Kỷ nguyên Việt Nam phú cường trong tầm nhìn văn hóa

Sau 40 năm đổi mới toàn diện, đồng bộ, Việt Nam bước vào kỷ nguyên phú cường. Đây không chỉ là một thời kỳ phát triển duy kinh tế, càng không phải là trạng thái giàu có đơn thuần mà là một kỷ nguyên phát triển mới vừa giàu về kinh tế, tri thức, văn hóa, năng lực sáng tạo và nội lực dân tộc vừa giữ vững năng lực tự chủ chiến lược, vững mạnh về thể chế, quản trị quốc gia, vị thế, sức mạnh và ảnh hưởng của đất nước đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của thế giới.

Từ 4000 năm trường cửu, lịch sử bảo chứng, chỉ khi nào dân tộc đứng vững trên nền tảng văn hoá, can trường trước sinh tử và vững vàng trong dòng chảy của thời đại, dân tộc mới thật sự lớn mạnh và trường tồn. Nói một cách hình ảnh, nền móng ấy, điểm tựa và động lực ấy, chính là văn hoá Việt Nam. “Văn hoá còn dân tộc còn, văn hoá mất thì dân tộc mất”(1).

      Từ mạch nguồn dân tộc, Đại hội thứ XIV của Đảng khẳng định: “Văn hoá và con người: Nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước”(2). Ngày 07/01/2026, Bộ Chính Trung ương Đảng khẳng định: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(3)

      Dân tộc còn thì lo gì đất nước không có phú cường.

      Xét cho cùng, đó là gương mặt và linh hồn dân tộc và đó chính là văn hoá.

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW.

      1. Kỷ nguyên phú cường - kỷ nguyên văn hoá phát triển cao

-  Một trăm năm phát triển của lý luận chính trị Việt Nam hiện đại

        Nếu kỷ nguyên phú cường là thời kỳ mới của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ thách thức mọi giới hạn phát triển bằng tầm viễn kiến chiến lược mới, với nghệ thuật xử lý thời cơ; bằng cải cách hệ thống bộ máy và vận hành bằng cơ chế phù hợp, trung tâm là kiểm soát và cân bằng quyền lực thông qua hệ thể chế đồng bộ, phù hợp và hiệu quả ở tất cả các phương diện (chính trị, kinh tế, xã hội,…), đối với mọi tổ chức của hệ thống chính trị, ở mọi quy mô, cấp độ và mỗi con người; bằng phương thức mới tập hợp lực lượng đông đảo; bằng hệ động lực phát triển mới với hệ  thể chế thực thi tổng thể, phù hợp, thống nhất, đồng bộ và đủ mạnh,… nhằm tạo ra tốc độ phát triển vượt bậc và toàn diện với quy mô và chất lượng mới, trong sự phát triển của thế giới, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, nhịp bước cùng thời đại(4), trong tầm nhìn năm 2050 thì văn hóa Việt Nam như một nền móng vĩnh cửu để kiến tạo một hệ quy chiếu hiện đại, kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tầm nhìn toàn cầu hóa, trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm rung chuyển thế giới. 

       Nhìn lại 100 năm phát triển lý luận chính trị Việt Nam (1925 - 2025), nếu giai đoạn khai sáng - giải phóng (1925 - 1945), lý luận gắn với giành độc lập dân tộc là trung tâm sáng tạo lý luận cách mạng Việt Nam; giai đoạn kháng chiến - kiến thiết (1945 - 1986), lý luận phục vụ chiến tranh nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì giai đoạn đổi mới - phát triển - hội nhập (1986 - đến nay), lý luận đứng trước yêu cầu nhận diện và hiện thực hoá con đường phát triển mới; bảo vệ nền tảng tư tưởng trong điều kiện toàn cầu hóa, cấp bách trả lời bài toán phát triển và bản sắc ở tầng kiến tạo tầm nhìn dài hạn mang tầm văn hoá.

