê bình: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”[6]. Cách phê bình cũng phải thành thật, giàu lòng nhân ái, khách quan. Thái độ phê bình phải có văn hoá, mang tính chất xây dựng chứ không phải nói xấu nhau. Những người bị phê bình thì phải vui vẻ nhìn nhận để sửa chữa. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.
Vấn đề tư cách của người đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập thường xuyên trên tất cả các mặt, nhưng bao giờ Người cũng coi đạo đức là gốc của người cộng sản: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”[7]. Có thể nói cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về phấn đấu, rèn luyện cho đạo đức của người cộng sản - Đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm mà bất cứ một người đảng viên nào cũng phải phấn đấu học tập và noi theo.
Về vấn đề cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ cách mạng là: có đạo đức cách mạng - đây là yêu cầu đầu tiên cần phải có của người cán bộ; có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi; có mối liên hệ mật thiết với Nhân dân; Luôn luôn học hỏi lý luận Mác - Lênin, học tập nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật. Phải có phong cách công tác tốt, chống bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái,...
Đồng thời với những quan điểm về cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu ra những yêu cầu đối với công tác cán bộ. Đó là phải “hiểu và đánh giá đúng cán bộ”. Muốn vậy phải có những chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, hoàn toàn công minh, khách quan; phải “khéo dùng cán bộ”, tức là đặt người đúng việc, kết hợp cán bộ trẻ với cán bộ già; chống chủ nghĩa biệt phái, địa phương cục bộ trong chính sách cán bộ, tránh đầu óc phe phái họ hàng; phải “chiêu hiền đãi sĩ”, “cầu người hiền tài”, “có gan cất nhắc cán bộ”. Xem xét kỹ trước khi cất nhắc cán bộ, nhưng sau khi đề bạt cần phải kiểm tra giúp đỡ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sức mạnh của Đảng chính là bắt nguồn từ mối liên hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân. Đảng ở trong dân, dân trong Đảng. Sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và vì dân. Mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đều bắt nguồn từ sức mạnh của Nhân dân được Đảng dẫn lối chỉ đường. Đảng là người đại diện trung thành và đầy đủ nhất lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của Nhân dân. Đảng lấy phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân làm mục đích cao nhất của mình. Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”[8]. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ vai trò của Đảng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Thực tiễn hơn 95 năm qua, từ ngày thành lập Đảng đến nay cho thấy, vận mệnh của dân tộc ta đã gắn liền với vận mệnh của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Xa rời quần chúng sẽ suy yếu. Để xây dựng Đảng vững mạnh, ngang tầm với đòi hỏi của dân tộc và thời đại, đặc biệt là trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng phải thật trong sạch. Sức sống, sự lớn mạnh của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ giữa Đảng với Nhân dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng, của dân tộc chứng minh: bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tin tưởng, ủng hộ thì Đảng vững mạnh, lãnh đạo cách mạng thành công; nếu xa rời quần chúng, không được quần chúng tin tưởng, ủng hộ thì sẽ suy yếu, giảm sút sức chiến đấu và có khi vấp phải thất bại. Muốn vững mạnh, muốn được quần chúng tin tưởng, ủng hộ, Đảng phải luôn trong sạch.
Là người lãnh đạo cách mạng, Đảng đề ra đường lối, chiến lược đưa Nhân dân ta đấu tranh giành thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là đảng cầm quyền, Đảng chịu trách nhiệm về mọi mặt đời sống của Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của Nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”[9].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, từ ngày có Đảng, Nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng, do vậy, “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”[10]. Muốn thế, Đảng phải trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của Nhân dân. Quan điểm cách mạng đó là nguyên nhân, là nguồn gốc sâu xa tạo nên sức mạnh của Đảng để Đảng lãnh đạo Nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vĩ đại. “Dễ trăm lần, không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân cho thấy, Đảng luôn vì dân, đặt dân ở vị trí là gốc, Đảng không phải ở trên dân mà ở trong dân. Đảng và dân gắn bó, hòa quyện là một, không tách rời và không thể tách rời.
