Đẩy mạnh chuyển đổi số - động lực để nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo an sinh bền vững trong kỷ nguyên số
Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đóng vai trò trụ cột khi tổ chức thực hiện các chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp. Việc chuyển đổi số trong ngành BHXH ở nước ta không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là động lực để nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo an sinh bền vững trong kỷ nguyên số.
1. Hiện nay, nước ta đang quyết liệt triển khai xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, BHXH Việt Nam đóng vai trò trụ cột khi tổ chức thực hiện các chính sách BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp. Chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là động lực để nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo an sinh bền vững trong kỷ nguyên số.
Chuyển đổi số trong lĩnh vực công là việc ứng dụng dữ liệu và công nghệ số để tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, tạo ra các giá trị mới cho người thụ hưởng. Đối với ngành BHXH Việt Nam, đây là quá trình chuyển đổi từ quản lý hồ sơ giấy sang dữ liệu số tập trung, kết nối và liên thông giữa các bộ, ngành nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính và tăng cường tính minh bạch.
Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của Chính phủ, BHXH Việt Nam đã ban hành và tổ chức triển khai đồng bộ nhiều chương trình, kế hoạch về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; gắn chặt chuyển đổi số với cải cách thủ tục hành chính và thực hiện Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử.
Từ ngày 01/3/2025, trong bối cảnh thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, là đơn vị đặc thù trực thuộc Bộ Tài chính, BHXH Việt Nam đã bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ thị của Bộ, quán triệt chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tài chính trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong ngành Tài chính. BHXH Việt Nam đã kịp thời ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, bảo đảm sự thống nhất, xuyên suốt trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Đây là cơ sở quan trọng để toàn hệ thống BHXH Việt Nam chủ động rà soát, phân công nhiệm vụ rõ ràng, triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
BHXH Việt Nam cũng chú trọng công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, xây dựng văn hóa số trong toàn Hệ thống thông qua các phong trào thi đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và “Bình dân học vụ số”; tổ chức hội nghị chuyên đề về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) với sự tham gia của hàng nghìn cán bộ, viên chức, người lao động trong toàn Hệ thống, qua đó từng bước hình thành tư duy số, kỹ năng số, sẵn sàng tiếp cận và ứng dụng các công nghệ mới vào hoạt động nghiệp vụ.
2. Dữ liệu được xác định là tài nguyên chiến lược, là nền tảng cốt lõi trong việc xây dựng Chính phủ số và cung cấp dịch vụ số chất lượng cao cho người dân.
Thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP, ngày 01/4/2025 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, BHXH Việt Nam đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao liên quan đến xây dựng Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về Bảo hiểm và các CSDL chuyên ngành. Đến nay, Hệ thống BHXH Việt Nam đã sẵn sàng kết nối, đồng bộ dữ liệu theo chuẩn kỹ thuật, bảo đảm an toàn, bảo mật và đáp ứng yêu cầu tích hợp vào Trung tâm dữ liệu quốc gia theo lộ trình chung của Chính phủ.
Việc kết nối, xác thực dữ liệu giữa CSDL quốc gia về Bảo hiểm với CSDL quốc gia về Dân cư đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Hơn 100 triệu thông tin công dân trong CSDL do BHXH Việt Nam quản lý đã được xác thực. Trên cơ sở đó, Hệ thống BHXH Việt Nam từng bước chuyển sang sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số BHXH, tạo sự thống nhất trong quản lý con người, giảm trùng lặp dữ liệu, đồng thời mở ra khả năng liên thông, chia sẻ dữ liệu hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.
Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện các CSDL lõi, BHXH Việt Nam đã chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Y tế , Bộ Công an và các cơ quan liên quan triển khai nhiều nội dung liên thông dữ liệu y tế quan trọng. Điển hình như việc phối hợp triển khai sổ sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến, giấy hẹn khám lại trên VNeID đã góp phần thay đổi căn bản phương thức quản lý, theo dõi thông tin sức khỏe của người dân, từng bước hình thành hồ sơ sức khỏe số xuyên suốt vòng đời, phục vụ hiệu quả công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Cùng với đó, BHXH Việt Nam đã tích cực hỗ trợ ngành Y tế liên thông dữ liệu khám sức khỏe lái xe, giấy chứng sinh, giấy báo tử, qua đó giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục hành chính, hạn chế tình trạng khai báo trùng lặp, sai sót thông tin (thông qua triển khai các nhóm thủ tục hành chính liên thông), đồng thời nâng cao tính chính xác, kịp thời của dữ liệu phục vụ quản lý dân cư, quản lý bảo hiểm và giải quyết các chế độ, chính sách an sinh xã hội.