      Nhìn khái lược, có thể kết tinh hệ giá trị cốt lõi văn hoá Việt Nam ở ba trụ giá trị lớn: 

      Một là: Dân tộc - gốc rễ không thể thay thế.  Văn hoá Việt Nam là nền tảng đất nước, là căn cước quốc gia. Hiện đại hoá nhưng không “hoà tan”. Hội nhập nhưng không đánh mất mình. Chủ động cảnh báo và kiên quyết chống lại: Chủ nghĩa thực dụng văn hoá; sự lai căng vô nguyên tắc; việc đánh đổi bản sắc dân tộc lấy tăng trưởng ngắn hạn.

      Hai là: Nhân văn - con người là trung tâm và mục đích. Văn hoá phú cường không chấp nhận sự tăng trưởng vị tăng trưởng vô cảm, không hy sinh con người cho chỉ số nhất thời, cô độc và không thể và không được xem đạo đức là “phụ phí” của tăng trưởng.  Con người vừa là chủ thể sáng tạo vừa là mục tiêu cuối cùng của phát triển nhân văn.

      Ba là: Khai phóng - động lực của sáng tạo và tiến bộ. Đây là nền văn hoá mở, cầu thị và tự phát triển; chủ động tiếp nhận tinh hoa nhân loại,… Tất cả nhằm nuôi dưỡng tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo và hiện thực.  Đây cũng là nền văn hoá có bản lĩnh, có khả năng đối thoại bình đẳng với thế giới, chuyển từ ý chí phát triển tới năng lực phát triển: Khát vọng phải được hiện thực hóa bằng: Năng lực quản trị - Năng lực con người - Năng lực đổi mới sáng tạo.

      Có thể nói, đó là tầm nhìn phát triển văn hoá quốc gia ở tầm chiến lược một cách toàn diện, quyết không chỉ là mục tiêu kinh tế hay xã hội thuần tuý, dù đạt tốc độ tăng trưởng phi thường, mà là Việt Nam phú cường, văn minh, hạnh phúc thật sự là sự kết tinh và thể hiện chiến lược quốc gia mang tính cách mạng và bản mệnh trong tầm nhìn năm 2050.

- Tầm nhìn và tư duy về văn hoá phú cường:

      Việt Nam bước vào kỷ nguyên phú cường mang tầm văn hoá, với sứ mệnh giải quyết các trọng sự: đổi mới tư duy về thời đại, mở tầm viễn kiến phát triển quốc gia, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hiện đại hóa thể chế, xây dựng lực lượng tinh hoa, nâng tầm vị thế quốc gia trong trật tự thế giới biến động.

       Nếu trước năm 1945, vấn đề dân tộc sinh tồn và giành độc lập, thời kỳ 1945 - 1975 với đại sự bảo vệ Tổ quốc làm đầu, thời kỳ 1975 - 1986 khắc phục hậu chiến, thời kỳ đổi mới 1986 tới 2025 từng bước thoát nghèo, phá thế bị bao vây, cấm vận, khẳng định vị thế quốc gia trước thế giới và hội nhập quốc tế thì kỷ nguyên phú cường trong tầm nhìn năm 2050 tiếp tục khẳng định bản sắc, giá trị và vị thế Việt Nam trong nền văn minh nhân loại. 

        Phú cường không đồng nhất với giàu có vật chất đơn thuần. Phú không chỉ là GDP, thu nhập hay tích lũy vật chất đơn thuần. Cường không chỉ là sức mạnh kinh tế, quân sự hay công nghệ. Quốc gia có thể tăng trưởng nhanh, nhưng chỉ văn hoá mới làm nên sự phát triển phú cường nhân văn và bền vững. Mặt khác, đó là sự phát triển tầm nhìn lịch sử từ sinh tồn sang khẳng định bản sắc và vị thế Việt Nam.  Đây là sự tiếp tục tất yếu và tự nhiên trong lo-gic phát triển chiến lược của dân tộc Việt Nam từ 100 năm qua, dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa.

       Một cách tự nhiên, nó vượt qua những kiểu tư duy nhiệm kỳ hoặc ngắn hạn hoặc cục bộ khép kín, dù rất vật vã và khó khăn.