Cũng là việc của dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là việc của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên nhưng đó cũng là việc của dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cũng thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với dân; không phải “đóng cửa lại” để xây dựng Đảng mà phải xây dựng Đảng từ phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thắng lợi trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng chính là Đảng đã biết phát huy trí tuệ của toàn dân vào việc xây dựng đường lối của Đảng. Đảng tin dân, đưa mọi vấn đề để dân góp ý, thảo luận và cùng tìm cách giải quyết, từ đó có những quyết sách đúng đắn.
Một đảng trong sạch để cho dân tin yêu phải gồm những đảng viên trong sạch, có lý tưởng, đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư vì đảng viên chính là cầu nối giữa Đảng với dân. Là “đầy tớ” của Nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải tận tụy phục vụ Nhân dân, một lòng một dạ vì lợi ích của Nhân dân. Nhân dân theo Đảng làm cách mạng trước hết là do lợi ích thiết thân của chính họ. Đảng được dân tin và một lòng theo Đảng vì trong bất cứ hoàn cảnh nào Đảng cũng toàn tâm, toàn ý phục vụ Nhân dân, đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết và trước hết.
Là đảng cầm quyền, đặc biệt trong thời kỳ đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, sự trong sạch của bộ máy Đảng càng là một đòi hỏi khách quan. Đó là bởi “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của Nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”[11]. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là lý tưởng, là mục tiêu đấu tranh và cũng là lý do tồn tại của Đảng. Đảng ra đời, tồn tại vì điều đó và toàn bộ hoạt động của Đảng cũng là nhằm đạt được điều đó. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[12]. Chính vì thế, những “ông quan cách mạng” xa dân, nhũng nhiễu, hạch sách dân luôn bị Nhân dân khinh bỉ, căm ghét. Họ đã làm tổn hại đến uy tín, làm suy yếu Đảng. Để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, phải kiên quyết đưa những đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên nhân sâu xa khiến người đảng viên mắc những căn bệnh nguy hiểm, như: kiêu ngạo, hống hách, tham ô, lãng phí chính là chủ nghĩa cá nhân. “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[13]. Chính chủ nghĩa cá nhân đã khiến những đảng viên thoái hóa, biến chất, sa ngã, vi phạm kỷ luật Đảng. Vì lợi ích cá nhân, họ kéo bè kéo cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Đảng, từ đó gây hậu quả nghiêm trọng: làm giảm sức mạnh của Đảng, làm mất cán bộ, đảng viên, khiến người dân giảm sút niềm tin với Đảng. Thực tế đã cho thấy, ở những nơi Đảng bộ mất đoàn kết thì không chỉ tổn hại đến nội bộ Đảng mà còn hại đến Nhân dân vì Đảng bộ đó đã không còn là chỗ dựa tin cậy, là nơi gửi gắm niềm tin yêu của quần chúng nhân dân. Đó cũng là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, gây chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng với dân, gây nguy cơ đến sự tồn vong của Đảng.
Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Đảng phải xây dựng, chỉnh đốn để ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước sẽ thúc đẩy bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường sự thống nhất đoàn kết trong Đảng, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và trong sạch, đủ sức lãnh đạo và tổ chức Nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa đất nước ngày càng giàu mạnh, đáp ứng lòng mong mỏi của Nhân dân.
2. Xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh, nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng
Từ lý luận của Mác, Ăng-ghen, Lênin về Đảng của giai cấp công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng khẳng định: “Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao, Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình. Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”[14].
