Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
Với tư duy, tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã kế thừa, vận dụng sáng tạo, phát triển kế sách của cha ông thành quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Bảo vệ Tổ quốc đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Từ thời xa xưa, ông cha ta luôn đề ra kế sách “sâu rễ, bền gốc” giữ yên bờ cõi, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Những tư tưởng đó của Người là sự kế thừa, phát triển kế sách giữ nước của ông cha ta; đồng thời, là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và trở thành quan điểm nhất quán, có ý nghĩa chiến lược.
Thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, kế thừa truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kế thừa tư tưởng ấy, Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” .
Cần hiểu cụm từ “từ sớm” này là sớm về tư duy, sớm về nhận thức, sớm phát hiện vấn đề, sớm có quan điểm chỉ đạo, sớm có phương châm hành động và sớm có phương án về tổ chức lực lượng, phương án huấn luyện lực lượng, xây dựng phương án tác chiến trước khi thực hiện tác chiến. Cần phải sớm đề ra chiến lược bảo vệ, ngăn ngừa triệt tiêu các nhân tố gây chiến tranh xung đột, xâm lược, củng cố sức mạnh nội lực, sớm có lực lượng của mình để chống lại đối phương.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng – an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác” . Một khi đã ban hành chiến lược, cần định kỳ rà soát, bổ sung những điểm phát triển mới liên quan đến “hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới” .
Bên cạnh đó, cần xây dựng lực lượng triển khai các chiến lược nói trên. Đó phải là lực lượng trong sạch, không chỉ khỏe mạnh về thể chất, mà còn trong sạch về tinh thần, tư duy. Vì thế, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, chúng ta xác định rõ: xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân “cách mạng” , lực lượng này phải là lực lượng trong sạch, không bị móc nối, không bị cài cắm, được rèn luyện bản lĩnh vững vàng, luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Đảng, Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.
Ngăn ngừa chiến tranh xung đột “từ xa”. Từ “xa” không những chỉ về không gian mà “xa” còn chỉ cả về thời gian. “ Từ xa” tức là phải chủ động, phải cảnh giác, càng sớm, càng tốt. Phải sớm phát hiện, sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi từ xa về không gian địa lý, xa về thời gian phát hiện, có nghĩa là triệt tiêu ngay từ khi nó mới hình thành. Phải sớm phát hiện nguy cơ từ khi mới hình thành, không để đe dọa đến độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Chúng ta phải chủ động xây dựng, phát triển quan hệ với lực lượng đối tác bên ngoài, có thể giúp đỡ, làm bạn với mình trong suốt cuộc chiến đấu.
Chúng ta có kế sách ngăn ngừa chiến tranh, xung đột “từ xa” có nghĩa là Quân đội, Công an cần chủ động phân tích, dự báo, có phương án đấu tranh làm thất bại từ bên ngoài mọi âm mưu thế lực thù địch với đất nước.
Điều 64, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013) khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân”. Lực lượng chuyên trách bảo vệ Tổ quốc là lực lượng vũ trang, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân. Bên cạnh đó, còn có dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên hùng hậu. Lực lượng dân quân tự vệ cần được xây dựng vững mạnh và rộng khắp. Khi có giặc ngoại xâm, dân quân, tự vệ là lực lượng đầu tiên nổ súng vào quân xâm lược khi chúng tràn vào xâm chiếm đất nước Việt Nam. Chúng ta cần có lực lượng dân quân, tự vệ rộng khắp để giữ gìn trật tự, trị an, đồng thời sẵn sàng chiến đấu ngăn chặn kẻ thù, bảo vệ vững chắc từng tấc đất núi sông, bờ cõi Việt Nam.
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ giới hạn ở nhiệm vụ bảo vệ, mà còn cần có kế sách, chuẩn bị tốt các điều kiện để bảo vệ đất nước từ khi chưa xảy ra chiến tranh, xung đột hay hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động ứng phó kip thời, hiệu quả, đảm bảo giành thắng lợi trong mọi tình huống; đồng thời đảm bảo ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, giữ vững quốc phòng, an ninh. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” . Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta.