        Nhưng, không có con đường nào khác là, phải đặt văn hoá xứng đáng ở vị trí nền tảng và trung tâm của chiến lược quốc gia, kiến tạo một Việt Nam giàu mạnh bền vững, tự cường về văn hóa - chính trị - kinh tế, có tiếng nói và đóng góp có trách nhiệm cho nhân loại.

        Dưới góc độ phát triển văn hoá, tiếp tục thâu thái, kết tinh, định vị và phát triển 5 nhân tố giá trị căn bản mang tầm triết lý:

      Trước hết, con người phải làm trung tâm, là chủ thể - động lực - mục tiêu chứ không chỉ đơn giản là đối tượng của phát triển. Quốc gia phải bắt đầu từ phát triển phẩm chất con người cá nhân song hành với phát triển cộng đồng và quốc gia từ dân trí - dân khí - dân quyền - dân chủ nhằm nâng tầm trí tuệ, nhân cách, lý tưởng để tạo dựng tầm vóc dân tộc thế kỷ XXI.

     Thứ hai, sức mạnh Việt Nam là sức mạnh của bản sắc dân tộc trong hội nhập.  Nó tạo nên gương mặt và con đường riêng trong phát triển bằng sức mạnh cạnh tranh mềm quốc tế. Do đó, văn hóa càng phải là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực đột phá với tư cách là trụ cột đổi mới sáng tạo.

      Thứ ba, phát triển dựa trên trí tuệ - công nghệ - đổi mới - nhân bản. Trí tuệ Việt Nam là tài nguyên đặc biệt, công nghệ và khoa học là nhịp dẫn của phát triển, giáo dục - đạo tạo là nền móng nâng tầm trí tuệ dân tộc, đổi mới sáng tạo là động lực của kỷ nguyên phú cường, với xung lực chuyển đổi số quốc gia, kinh tế tri thức,... Đây là điểm phân biệt quan trọng với nhiều mô hình phát triển thiên về tăng trưởng thuần túy.  

      Thứ tư, Nhà nước pháp quyền kiến tạo phát triển giữ vai trò dẫn dắt chiến lược phát huy sức mạnh toàn thể dân tộc bằng pháp luật với hệ thể chế phù hợp, với bộ máy phải tinh gọn - hiệu lực - liêm chính - dũng cảm - phù hợp.

      Thứ năm, dân tộc Việt Nam phải phát triển vị thế, tầm vóc, sức mạnh và sự ảnh hưởng chỉ khi tư duy quốc gia chuyển từ theo kịp sang dẫn dắt - sáng tạo - định vị chiến lược quốc gia.

        Chiến lược ấy phải đặt trên 5 trụ cột tư duy chiến lược: (1) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; (2) Nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sáng tạo; (3) Văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của dân tộc; (4) Con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu phát triển; (5) Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thành công. 

      Nói khái quát, đất nước phú cường là trạng thái phát triển cao của văn hoá dân tộc, nơi con người có nhân cách, xã hội có trật tự giá trị, quyền lực được văn hoá hoá, phát triển gắn với phẩm giá con người, nền móng của quốc gia đạt tới trình độ phát triển cao, đồng hành bình đẳng với các cường quốc trong khu vực và trên thế giới.     

      Đó chính là chiến lược phát triển văn hoá phú cường.

      Trước hết và sau cùng, kỷ nguyên phú cường là kỷ nguyên văn hoá Việt Nam trong thế kỷ XXI.         

       2. Hệ giá trị văn hoá của kỷ nguyên phú cường

Dân tộc là điểm tựa - Nhân dân là trung tâm - Văn hóa là nền móng phát triển.

       Nếu không có hệ giá trị Việt Nam làm gốc, mọi phát triển vật chất sẽ thiếu linh hồn, rơi vào vũng bùn vật chất vị vật chất, mọi sự phát triển trở nên khô cằn, nguy cơ phi nhân tính và rốt cuộc nhất định thất bại.  Nó là sự tổng hoà của hệ giá trị quốc gia - hệ giá trị văn hóa - hệ giá trị gia đình - hệ giá trị cá nhân với tư cách là những trụ cột tinh thần của dân tộc.

       Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu: “ Cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật; tạo dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tiến bộ, văn minh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng”(5).

       - Hệ giá trị căn bản:

       Thứ nhất: Độc lập - Tự chủ chiến lược - Tự cường - Công bằng không chỉ về chính trị - quốc phòng mà bao hàm cả về kinh tế - văn hóa - pháp luật - công nghệ - không gian số,…

        Thứ hai: Nhân dân - Dân tộc - Tổ quốc:  Nhân dân là gốc rễ của mọi chính sách - dân tộc là chủ thể lịch sử - Tổ quốc là giá trị thiêng liêng tối thượng.

        Thứ ba: Danh dự - Phẩm giá - Khát vọng - Hoà mục: Văn hóa là nền tảng tinh thần của phát triển, phẩm giá dân tộc là đạo đức của tăng trưởng, là danh dự của phát triển và khát vọng là động lực dân tộc vượt lên chính mình, sánh vai với các dân tộc tiên tiến và văn minh trên thế giới.  

       Tất cả tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam: Yêu nước - Nhân nghĩa - Trí tuệ - Khát vọng - Sáng tạo - Liêm sỉ - Kỷ cương - Đạo lý. Nó không tĩnh tại mà là một dòng chảy phát triển, kết nối truyền thống với hiện đại, nội sinh với ngoại sinh, con người xã hội, đất nước với với toàn cầu. Nó chính là sự kết tinh của tư duy kỷ nguyên, tầm nhìn phát triển theo chu kỳ lịch sử dài hạn, không phải chỉ theo kế hoạch 5 hoặc10 năm, được thử thách và đo lường sức mạnh trước những bước ngoặt phát triển của dân tộc trong dòng chảy văn minh nhân loại. Mặt khác, nó phải là sự phát triển hệ thống - tổng thể, dài hạn của sự phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - con người như một chỉnh thể thống nhất, không chấp nhận sự phiến diện, ngắn hạn, cục bộ. Đồng thời, nó thấm đẫm tinh thần nhân văn - con người là trung tâm, không chỉ là nguồn lực mà là chủ thể sáng tạo, mục tiêu tối thượng và động lực phát triển mang tầm chiến lược của quốc gia.  

      Đó phải là gương mặt và linh hồn Việt Nam phú cường.

      - Thách thức Việt Nam phú cường - văn minh - nhân văn:

      Trong thời đại đa nguyên thông tin, toàn cầu hóa giá trị, xung đột mô hình phát triển, từ thực tiễn đất nước, có thể nhận diện bộ ba trụ giá trị xuyên suốt: Phú cường: Phát triển đất nước giàu mạnh, tự chủ; Văn minh: Hiện đại hóa gắn với tiến bộ xã hội một cách bản sắc; Nhân văn: Con người là trung tâm và mục tiêu của phát triển.  

        Văn hoá phú cường về chính trị: Xét cho cùng, đó là con đường xã hội chủ nghĩa và trung tâm là văn hoá hoá quyền lực và đạo đức cầm quyền. Phát triển văn hoá bắt đầu từ văn hoá của Đảng cầm quyền và Nhà nước. Quyền lực không được văn hoá hoá nhất định sẽ tha hoá. Lãnh đạo không có chiều sâu văn hoá nhất định chính trị, kinh tế và xã hội lệch chuẩn. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiên phong đổi mới tư duy kiến tạo, xây dựng thể chế và công cụ quản trị quốc gia một cách phù hợp, hiệu lực, hiệu quả phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

      Vì vậy, văn hoá phú cường phải: Bắt đầu từ đạo đức, trách nhiệm, liêm chính của người cầm quyền; được thể hiện trong phong cách lãnh đạo, cách hoạch định chính sách và cách đối xử với Nhân dân.  Đạo đức quyền lực là thước đo của nhân cách trong trách nhiệm công vụ. Do đó, quyền lực phải được kiểm soát bằng văn hóa, đạo đức và pháp luật. Người lãnh đạo, cầm quyền phải nêu gương liêm chính, dám chịu trách nhiệm lịch sử và trách nhiệm đạo lý.