Muốn vậy, chúng ta phải xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở vững mạnh. Quán triệt tinh thần của Lênin về sức mạnh của tổ chức, trải qua các chặng đường cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, dù Đảng phải hoạt động bí mật dưới sự lùng sục, khủng bố gắt gao của chính quyền thực dân phong kiến phản động, nhưng Đảng đã gây dựng được cơ sở cách mạng trong Nhân dân, được Nhân dân sẵn sàng hy sinh tính mạng để che chở, bảo vệ Đảng. Hai lần địch khủng bố, hệ thống tổ chức đảng bị tổn thất nặng nề (sau phong trào cách mạng 1930 - 1931 và sau khi thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy chiến tranh 1939 - 1940), Đảng đã từng bước khôi phục lại hệ thống tổ chức, tiếp tục lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Từ khi trở thành Đảng cầm quyền, công tác xây dựng tổ chức đảng ngày càng được quan tâm toàn diện trên mọi mặt. Tại Đại hội II năm 1951, thế và lực cách mạng ba nước Đông Dương đã có sự chuyển biến quan trọng, Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định tách ra ba đảng, để giải quyết nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước trong phạm vi quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Đảng Lao động Việt Nam đã căn cứ vào đặc điểm của dân tộc Việt Nam, hoạch định Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, dẫn dắt cách mạng Việt Nam vừa tiến hành kiến quốc vừa chống ngoại xâm giành độc lập, hòa bình, thống nhất cho đất nước. Sau năm 1954, trước bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, khi đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam Việt Nam với chiến lược chiến tranh đặc biệt, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập một bộ phận của Đảng Lao động Việt Nam để trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam - Trung ương Cục miền Nam ra đời (10/1961). Từ tháng 10/1961, Trung ương Cục miền Nam đã trực tiếp xây dựng hệ thống tổ chức đảng đến tận cơ sở, với phương châm “dân bám đất, Đảng bám dân, du kích bám giặc”, bám đất, bám làng lãnh đạo cuộc kháng chiến, đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ.
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, nhiệm vụ lịch sử đã hoàn thành, tháng 9/1975 Trung ương Cục miền Nam tự giải tán. Đến Đại hội Đảng lần thứ IV (12/1976) - đại hội đầu tiên của đất nước thống nhất, Đảng Lao động Việt Nam trở lại tên Đảng Cộng sản Việt Nam - lãnh đạo cách mạng cả nước, cho đến nay. Từ ngày thành lập đến nay, qua 14 nhiệm kỳ Đại hội, Đảng luôn chăm lo xây dựng Đảng về tổ chức, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng. Nguyên tắc đó bảo đảm cho mọi đảng viên được thảo luận và tham gia quyết định các chủ trương công tác của tổ chức đảng, phát huy dân chủ trong Đảng. Để bảo đảm thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, đòi hỏi thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Xây dựng hệ thống tổ chức đảng phải gắn liền với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng Đảng vững mạnh về tổ chức không phải chỉ vì sự tồn tại và sức chiến đấu của bản thân tổ chức đảng mà còn vì sự nghiệp vận động và tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện mục tiêu của cách mạng. Đặc biệt bước vào thời kỳ đổi mới, các đại hội Đảng luôn nhấn mạnh những nội dung cơ bản trong xây dựng Đảng về tổ chức, bao gồm: Đổi mới tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ và đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý; Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; Kiện toàn, đổi mới hoạt động và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở; Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Đồng thời với việc xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ”, Đảng luôn luôn coi trọng công tác chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, trong điều kiện lịch sử mới phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Ngay từ khi có chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Lênin: Xây dựng chế độ mới là “cuộc chiến đấu khổng lồ, chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”[15]. Do vậy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng công tác chỉnh đốn Đảng, nhất là khi cách mạng chuyển giai đoạn, hoặc gặp những khó khăn, thách thức. Trong Di chúc (1969), Người căn dặn: sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ Nhân dân”[16]. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên chú trọng chỉnh đốn Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng với yêu cầu của đất nước trong các thời kỳ lịch sử. Ngay khi bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định 4 nội dung cần đổi mới: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”[17]. Đến Đại hội lần thứ VII của Đảng, vấn đề đổi mới Đảng gắn liền với chỉnh đốn Đảng được đặt ra: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo”[18]. Đại hội VIII Đảng chính thức khẳng định: “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn,… đây là quy luật phát triển của Đảng”[19]. Từ Đại hội X (2006), Đại hội XI (2011) đến Đại hội XII (2016), thể hiện quyết tâm cao của Đảng, nhằm tiếp tục: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”[20]. Đây là vấn đề sống còn của Đảng, nếu không làm được điều đó thì “sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”[21]. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”[22]. Từ kinh nghiệm của công tác xây dựng Đảng về tổ chức qua 40 năm đổi mới, Đại hội XIV của Đảng (2026) đánh giá: “Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Đã có nhiều đổi mới trong tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được coi trọng, gắn kết chặt chẽ với định hướng chính sách. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện. Công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về tư tưởng, lý luận chính trị có nhiều đổi mới. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả”[23].
Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đặc biệt coi trọng: “Đề cao chuẩn mực đạo đức cách mạng và phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là người đứng đầu. Công tác giáo dục, bồi dưỡng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được triển khai sâu rộng và có hiệu quả”[24].
Công tác dân vận được tăng cường, góp phần thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân: “Chú trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng”[25].
Công tác xây dựng Đảng về tổ chức được triển khai quyết liệt, mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ: “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, thực chất, có hiệu quả. Công tác xây dựng Đảng và phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, biên giới, hải đảo, trong học sinh, sinh viên được tăng cường, cơ bản xoá được tình trạng “trắng” đảng viên ở thôn, bản. Công tác quản lý, rà soát, sàng lọc đảng viên được thực hiện ngày càng nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy định. Tiến hành đổi thẻ đảng viên trong toàn Đảng, nâng cao hiệu quả công tác quản lý đảng viên”[26].
Công tác xây dựng Đảng về cán bộ được đặc biệt chú trọng, có nhiều đổi mới góp phần xây dựng toàn diện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược: “Đặc biệt lần đầu tiên hoàn thành việc bố trí 100% bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp xã không phải là người địa phương; 50% chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp tỉnh không phải là người địa phương và bảo đảm thực hiện hoàn thành việc bố trí chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp tỉnh không phải là người địa phương từ đầu nhiệm kỳ 2025 - 2030; xây dựng phương án bố trí nhân sự chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, chánh thanh tra tỉnh, thành phố không phải người địa phương trước và ngay sau Đại hội XIV của Đảng”[27]. Các chủ trương, giải pháp về công tác cán bộ được kịp thời thể chế, cụ thể hoá; việc sửa đổi, ban hành hệ thống các quy định về công tác cán bộ được triển khai toàn diện, đồng bộ với nhiều nội dung mới, đột phá, lần đầu được áp dụng, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, chặt chẽ. Công tác xử lý cán bộ vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật Nhà nước, nhất là đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao, kể cả lãnh đạo chủ chốt đã được chỉ đạo chặt chẽ, nghiêm minh, kịp thời, đồng thời nhanh chóng kiện toàn nhân sự thay thế đã khẳng định bản lĩnh chính trị, sức mạnh đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng, cùng ý chí quyết tâm xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ngày càng nền nếp, thường xuyên.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường, thường xuyên, nghiêm minh, đạt nhiều kết quả nổi bật: “Gắn kết chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng với tự phê bình, phê bình và với tuân thủ pháp luật. Việc xử lý nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân, đảng viên suy thoái, vi phạm kỷ luật, kể cả cán bộ cấp cao, đã có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực”[28].
Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, có bước tiến mạnh, đột phá lớn, đạt nhiều kết quả rất quan trọng. Từng bước hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để “không thể”, “không dám”, “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tiêu cực.
Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, hiệu lực, hiệu quả hơn: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn, ứng phó nhanh, rất kịp thời, hiệu quả với các tình huống khó khăn, phức tạp, chưa từng có tiền lệ, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình, đánh giá cao”[29].
Nhìn lại hơn 95 năm lịch sử cho thấy công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tiến hành thường xuyên, liên tục suốt 14 kỳ Đại hội của Đảng để “Đảng ta thật là vĩ đại” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Ngày nay, để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, văn minh, trí tuệ, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, trong đó phải học tập nhiều điều mới mẻ mà công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đặt ra.
PGS, TS. Vũ Quang Vinh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr. 17.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 7, tr.50.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 12, tr.544.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 5, tr.619.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 5, tr.619 - 620.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 5, tr.272.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 5, tr.292.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 15, tr.629.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 9, tr.518.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 15, tr.622.
[11]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 12, tr.402.
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 5, tr.289.
[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 15, tr.672.
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2011, T. 12, tr.403.
[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 617.
[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG,Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 616.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NxbCTQG, Hà Nội, 2006, tập 47, tr. 458.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NxbCTQG, Hà Nội, 2007, tập 51, tr. 147.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2015, tập 55, tr. 339.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 217.
[21] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, NxbCTQG, Hà Nội, 2012, tr. 21-22.
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.22.
[23] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.7.
[24]Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.7.
[25]Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.8.
[26]Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.8.
[27]Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.8.
[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.9.
[29] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.9.