Đồng thời, Đại hội lần thứ XIII của Đảng cũng xác định: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” . Đảng ta chủ trương tiếp tục “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” . Trong xây dựng lực lượng cần coi trọng xây dựng cả lực lượng chính trị (lực lượng của các ngành, các cấp và nhân dân trong các cộng đồng dân cư...) và lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh làm nòng cốt.
Cùng với xây dựng lực lượng, cần tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng, trong đó chú trọng các tiềm lực cơ bản, như chính trị - tinh thần, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đồng thời, cần xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân.
Phát huy sức mạnh tổng hợp trong tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc
Trong tình hình an ninh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường hiện nay, chúng ta vẫn luôn thể hiện quyết tâm duy trì chính sách quốc phòng có tính chất hòa bình, tự vệ; kiên quyết, kiên trì giải quyết các tranh chấp, bất đồng với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. góp phần duy trì hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới.
Quân đội nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục được đầu tư các nguồn lực cần thiết để làm nòng cốt cho nền quốc phòng toàn dân, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích quốc gia - dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cần nhận thức sâu sắc và cụ thể hơn việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân mang tính toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, từng bước hiện đại. Ðây là phương châm cơ bản của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta. Trong tình hình mới, toàn quân cùng toàn dân chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh vững mạnh; thực hiện tốt công tác xây dựng cơ sở chính trị, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Phát huy vai trò của các khu kinh tế - quốc phòng trên các tuyến biên giới, hải đảo; gắn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc tham gia, góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tích cực tham gia thực hiện các chương trình xây dựng nông thôn mới, giúp dân xóa đói giảm nghèo; quan tâm thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ giúp dân phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng chống các loại dịch bệnh, xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình.
Tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới. Thực hiện tốt việc kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh; quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển đảo, nhằm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh nơi “phên giậu” Tổ quốc. Thực hiện đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên xây dựng các công trình trong căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ then chốt, sở chỉ huy các cấp, chốt chiến dịch; gắn phòng thủ dân sự, tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, vững chắc giữa các khu vực phòng thủ với phòng thủ quân khu và trên từng hướng chiến lược, sẵn sàng cho các tình huống quốc phòng, an ninh.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân hiện nay cần gắn tổ chức, bố trí lực lượng, xây dựng tiềm lực của đất nước với sẵn sàng triển khai, chuyển hóa lực lượng và tiềm lực quốc phòng một cách đồng bộ theo ý định, kế hoạch chiến lược trên toàn lãnh thổ. Trên các hướng, địa bàn chiến lược, cần bố trí lực lượng cân đối, hợp lý giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, lực lượng của địa phương và lực lượng của Bộ, giữa các quân chủng, binh chủng; tạo thế trận liên hoàn, vững chắc, phát huy sức mạnh các lực lượng, bảo đảm khả năng tác chiến trên bộ, trên không, trên không gian mạng, trên biển đảo; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng độc lập, tự chủ, có tiềm lực mạnh, phù hợp sự phát triển của nền kinh tế đất nước, tham gia trực tiếp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngành công nghiệp quốc phòng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết của Đảng, trực tiếp là Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 2011 của Bộ Chính trị, các kết luận, đề án, chương trình, kế hoạch của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát triển công nghiệp quốc phòng, tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các đề án, quy hoạch, kế hoạch về xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng.
Trong bối cảnh xung đột vũ trang Nga – Ukraina, Nga bị các nước phương Tây cấm vận, khiến việc nhập khẩu một số nguyên liệu, linh kiện từ các nước này để sản xuất, lắp ráp, hoàn chỉnh sản phẩm sẽ trở nên rất khó khăn trong khoảng thời gian không ngắn. Vì thế, chúng ta cần chủ động đẩy mạnh đa dạng hóa hơn nữa đối tác công nghiệp quốc phòng, an ninh, tiến tới tự chủ cao nhất công nghệ, tránh bị cấm vận, trừng phạt, ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng quốc phòng, an ninh. Chú trọng hoàn thiện, cải tiến thiết kế và công nghệ chế tạo các loại vũ khí, trang bị hiện có; đồng thời, thực hiện tốt nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm kỹ thuật, góp phần tích cực giải quyết nhanh, dứt điểm những vấn đề kỹ thuật, công nghệ phát sinh trong sản xuất quốc phòng.