      Nếu lý luận chính sách hoàn thiện cơ chế, thể chế, lý luận hệ thống xây dựng mô hình phát triển thì nhà lãnh đạo, quản lý phải tiên phong kiến tạo hệ giá trị, tầm nhìn, mục tiêu lịch sử, với trọng trách thực thi công vụ một cách đạo đức và bảo đảm điều kiện phát triển quyền lực chính trị gắn với trách nhiệm lịch sử và đạo lý.

       Văn hoá phú cường về kinh tế: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập, tự chủ; phát triển kinh tế tri thức - kinh tế số - kinh tế xanh trong kỷ nguyên lượng tử một cách xứng đáng văn hoá xứng đáng là giá đỡ của văn hoá. Đến lượt nó, văn hoá trở thành một nhân tố căn bản trong phát triển kinh tế mang tính chính trị và thấm đẫm nhân văn xã hội. Văn hoá thực sự là động lực trực tiếp và quan trọng nhất của công cuộc chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ lượng tử, AI, đổi mới sáng tạo, trên nền tảng giáo dục - đào tạo hiện đại.

      Mỗi quyết sách về kinh tế trước hết và sau cùng phải là quyết sách về văn hoá và nhân văn xã hội nhằm xây dựng một nền kinh tế có linh hồn, phát triển nhân tính và thấm đẫm nhân văn nhằm cảnh giới nguy cơ quyết định luận kinh tế, kinh tế vị kinh tế, tiền vì tiền lạnh lùng, vô đạo lý. Vì, trong kinh tế là chính trị và xã hội, là pháp lý và đạo lý hoà quyện và thống nhất - bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xác quyết và phát triển.       

        Văn hoá phú cường về xã hội và con người: Xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng, kỷ cương - sáng tạo - nhân văn và con người hiện đại, giàu bản sắc là nhiệm vụ trung tâm của văn hoá, trên nền tảng pháp lý song hành với đạo lý. Cần giáo dục nhân cách, bồi dưỡng lý tưởng sống và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến. Con người phú cường có trí tuệ, có đạo đức, có bản lĩnh văn hoá và có tinh thần phụng sự gia đình, phụng sự cộng đồng, phục vụ Tổ quốc Tổ quốc và phụng sự Nhân dân.

        Văn hoá phú cường về vị thế và uy tín quốc tế: Văn hoá Việt Nam phải xứng là một nhân tố hợp thành văn hoá toàn nhân loại. Vì thế, gương mặt và ktuw khí chất Việt Nam xứng đáng là biểu hiện đặc sắc trong tính thống nhất toàn cầu, nền tảng làm nên vị thế và giá trị Việt Nam trong tư cách là đối tác tin cậy - thành viên có trách nhiệm, có tiếng nói đạo lý và pháp lý thực tiễn mang tầm quốc tế, chủ động góp phần phát triển cộng đồng nhân loại và toả sáng Quốc thể Việt Nam một cách xứng đáng.

        Đó là hệ giá trị phát triển mang bản sắc Việt Nam tương dung với thời đại. 

        Hơn lúc nào hết, kỷ nguyên phú cường phải là thời kỳ của văn hoá trở thành sức mạnh nội sinh xứng tầm có ý nghĩa quyết định, con người là chủ thể và trung tâm, bản sắc dân tộc là nền móng và sức giải phóng mọi tiềm lực, tiềm năng dân tộc là động lực phát triển,… làm nên gương mặt, linh hồn và cốt cách Việt Nam trong thời đại ngày nay.

       3. Phương châm và con đường kiến tạo và phát triển văn hoá phú cường

       Muốn tăng trưởng nhanh, có thể bằng khoa học - công nghệ, nhưng để phát triển bền vững và lâu dài nhất định không thể không bằng văn hoá.   

