Kiểm soát, cải thiện chất lượng môi trường không khí trong giai đoạn phát triển mới
Ô nhiễm không khí đang trở thành một trong những vấn đề môi trường cấp bách tại Việt Nam, nhất là ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh tăng trưởng, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc không gian đô thị với tầm nhìn dài hạn, kiểm soát chất lượng không khí cần được nâng lên thành yêu cầu xuyên suốt trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức phát triển.
Sau hơn 13 năm triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội đối với công tác bảo vệ môi trường từng bước được nâng lên. Nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đã được triển khai, góp phần tăng cường quản lý tài nguyên, phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều vấn đề môi trường cấp bách tiếp tục nổi lên, trong đó ô nhiễm không khí đang trở thành vấn đề bức xúc tại các đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm. Tình trạng ô nhiễm kéo dài, lặp lại và khó kiểm soát không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân dân mà còn làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực, gia tăng chi phí an sinh xã hội và tác động đến mục tiêu tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải nhận diện đầy đủ thực trạng, làm rõ nguyên nhân và xác định các nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm soát và cải thiện chất lượng môi trường không khí.
I. Thực trạng công tác quản lý, kiểm soát và cải thiện chất lượng môi trường không khí
1. Những kết quả đạt được
- Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục và vận động xã hội về bảo vệ môi trường không khí được đẩy mạnh, từng bước đa dạng hóa về nội dung và phương thức. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã ban hành nhiều hướng dẫn về phát triển bền vững, chú trọng nội dung bảo vệ môi trường không khí; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và tổ chức quốc tế tổ chức nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, kêu gọi cùng chung tay bảo vệ bầu trời xanh.[1] Nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của chất lượng không khí đối với sức khỏe con người, an sinh xã hội và phát triển bền vững ngày càng được nâng lên.
- Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường không khí tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, tăng cường yêu cầu phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm ngay từ nguồn phát sinh. Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan được hoàn thiện qua từng giai đoạn và triển khai trong thực tế. Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí, các quy hoạch bảo vệ môi trường, quan trắc môi trường và chính sách phát triển giao thông xanh, giao thông công cộng.
- Công tác quan trắc, theo dõi và công bố thông tin về chất lượng không khí có bước tiến rõ nét. Mạng lưới trạm quan trắc không khí tự động, liên tục được mở rộng tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và khu kinh tế trọng điểm; dữ liệu chất lượng không khí từng bước được số hóa, công khai, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và xã hội giám sát.[2] Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và các nền tảng trực tuyến trong theo dõi, cảnh báo chất lượng không khí đã góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý.
- Nhiều giải pháp kiểm soát nguồn phát thải đã được triển khai đồng bộ hơn. Công tác kiểm soát khí thải từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải được tăng cường; một số địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch hành động cải thiện chất lượng không khí,[3] từng bước hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm cao, thúc đẩy chuyển đổi sang công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường. Các chương trình, dự án về giao thông xanh, phương tiện ít phát thải và phát triển năng lượng tái tạo bước đầu phát huy hiệu quả.
- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong quản lý chất lượng không khí đạt những kết quả bước đầu. Một số chương trình, dự án hợp tác với các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển đã hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực kỹ thuật, xây dựng hệ thống quan trắc, mô hình dự báo và đánh giá tác động ô nhiễm không khí.
Những kết quả bước đầu nêu trên đã tạo nền tảng quan trọng cho công tác quản lý, kiểm soát và cải thiện chất lượng môi trường không khí trong giai đoạn tới; đồng thời khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản trị, góp phần bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân.
2. Những hạn chế, yếu kém còn tồn tại
- Một số quy định còn mang tính khung, thiếu hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về kiểm kê phát thải, mô hình hóa chất lượng không khí, phân vùng chịu tải và áp dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất. Nhiều kế hoạch quản lý chất lượng không khí cấp tỉnh chưa xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu giảm phát thải, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện.
- Hệ thống quan trắc, dự báo và cảnh báo chưa đáp ứng yêu cầu. Mạng lưới trạm quan trắc phân bổ chưa đồng đều, một số trạm hoạt động thiếu ổn định; việc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa Trung ương và địa phương còn hạn chế. Hệ thống dự báo, cảnh báo sớm chưa đủ độ tin cậy để phục vụ chỉ đạo, điều hành và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
- Việc kiểm soát các nguồn phát thải chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Ô nhiễm từ giao thông, công nghiệp, xây dựng, làng nghề, đốt phụ phẩm nông nghiệp và chất thải sinh hoạt vẫn diễn biến phức tạp. Công tác kiểm kê nguồn thải ở nhiều địa phương còn chậm, thiếu dữ liệu, nhân lực và kinh phí; việc xác định trọng tâm kiểm soát và phân định trách nhiệm của từng ngành, từng địa phương chưa rõ ràng.
- Cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và liên tỉnh còn thiếu chặt chẽ. Việc kiểm soát nguồn thải, chia sẻ dữ liệu và triển khai các chương trình giảm ô nhiễm chung chưa đáp ứng đặc tính lan truyền, liên vùng của môi trường không khí. Trách nhiệm điều phối tổng thể chưa rõ; quản lý vẫn còn nặng theo địa giới hành chính.
- Nguồn lực và sự tham gia của xã hội còn hạn chế. Kinh phí cho quan trắc, kiểm kê phát thải, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và đào tạo nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ chuyên gia về môi trường không khí còn thiếu, nhất là ở địa phương. Việc công khai thông tin chưa thật sự đồng bộ, dễ tiếp cận; vai trò giám sát của cộng đồng và các tổ chức xã hội chưa được phát huy đầy đủ. Ý thức chấp hành của một bộ phận doanh nghiệp và người dân còn hạn chế, một số hành vi gây ô nhiễm vẫn còn diễn ra.
3. Nguyên nhân chủ yếu
Các nguồn phát thải chủ yếu bao gồm: hoạt động giao thông vận tải; hoạt động xây dựng; sản xuất công nghiệp và làng nghề; đốt rơm rạ và đốt chất thải sinh hoạt tự phát. Riêng khu vực phía Bắc, đặc biệt là Hà Nội, ô nhiễm còn chịu tác động lớn từ điều kiện địa hình và khí hậu, thời tiết.
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu: nhận thức và ưu tiên chính sách đối với môi trường không khí ở một số cấp, ngành chưa tương xứng với mức độ tác động đến sức khỏe và phát triển; tư duy quản lý còn nặng về xử lý vi phạm hơn phòng ngừa; thể chế chưa theo kịp yêu cầu quản trị môi trường hiện đại dựa trên dữ liệu và liên kết vùng; nguồn lực đầu tư, năng lực tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp chưa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia tăng phương tiện giao thông diễn ra nhanh chóng.
II. Yêu cầu mới đặt ra đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong thời gian tới
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng các hoạt động sản xuất, tiêu dùng đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với môi trường không khí. Nếu không được nhận diện sớm và kiểm soát hiệu quả, ô nhiễm không khí sẽ gây tổn hại lâu dài đến sức khỏe nhân dân, làm gia tăng chi phí y tế và an sinh xã hội, suy giảm năng suất lao động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, công tác kiểm soát và cải thiện chất lượng môi trường không khí đặt ra một số yêu cầu cấp thiết sau:
Thứ nhất, đổi mới tư duy phát triển, nâng tầm lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác bảo vệ môi trường không khí. Bảo vệ môi trường phải được đặt ngang tầm với phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Kiểm soát và cải thiện chất lượng không khí cần được coi là nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn chặt với bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh quốc gia và xây dựng các đô thị văn minh, đáng sống.
Thực tiễn cho thấy ô nhiễm không khí, nhất là ô nhiễm bụi mịn, không còn mang tính cục bộ, nhất thời mà đã diễn biến kéo dài, lặp lại tại nhiều đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm. Quá trình đô thị hóa nhanh, không gian xanh bị thu hẹp, mật độ dân số và phương tiện giao thông gia tăng, cùng với hoạt động sản xuất và xây dựng ngày càng mở rộng, đang làm tăng nhanh lượng phát thải. Vì vậy, công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương, trên cơ sở tiếp cận tổng thể, liên ngành, liên vùng và có tầm nhìn dài hạn.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và giảm phát thải. Hệ thống pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật về quản lý chất lượng không khí cần được rà soát, bổ sung đồng bộ, bảo đảm áp dụng thống nhất đối với từng loại nguồn thải. Các địa phương phải khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch quản lý chất lượng không khí, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu giảm phát thải, lộ trình và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Cơ chế, chính sách cần tập trung thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sạch, phát triển giao thông xanh, chuyển đổi năng lượng và công nghệ tại các cơ sở công nghiệp có mức phát thải lớn; khuyến khích đầu tư thiết bị, công nghệ xử lý khí thải và sản phẩm thân thiện với môi trường. Việc hoạch định chính sách phát triển công nghiệp, năng lượng, giao thông, xây dựng và đô thị phải tích hợp đầy đủ yêu cầu bảo vệ môi trường không khí ngay từ khâu quy hoạch, lựa chọn dự án và tổ chức thực hiện.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ thống dữ liệu và phương thức quản trị chất lượng không khí hiện đại. Cơ sở dữ liệu về kiểm kê phát thải hiện còn phân tán, chưa được chuẩn hóa và kết nối đồng bộ giữa các ngành, các địa phương, gây khó khăn cho việc tổng hợp, đánh giá và xác định trách nhiệm đối với từng nguồn phát thải. Thời gian tới, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn thải và chất lượng không khí, thống nhất phương pháp kiểm kê, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mô hình số. Dữ liệu phải được cập nhật đầy đủ, công khai, minh bạch, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành và nhu cầu bảo vệ sức khỏe của người dân.