Việc liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống không chỉ giúp người dân tiết kiệm thời gian, chi phí khi thực hiện các thủ tục liên quan đến khám, chữa bệnh, đăng ký hộ tịch, hưởng chế độ BHXH, BHYT, mà còn tạo điều kiện để các cơ quan quản lý nhà nước khai thác dữ liệu dùng chung, phục vụ công tác điều hành, dự báo, hoạch định chính sách trên CSDL số đầy đủ, thống nhất và tin cậy.
Tính đến thời điểm hiện nay, BHXH Việt Nam đã tích hợp, cung cấp toàn bộ 84 dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong đó có 70 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cho phép người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm. Nhiều thủ tục quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp đã được đơn giản hóa mạnh mẽ, rút ngắn thời gian giải quyết, giảm hồ sơ giấy, tiết kiệm chi phí xã hội.
Năm 2025, toàn hệ thống BHXH Việt Nam tiếp nhận 123,7 triệu hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có 113,57 triệu hồ sơ giao dịch điện tử[1].
Việc triển khai khám, chữa bệnh BHYT bằng căn cước gắn chip là một minh chứng rõ nét cho hiệu quả của cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số. Hiện nay, 100% cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên toàn quốc đã triển khai hình thức này, với hơn 332 triệu lượt tra cứu thông tin thành công, giúp người bệnh chỉ cần sử dụng căn cước khi đi khám, chữa bệnh, không cần mang theo thẻ BHYT giấy, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, giám định và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT.
Cùng với đó, BHXH Việt Nam đã đẩy mạnh chi trả các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua phương thức không dùng tiền mặt. Trong năm 2025, có 85% người hưởng các chế độ BHXH đã nhận tiền qua tài khoản ngân hàng, góp phần nâng cao tính minh bạch, an toàn, thuận tiện, phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế số, xã hội số.
Nhận thức rõ chuyển đổi số chỉ có thể thành công khi đi kèm với thể chế phù hợp, BHXH Việt Nam đã tích cực phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ tham mưu Bộ trong việc tham gia ý kiến xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng.
Nổi bật là Nghị định số 164/2025/NĐ-CP quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH và CSDL quốc gia về Bảo hiểm. Nghị định này tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc triển khai giao dịch điện tử, sử dụng dữ liệu số trong giải quyết thủ tục hành chính, góp phần giảm giấy tờ, tăng tính minh bạch, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia, thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp.
3. Với những kết quả đạt được trong chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính của BHXH Việt Nam đã và đang đóng góp trực tiếp, thiết thực vào quá trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở Việt Nam.
Thông qua việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với CSDL quốc gia về Dân cư, CSDL chuyên ngành và các hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương, BHXH Việt Nam không chỉ phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ hoạch định chính sách an sinh xã hội dựa trên dữ liệu số, dữ liệu lớn.
Với việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, ứng dụng AI trong quản lý, điều hành và nghiệp vụ là những yếu tố quan trọng thúc đẩy hình thành xã hội số, trong đó người dân được thụ hưởng các dịch vụ công nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch; doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ; Nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Bước sang giai đoạn phát triển mới, để tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng toàn diện - đồng bộ - lấy người dân làm trung tâm, BHXH Việt Nam tập trung vào một số nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn nữa, gắn với tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ trên nền tảng số; tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, mở rộng tích hợp dịch vụ công, tiện ích[2] trên các nền tảng số quốc gia như VNeID.
Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới như AI, dữ liệu lớn (Big data) trong quản lý, kiểm tra, giám định, dự báo và phục vụ người dân; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, hướng tới cá nhân hóa dịch vụ an sinh xã hội.
Thứ ba, tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số, xây dựng đội ngũ cán bộ BHXH chuyên nghiệp, có tư duy số, kỹ năng số, đáp ứng yêu cầu quản lý và phục vụ trên môi trường số.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện, làm giàu và khai thác hiệu quả CSDL quốc gia về Bảo hiểm và các CSDL chuyên ngành; duy trì kết nối, đồng bộ dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia, bảo đảm dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”.
Thứ năm, chú trọng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân; coi đây là yêu cầu xuyên suốt trong mọi hoạt động chuyển đổi số của BHXH Việt Nam./.
Sỹ Trung
[1] Chiếm 91,81% tổng số hồ sơ tiếp nhận, tăng 6,2% so với năm 2024.
[2] Tra cứu, theo dõi đóng, hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp.