- Về phương châm phát triển:

        Có thể nói, về phương châm phát triển kỷ nguyên phú cường, dưới góc độ văn hoá, cần thiết nắm chắc phương châm:

      Thứ nhất, từ nhận thức tới xây dựng sự đồng thuận và hành động một cách văn hoá: Thống nhất nhận thức trong Đảng - lan tỏa đồng thuận trong Nhân dân - chuyển hóa thành hành động thực tiễn và đo lường bằng hiệu quả.

      Thứ hai, từ tầm nhìn, tư duy tới kiến tạo chính sách và xã hội mang tầm văn hoá: Chính trị phải dẫn đường cho chính sách - bám sát đời sống - trở lại phục vụ con người - đo lường bằng mức hưởng thụ của Nhân dân và toàn xã hội. Tôn trọng và bảo vệ cá nhân.

      Thứ ba, từ ý chí phát triển tới năng lực phát triển thấm đẫm văn hoá: Khát vọng phải được hiện thực hóa bằng năng lực quản trị - năng lực con người - năng lực dũng cảm đổi mới sáng tạo mang tầm văn hoá và đo lường không chủ bằng tốc độ phát triển mà quan trọng nhất là độ bền vững của phát triển.

- Về phương thức phát triển:

       Để phát triển Việt Nam phú cường trong tầm nhìn năm 2050, dành ưu tiên chiến lược quốc gia dài hạn, vượt khỏi sự giới hạn các nhiệm kỳ, nhằm kết tinh và nâng cao sức mạnh dân tộc trong thời đại trí tuệ: tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, với con người Việt Nam là gốc của mọi hình thái phát triển và bản sắc Việt Nam tiếp tục kiến thiết nền tảng văn hoá trong hội nhập và phát triển.

      Có thể nói, coi đây bản đồ tư tưởng phát triển quốc gia.

      Phát triển lý luận - đổi mới tư duy chính trị thấm đẫm văn hoá. Kiên định, phát triển nền tảng tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đổi mới, nhưng độc lập, sáng tạo, linh hoạt, hiện đại, không giáo điều: gắn chặt lý luận với vận mệnh phát triển dân tộc; kết hợp triết học, lịch sử, văn hóa, nhân học, tương lai học,… trong hoạch định đường lối phát triển mang tầm chiến lược nhằm định hình hệ giá trị quốc gia; thống nhất ý chí - niềm tin - hành động xã hội. Phát hiện và chủ động hoá giải các mâu thuẫn giữa chính trị với kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội, giữa kinh tế với môi trường sinh thái, giữa chiến lược với sách lược, giữa trước mắt với lâu dài, giữa tăng trưởng với phát triển, giữa nội lực với ngoại lực, giữa ý thức và hành động, giữa đạo lý với pháp lý,…

        Phát triển nền kinh tế giàu mạnh - giá đỡ văn hoá phát triển trong chỉnh thể hài hoà giữa chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Đến lượt mình, văn hoá là linh hồn của nền kinh tế quốc gia, tự nó “chữa lành” các “vết thương” của nền kinh tế, bảo đảm cho kinh tế phát triển đúng hướng, bền vững và nhân văn với xung lực trí tuệ, phẩm giá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, chủ động hội nhập kinh tế và văn hoá toàn cầu, thật sự xứng đáng là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhân bản và đạo lý.

      Đầu tư xứng đáng phát triển giáo dục - đào tạo các bậc học, nhất là bậc đại học - rường cột của khoa học công nghệ và văn hoá phát triển. Không có nền giáo dục - đào tạo tiên phong không thể có nền văn hoá tiên phong và hiện đại, càng không đất nước phú cường bền vững. Chủ động tiên liệu và hoá giải các nguy cơ khủng hoảng cục bộ hoặc kinh tế hoặc văn hoá hoặc pháp luật với kinh tế, kinh tế xung đột với môi trường sinh thái và cuộc khủng hoảng toàn cục kinh tế xã hội một cách ngang tầm văn hoá nhằm bảo vệ con người.

