Kiến tạo “thế trận lòng dân” vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín ngưỡng tôn giáo theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục phát triển và hoàn thiện nhận thức lý luận về công tác dân vận trong điều kiện đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, nhấn mạnh vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân; yêu cầu phát huy nhân tố con người, xây dựng đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên cả không gian thực và không gian số.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo - địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại - đổi mới công tác dân vận không chỉ là yêu cầu của công tác vận động quần chúng mà, về bản chất, là quá trình kiến tạo niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nguồn lực con người và tạo nền tảng chính trị - xã hội bền vững cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ việc phân tích những điểm mới trong tư duy của Đại hội XIV, đánh giá thực trạng công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo, bài viết đề xuất những định hướng và giải pháp chiến lược nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chụp ảnh lưu niệm với một gia đình người Dao ở tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (Ảnh trên). Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với các anh hùng, chiến sĩ miền Nam (ảnh dưới)

MỞ ĐẦU

Trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, nhân dân luôn là cội nguồn sức mạnh, là chủ thể sáng tạo lịch sử và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Đồng thời, Người chỉ rõ: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Tư tưởng đó đã trở thành nguyên lý căn bản, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

Qua các kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng về công tác dân vận không ngừng được bổ sung và phát triển. Nếu Đại hội VI đặt nền móng cho tư duy đổi mới, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thì các Đại hội VII, VIII, IX, X tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực của sự nghiệp đổi mới. Đại hội XI, XII, XIII nhấn mạnh yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng “thế trận lòng dân”, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đứng trước những thời cơ và vận hội to lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển của kinh tế số, xã hội số, trí tuệ nhân tạo và không gian mạng đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với đó là những tác động của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và những vấn đề phát sinh từ quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phải phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; lấy nhân dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Đây vừa là sự kế thừa nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng, vừa là bước phát triển mới trong tư duy lý luận về công tác dân vận trong điều kiện phát triển mới của đất nước.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo, những quan điểm đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là địa bàn cư trú của hơn năm mươi dân tộc anh em, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam, mà còn là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và là “phên dậu” của Tổ quốc. Đồng thời, đây cũng là địa bàn mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vì vậy, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo theo tinh thần Đại hội XIV không chỉ là yêu cầu đổi mới phương thức vận động quần chúng, mà, về thực chất, là quá trình kiến tạo niềm tin xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên cả không gian thực và không gian số, phát huy nguồn lực con người và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng chính trị - xã hội bền vững cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

I. NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG TƯ DUY CỦA ĐẠI HỘI XIV VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Trải qua 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng về công tác dân vận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện. Kế thừa và phát triển những thành tựu lý luận của các kỳ Đại hội trước, Đại hội XIV của Đảng đã có những bước phát triển mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới sâu sắc về công tác dân vận trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Nhờ có các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế dành cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước, nhiều mô hình kinh tế đã triển khai đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào thoát nghèo và phát triển bền vững

Trước hết, Đại hội XIV khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nếu ở các nhiệm kỳ trước, nhân dân được xác định là nền tảng, là nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì Đại hội XIV đã nhấn mạnh sâu sắc hơn quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển. Theo đó, nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển, mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia hoạch định, tổ chức thực hiện và giám sát quá trình phát triển. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng và lợi ích thiết thực của nhân dân, lấy sự hài lòng và niềm tin của nhân dân làm thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả lãnh đạo và quản trị quốc gia.

Đại hội XIV đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát huy nhân tố con người, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, Đảng xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, đồng thời là nguồn lực quan trọng nhất của quá trình phát triển. Tư duy này thể hiện sự chuyển biến từ cách tiếp cận coi con người chủ yếu là nguồn lao động sang tiếp cận con người với đầy đủ các giá trị về trí tuệ, bản lĩnh chính trị, bản sắc văn hóa, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo, quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi mục tiêu của công tác dân vận không chỉ dừng lại ở giải quyết những vấn đề trước mắt về đời sống vật chất mà còn hướng tới phát triển con người toàn diện, nâng cao dân trí, bồi dưỡng năng lực số, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của mỗi cộng đồng, mỗi gia đình và mỗi cá nhân.