Bên cạnh đó, xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo. Củng cố lực lượng quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Củng cố dân quân, tự vệ ở các khu, vùng kinh tế trọng điểm, biên giới, biển, đảo vững mạnh. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu chất lượng cao, chú trọng lực lượng dân quân biển đáp ứng nhiệm vụ an ninh, trật tự ở cơ sở.
Củng cố thế trận quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại gắn với quy hoạch của quốc gia, vùng, từng địa phương theo hướng kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, phòng thủ quân khu với xây dựng các công trình phòng thủ dân sự. Củng cố quốc phòng, an ninh ở khu vực phòng thủ luôn gắn với thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh”. Tăng cường quốc phòng, an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế, đấu tranh quốc phòng gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Hợp tác về quốc phòng tạo thời cơ thuận lợi cho hợp tác quốc tế ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, tạo điều kiện cho hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, thu hút nguồn lực, nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ tiên tiến. Đấu tranh phòng, chống các thách thức an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ biên giới nước bạn xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc trên một số lĩnh vực, nâng cao vị thế của quân đội, công an và của đất nước.
Thế trận bảo vệ Tổ quốc là sự thống nhất và kết hợp hài hòa giữa thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, cùng với các hoạt động đối ngoại nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vừa giữ vững ổn định, hòa bình, phát triển, ngăn chặn và đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, vừa sẵn sàng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, hơn bao giờ hết chúng ta phải kiên quyết, chủ động đấu tranh, song quá trình đấu tranh phải kiên trì, bền bỉ thực hiện tổng thể các biện pháp, kết hợp linh hoạt giữa kiên quyết đấu tranh với kiên định mục tiêu chiến lược với sự kiên trì, mềm dẻo, dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào sức mạnh của cộng đồng quốc tế, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội hàm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh” thể hiện rõ bước tiến mới trong tư duy lý luận, nhận thức thực tiễn của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thời gian tới, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục quan điểm kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm củng cố vững chắc lòng tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và những quyết sách của Đảng, Nhà nước trong giải quyết các tình huống diễn ra.
Bên cạnh đó, công tác dự báo cần quán triệt sâu sắc quan điểm Đại hội lần thứ XIII; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, từ đó dự kiến các phương án đối phó chính xác, kịp thời. Cần chú trọng đội ngũ người làm công tác nghiên cứu bảo đảm đủ năng lực khai thác, phân tích và xử lý thông tin; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu.
Cần tăng cường hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phát huy các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, xây dựng lòng tin chiến lược, phát huy hiệu quả sự đồng thuận của các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN, tăng cường mối quan hệ với các nước trên thế giới.
Cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, với truyền thống luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ, lực lượng quân đội cần tiếp tục tham gia tích cực, hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng cơ sở chính trị, đời sống văn hóa mới trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Khi có tình huống xảy ra, Quân đội nhân dân luôn chủ động, tích cực, đi đầu tham gia khắc phục, với tinh thần “ở đâu khó khăn, vất vả, ở đó có bộ đội”.
Trong phòng, chống bão lũ, thảm họa môi trường, quân đội luôn sẵn sàng huy động cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ, phương tiện quân sự thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phát huy tốt vai trò xung kích, nòng cốt, kịp thời có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, không quản ngại gian khổ, hy sinh, phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống, khẳng định vai trò của “đội quân công tác”, góp phần tô đẹp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.
Mặt khác, cần chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng Quân đội, Công an và nhân dân trong ứng phó, xử lý thắng lợi các tình huống an ninh phi truyền thống. Tăng cường đấu tranh với nhận thức lệch lạc, hành vi vi phạm pháp luật; phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần định hướng dư luận, củng cố lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
GS.TS. Nguyễn Hồng Quân
Viện Chiến lược Quốc phòng