       Đổi mới không ngừng thể chế phát triển và tự phát triển. Mọi sự đổi mới thể chế phải nhằm giải phóng tiềm năng con người, tiềm năng quốc gia; đồng thời, ngăn chặn, loại bỏ mọi biến thái của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa tập thể trung bình, chủ nghĩa vô cảm; mặt khác, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,… trên nền móng pháp luật song hành với đạo lý. Không như vậy không có bất cứ sự phát triển nào như mong muốn và đến lượt nó, thể chế tự thủ tiêu mình. Theo đó, trên nền tảng luật, thể chế phải bảo vệ pháp lý và đạo lý; trừng trị cái phản văn hoá, phản nhân văn và phản tự do. Pháp luật sinh ra đạo đức và lợi ích là phép thử của đạo lý cá nhân. Do đó, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức, trí tuệ và năng lực cầm quyền thực thi trọng trách lịch sử lãnh đạo. Những người giữ trọng sự quốc gia phải nâng tầm nhìn xa, dẫn dắt bằng trí tuệ, hành động bằng lương tâm song hành với trọng trách nâng cao vị thế của Đảng và Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ cầm quyền và quản trị quốc gia về văn hoá một cách xứng tầm pháp lý và đạo lý dân tộc. Cấp bách hoá giải các mâu thuẫn giữa tính nghiêm minh của kỷ cương với sự khinh nhờn pháp luật; giữa sự thống nhất của pháp luật với sự “khoanh vùng” (V.I. Lênin) của pháp luật; giữa sự công bằng của pháp lý với sự lệch lạc của người giữ cán cân pháp luật,….  

       Phải nhìn thấy cái đang hình thành trong cái đang diễn ra - phẩm chất của những người kiến tạo, dẫn dắt và thực thi chính sách vĩ mô về văn hoá trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội bằng pháp lý và đạo lý một cách xứng tầm văn hoá. Mỗi đảng viên, cán bộ nêu gương đi đầu về điều tối thiểu về tư chất đó và sau cùng thấu chữ liêm sỉ và Quốc sỉ sao cho ra dáng một con người. Chiêu hiền và đối đãi xứng tầm các nhà quản trị văn hoá, kinh tế, các nhân tài văn hoá làm khâu đột phá quyết định thành công. “Tôn tài đại thịnh”.

       Hiện đại hoá văn hóa, đánh thức nội lực tiềm năng dân tộc: Văn hóa là sức mạnh nội sinh. Do đó, dù muốn hay không, văn hóa là nền tảng không chỉ tinh thần mà còn là sức mạnh vật chất của phát triển. Phát triển văn hóa chính trị - nền tảng của lòng tin xã hội song hành với phát triển số hoá văn hoá, công nghiệp văn hoá trong tổng thể văn hoá kinh tế, văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá số, xã hội số, trên đường hội nhập quốc tế.

       Truyền thông - báo chí nuôi dưỡng khát vọng hùng cường làm trục chính trị - tư tưởng, xứng đáng là công cụ kiến tạo, dẫn dắt hiện thực hoá hệ giá trị quốc gia; xứng đáng là hệ miễn dịch tư tưởng của xã hội. Đồng thời, phát triển xứng đáng văn hoá nghệ thuật - lực lượng kiến tạo đời sống văn hoá xã hội, chủ động dẫn dắt xã hội đi theo cái đúng - cái đẹp - cái cao cả song hành với tiên phong khắc chế mọi hình thái phản văn hoá và đẩy lùi mọi sự tầm thường hoá, hèn kém, thúc thủ, tỵ hiềm, “trâu buộc ghét trâu ăn” ghanh ghét, đố kỵ, “đèn nhà ai nấy rạng” cục bộ, thiển cận, phá vỡ hệ giá trị con người và đạo lý dân tộc.

       Nắm chắc tự chủ chiến lược, cảnh giới và hoá giải các mâu thuẫn giữa ý chí với giới hạn, giữa khát vọng với nội lực, giữa lý tưởng với hiện thực, giữa đa dạng với thống nhất, giữa ngắn hắn với dài hạn và các nguy cơ thị trường hoá giáo dục, xâm lăng văn hoá, thuộc địa số và nô lệ số trên địa hạt văn hoá. Có thể nói, giáo dục, truyền thông - báo chí và văn hoá nghệ thuật là tam giác chiến lược hình thành con người - chủ nhân và động lực phát triển văn hoá Việt Nam một cách thật sự xứng tầm văn hoá, ttên đất nước cả trên thế giới thứ hai - không gian mạng toàn cầu.         