Một điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của Đại hội XIV là đặc biệt coi trọng việc xây dựng sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, xã hội đứng trước nhiều luồng thông tin đa chiều, tác động trực tiếp đến nhận thức, tâm trạng và niềm tin của nhân dân. Vì vậy, xây dựng đồng thuận xã hội không chỉ là yêu cầu của công tác tư tưởng mà còn trở thành nhiệm vụ chiến lược của công tác dân vận. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực chính trị đặc biệt quan trọng để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đại hội XIV tiếp tục phát triển tư duy về xây dựng “thế trận lòng dân”, coi đây là nền tảng chính trị - xã hội vững chắc gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Điểm mới nổi bật là “thế trận lòng dân” không còn được nhìn nhận chủ yếu trên địa bàn cư trú truyền thống mà đã được mở rộng sang không gian mạng - không gian xã hội mới của con người trong thời đại số. Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng và Nhà nước, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng trở thành yêu cầu khách quan, cấp thiết. Điều đó đòi hỏi công tác dân vận phải chủ động định hướng dư luận xã hội, xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, nâng cao năng lực số của nhân dân và tăng cường sức đề kháng trước những thông tin xấu độc, sai trái, thù địch.

Đại hội XIV cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công tác dân vận. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản trị xã hội và phương thức tương tác giữa Nhà nước với người dân. Trong bối cảnh đó, công tác dân vận phải chuyển mạnh sang phương thức đối thoại, tương tác, lắng nghe, đồng hành và phục vụ nhân dân trên môi trường số. Dân vận số, chính quyền số và quản trị số phục vụ nhân dân không chỉ là phương thức thực hiện công tác dân vận trong điều kiện mới mà còn là biểu hiện cụ thể của việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tham gia, quyền giám sát và quyền thụ hưởng của nhân dân trong quá trình phát triển.

Có thể khẳng định, phát hiện lý luận nổi bật của Đại hội XIV về công tác dân vận là sự chuyển biến từ tư duy “vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng” sang tư duy “phát huy vai trò chủ thể của nhân dân tham gia kiến tạo sự phát triển”; từ “dân vận truyền thống” sang “dân vận trong xã hội số”; từ “xây dựng thế trận lòng dân trên địa bàn cư trú” sang “xây dựng thế trận lòng dân trên cả không gian thực và không gian mạng”. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng, phản ánh sự vận động của thực tiễn đất nước và tạo cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DÂN VẬN VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TÍN ĐỒ TÔN GIÁO THỜI GIAN QUA

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các địa bàn chiến lược của đất nước.

Hệ thống chủ trương, chính sách về dân tộc và tôn giáo ngày càng được hoàn thiện, thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng về bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nhiều chủ trương lớn, chương trình, đề án phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được ban hành và triển khai đồng bộ, từng bước tạo hành lang pháp lý và nguồn lực quan trọng để giải quyết những vấn đề căn bản, lâu dài của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có đông tín đồ tôn giáo.

Nhờ sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Kết cấu hạ tầng thiết yếu từng bước được hoàn thiện; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào không ngừng được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm; hệ thống giáo dục, y tế, an sinh xã hội, thông tin và truyền thông được tăng cường; bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc được quan tâm bảo tồn và phát huy. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế; các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, cùng đội ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo ngày càng được phát huy trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn an ninh, trật tự và giải quyết các vấn đề phát sinh từ cơ sở. Công tác dân vận của hệ thống chính trị từng bước được đổi mới theo hướng gần dân, sát dân, hướng mạnh về cơ sở, tăng cường đối thoại, lắng nghe, giải quyết những vấn đề thiết thực của nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn. Chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng, miền còn khá lớn; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức cao; điều kiện tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản còn nhiều khó khăn. Khoảng cách số giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực phát triển vẫn còn khá xa, làm hạn chế khả năng tiếp cận tri thức, thông tin và các cơ hội phát triển mới.

Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ người dân tộc thiểu số và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Một số nơi công tác dân vận còn nặng về hành chính, hình thức, thiếu chiều sâu; việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân có lúc chưa kịp thời; công tác dự báo, nhận diện và xử lý những vấn đề phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo có thời điểm còn bị động, lúng túng.

Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với công tác dân vận. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền xuyên tạc, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một bộ phận người dân, nhất là thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn hạn chế về kỹ năng số và khả năng nhận diện thông tin xấu độc, dễ bị tác động bởi những thông tin sai sự thật trên mạng xã hội.

Nhìn một cách tổng thể, những khó khăn, thách thức đặt ra hiện nay không chỉ là khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội mà sâu xa hơn là nguy cơ hình thành khoảng cách về cơ hội phát triển, khoảng cách số và khoảng cách niềm tin giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội. Nếu không được nhận diện đầy đủ và giải quyết hiệu quả, đây sẽ là những nhân tố tác động trực tiếp đến chất lượng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và “thế trận lòng dân” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

III. ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TÍN ĐỒ TÔN GIÁO THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, công tác dân vận phải được đổi mới mạnh mẽ với tư duy chiến lược, tầm nhìn dài hạn và phương thức thực hiện hiện đại, lấy nhân dân làm trung tâm, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo động lực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Mọi chủ trương, chính sách về dân tộc và tôn giáo phải hướng đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; phát huy vai trò chủ thể của đồng bào trong quá trình phát triển. Công tác dân vận phải chuyển mạnh từ tư duy “làm thay cho dân” sang “phát huy vai trò chủ thể của nhân dân”; từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo cơ hội để người dân phát huy nội lực, tự vươn lên và tham gia vào quá trình phát triển.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức dân vận theo hướng gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. Cần tăng cường đối thoại, lắng nghe, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của đồng bào; chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở; phát huy dân chủ, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Ba là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên cả không gian thực và không gian số. Cần kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng niềm tin xã hội trong đời sống thực với xây dựng môi trường thông tin lành mạnh trên không gian số. Chủ động cung cấp thông tin chính thống, nâng cao khả năng nhận diện và phản bác thông tin sai trái, xây dựng “miễn dịch số” cho đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược.

Bốn là, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để động viên, tạo điều kiện cho lực lượng này tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền, vận động, hòa giải và giải quyết những vấn đề phát sinh tại cộng đồng.

Năm là, gắn công tác dân vận với phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sinh kế bền vững; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng môi trường sống an toàn, nhân văn và giàu bản sắc.

Sáu là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dân vận, xây dựng nền dân vận số và chính quyền số phục vụ nhân dân. Cần phát triển các nền tảng số phục vụ tương tác giữa chính quyền với nhân dân; tăng cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến; nâng cao kỹ năng số cho cán bộ và người dân; thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền.

Bảy là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo đáp ứng yêu cầu mới. Cán bộ dân vận phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy đổi mới, am hiểu văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo; có năng lực đối thoại, thuyết phục quần chúng và kỹ năng ứng dụng công nghệ số. Đặc biệt, cần xây dựng đội ngũ cán bộ “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”; biết nói tiếng dân tộc, hiểu văn hóa cộng đồng, có khả năng dự báo và xử lý các vấn đề phức tạp phát sinh từ cơ sở.

KẾT LUẬN

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng không chỉ là yêu cầu đổi mới phương thức vận động quần chúng, mà trước hết là quá trình xây dựng và củng cố niềm tin xã hội, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, kiến tạo đồng thuận xã hội và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên cả không gian thực và không gian số.

Xét đến cùng, mọi thành tựu phát triển đều bắt nguồn từ lòng dân; mọi nguy cơ đều có thể được hóa giải từ sức dân; mọi khát vọng phát triển của dân tộc chỉ có thể trở thành hiện thực khi được nâng đỡ bởi niềm tin của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là giá trị cốt lõi và là ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc của việc đổi mới công tác dân vận trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và là con đường căn bản để đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI./.

TS. Nguyễn Thanh Huyền

Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc và Tôn giáo

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, các năm tương ứng.

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

3. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.

4. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

5. Kết luận số 43-KL/TW ngày 07/01/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW.

6. Kết luận số 116-KL/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về công tác dân tộc, tôn giáo.

7. Ban Dân vận Trung ương: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác dân vận trong tình hình mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

8. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Công tác dân vận của Đảng, Nxb. Lý luận Chính trị.

9. Kiên định, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2025.

10. Vững bước trong kỷ nguyên mới của dân tộc, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2025.