Thứ tư, tập trung kiểm soát các nguồn phát thải chủ yếu, gắn với đổi mới quản lý đô thị và tăng cường phối hợp liên vùng. Cần xác định đúng các nguồn gây ô nhiễm trọng điểm từ giao thông, công nghiệp, xây dựng, làng nghề, đốt phụ phẩm nông nghiệp và chất thải sinh hoạt để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp. Tăng cường kiểm tra, xử lý phương tiện không đạt tiêu chuẩn khí thải, công trình xây dựng và hoạt động vận chuyển làm phát tán bụi; kiểm soát nghiêm việc đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và chất thải ngoài trời không đúng quy định. Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn cần xây dựng lộ trình phát triển vùng phát thải thấp, giao thông công cộng và phương tiện ít phát thải; đồng thời tăng cường vệ sinh đô thị, bảo vệ, phục hồi và mở rộng không gian xanh. Do ô nhiễm không khí có tính lan truyền, công tác quản lý không thể chỉ thực hiện theo địa giới hành chính mà phải có cơ chế điều phối, chia sẻ dữ liệu và phối hợp hành động giữa các địa phương trong cùng vùng.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm nguồn lực tài chính cho kiểm soát, cải thiện chất lượng không khí. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia có năng lực chuyên sâu về quan trắc, kiểm kê phát thải, mô hình hóa, dự báo và quản trị chất lượng không khí; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn và kỹ năng ứng dụng khoa học, công nghệ cho đội ngũ cán bộ ở cả Trung ương và địa phương. Nguồn lực tài chính phải được bố trí có trọng tâm, ưu tiên cho hệ thống quan trắc, cơ sở dữ liệu, giao thông xanh, nhiên liệu sạch, đổi mới công nghệ và xử lý các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng; hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.
Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát, công khai thông tin và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong quản lý môi trường không khí. Công tác thanh tra, kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, tập trung vào các nguồn thải lớn, lĩnh vực và địa bàn có nguy cơ ô nhiễm cao. Kiên quyết xử lý hành vi vi phạm, bao che, thông đồng, can thiệp hoặc làm sai lệch số liệu quan trắc; không để xảy ra tình trạng lợi dụng hoạt động quan trắc, đầu tư thiết bị và cung cấp dịch vụ môi trường để trục lợi.
III. Một số nhiệm vụ trọng tâm của ngành tuyên giáo và dân vận trong thời gian tới
1. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường không khí; cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tham mưu ban hành chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm soát, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường không khí trong giai đoạn mới”.
2. Xây dựng và triển khai Đề án thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của không khí sạch và những nhiệm vụ cần tập trung triển khai để cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường không khí trong giai đoạn 2026 – 2030.
3. Phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai các chương trình, giải pháp tổng thể nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường không khí đối với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn; bảo đảm có cơ chế, chính sách phù hợp, nguồn lực đủ mạnh, mục tiêu và lộ trình rõ ràng, khả thi.
4. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế trong kiểm soát và cải thiện chất lượng môi trường không khí; tiếp thu có chọn lọc các mô hình, công cụ quản trị và giải pháp về giao thông xanh, kiểm soát phát thải công nghiệp, vùng phát thải thấp và minh bạch dữ liệu môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tổ chức thí điểm tại một số đô thị lớn, làm cơ sở hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao năng lực quản lý theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững.
Lê Thị Ngân, Nguyễn Việt Hòa
Vụ Khoa học và Công nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
------
[1]Tháng 11/2025, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổ chức "Sự kiện Không khí sạch cho bầu trời xanh" tại Thủ đô Hà Nội.
[2]Tại cấp Trung ương: Cục Môi trường đã đầu tư, vận hành 27 trạm tiêu chuẩn phân bổ tại 22 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội: 4 trạm; Thành phố Hồ Chí Minh: 2 trạm; Đà Nẵng: 2 trạm; các địa phương còn lại: mỗi nơi 1 trạm). Tính đến nay, 30 địa phương đã xây dựng và vận hành tổng cộng 95 trạm quan trắc không khí tự động, liên tục.
[3]Đến tháng 3/2025, đã có 21 địa phương ban hành Kế hoạch quản lý chất lượng không khí, trong đó có Hà Nội và Hải Phòng, cùng 4 tỉnh miền núi (Sơn La, Điện Biên, Hà Giang, Đắk Nông). Hà Nội ban hành Kế hoạch quản lý chất lượng không khí đến năm 2030, tầm nhìn 2035 (Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 02/3/2024), với 5 mục tiêu và 7 nhiệm vụ, giải pháp; phấn đấu 75–80% số ngày trong năm có chỉ số chất lượng không khí (VN AQI) ở mức tốt và trung bình.