        Phát triển toàn diện con người - công dân thời đại mới trên nền tảng nền kinh tế phát triển và khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Nếu tài sản lớn nhất của cách mạng là Lòng Dân thì biểu tượng vĩ đại của đất nước là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là biểu tượng của văn hoá Việt Nam dân tộc và hiện đạị. Vì, nền văn hoá dân tộc là của Nhân dân.

        Con người là chủ thể của mọi sự phát triển, do đó, giữ vị thể trung tâm và động lực căn bản của mọi sự phát triển quốc gia ngang tầm văn hoá và nhân tố quyết định sáng tạo văn hoá mới dân tộc và hưởng thụ văn hoá xứng đáng. Nhân dân là trung tâm của mọi sự phát triển và lợi ích của Nhân dân thống nhất với lợi ích quốc gia dân tộc là hạt nhân mà tất cả sự vận động của đất nước xoay chung quanh nó. Vì thế, người Việt Nam tương lai không chỉ mang khát vọng mà phải hành động một cách trí tuệ và danh dự vì Việt Nam phú cường, hiện đại và nhân văn, tôn vinh Quốc thể Việt Nam, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn bó với đại đoàn kết quốc tế.

        Mỗi người sao cho xứng đáng với triết lý nghìn năm “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “quốc gia hữu sự thất phu hữu trách”,… Với tinh thần “cầu đồng tồn dị” (cầu sự đồng nhất, giữ mọi sự khác biệt), cả dân tộc sao cho xứng đáng là sự kết tinh và tôn vinh biểu tượng văn hoá quốc gia trong khắp toàn cầu. Nâng niu, vun đắp và phát triển mạnh mẽ đội ngũ các nhà chính trị, nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà văn hoá, đội ngũ văn nghệ sĩ, nhà báo sao cho họ thật xứng đáng với danh dự con người Việt Nam - rường cột tinh hoa phát triển văn hoá dân tộc song hành thâu hoá mọi nhân tài văn hoá quốc tế và tiếp biến tinh hoa văn hoá thế giới nhằm tụ hội và phát triển văn hoá Việt Nam. “Phi trí bất hưng”!  

       Không có nền văn hoá truyền thống và hiện đại, bản sắc nhất định không thể có Việt Nam phú cường. 

       Hơn hết bao giờ, trong bối cảnh mới của thế giới, từ yêu cầu phát triển nhân văn của đất nước, văn hoá nhất định và ngày càng trở thành nhân tố căn bản trong chỉnh thể xứng đáng và hoài hoà giữa kinh tế, chính trị, xã hội,… Và, văn hoá phải là linh hồn cho kiến tạo và hiện thực hoá khát vọng và tư tưởng phát triển Việt Nam phú cường một cách ngang tầm văn hoá; đồng thời, khắc phục xu hướng phi văn hoá trong kinh tế, chính trị và chính văn hoá.

       Tất cả nhằm tạo nền tảng tinh thần và vật chất cho mục tiêu xây dựng đất nước trở thành quốc gia phát triển, bền vững, nhân văn và nhịp bước cùng thời đại tầm nhìn năm 2050./.

                                                             TS. Nhị Lê

                                     Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

 

(1) Nguyễn Phú Trọng: Ra sức xây dựng, gìn giữ và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 24/11/2021.

(2) Tô Lâm: Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Chinhphu.vn, ngày 20/01/2026.

(3) Nghị quyết số 80-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, ngày 13/01/2026.  

(4) Xem Nhị Lê: Phát triển kỷ nguyên mới, vì sức mạnh và danh dự Việt Nam, Báo Đại biểu Nhân dân, số ra ngày 23/01/2025.  

(5) Tô Lâm: Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Chinhphu.vn, số ra ngày 20/01/2026.