Kinh tế Việt Nam năm 2023 đi theo kịch bản nào?
Kinh tế Việt Nam năm 2023 đi theo kịch bản nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Diễn biến xung đột Nga – Ukraine, sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đăc biệt là các đối tác kinh tế lớn của Việt Nam. Cùng với đó là các nỗ lực thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Chương trình Phục hồi và Phát triển kinh tế - xã hội.
Với các yếu tố tác động như trên, kinh tế Việt Nam năm 2023 có thể diễn ra theo hai kịch bản. Kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế có thể chỉ ở mức 6 – 6,2% nếu các yếu tố rủi ro lấn át xu hướng phục hồi đã thiết lập trong năm 2022. Kịch bản 2, khả quan hơn, tăng trưởng kinh tế có thể lập mức 6,5-6,7% trong điều kiện quá trình phục hồi diễn ra thuận lợi hơn, các tác động từ bối cảnh quốc tế không quá lớn.
Đối với lạm phát, áp lực đã được cảm nhận rõ hơn. Căng thẳng chính trị tại Ukraine vẫn là nguy cơ lớn nhất đối với lạm phát và giá cả hàng hóa của Việt Nam. Chính sách Zero COVID tại Trung Quốc kéo dài sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề lạm phát toàn cầu. Với việc nhập khẩu phần lớn các nguyên nhiên vật liệu đầu vào sản xuất, đặc biệt là xăng dầu, trong khi tỷ giá USD/VND có khả năng tiếp tục gia tăng trước sức ép đồng USD tăng giá mạnh cùng với việc tăng mạnh thắt chặt điều kiện tài chính tại Mỹ dẫn đến áp lực nhập khẩu lạm phát đối với Việt Nam tăng cao. Giá xăng dầu có thể giảm trong ngắn hạn nhưng rủi ro tăng trở lại là khá cao do xung đột giữa Nga – Ukraine chưa chấm dứt. Cú sốc giá nhiên liệu dự kiến có thể giảm bớt vào năm 2023, nhưng hiệu ứng lan toả vòng hai tiếp tục diễn ra. Trong khi đó, tổng cầu nội địa đang trong xu hướng phục hồi mạnh, nhất là ở các lĩnh vực dịch vụ, tiêu dùng, du lịch. Điều này có thể khiến cho CPI tăng đến 4% vào năm 2023 trước khi giảm về 3,3% trong năm 2024.
Để giảm thiểu tác động bất lợi của kinh tế thế giới tới kinh tế Việt Nam, một số giải pháp cần tập trung thực hiện trong thời gian tới bao gồm:
Ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát
Bối cảnh kinh tế toàn cầu năm 2023 dự kiến vẫn sẽ vô cùng khó khăn. Vòng xoáy lạm phát và thiếu hụt nguồn cung do các đứt gãy về chuỗi cung ứng toàn cầu do tác động của cuộc xung đột ở Ukraine, tác động ngược của các lệnh trừng phạt Nga của Mỹ và phương Tây, và xu hướng thắt chặt điều kiện tài chính có thể khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái vào năm 2023.
Trong bối cảnh đó, để duy trì được tăng trưởng, Việt Nam cần tiếp tục kiên trì các biện pháp nhằm ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Để giảm áp lực lạm phát do giá dầu cần tính toán các dư địa để tiếp tục giảm thuế, phí trong giá bán lẻ xăng dầu hiện nay. Yêu cầu doanh nghiệp công khai, minh bạch về giá cả, có các chế tài xử lý nghiêm việc giá các mặt hàng tiêu dùng tăng theo giá xăng dầu không hợp lý. Theo dõi sát biến động cung - cầu các mặt hàng chiến lược để kịp thời có giải pháp điều hành phù hợp, tận dụng cơ hội về giá để sản xuất, xuất khẩu và đảm bảo cung cầu thị trường trong nước. Cần có giải pháp tổng thể đảm bảo nguồn cung xăng dầu (cả trong nước và nhập khẩu), điều tiết hệ thống phân phối, tránh đứt đoạn nguồn cung ảnh hưởng tới đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để duy trì dự trữ ngoại hối, cần tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cần kết hợp chính sách tiền tệ, tài khóa và chính sách kiểm soát giá một cách đồng bộ để giảm thiểu tác động đến lạm phát khi triển khai Chương trình phục hồi kinh tế.
Giải pháp về thương mại
Thúc đẩy xuất khẩu cần tiếp tục được ưu tiên để giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng kinh tế. Tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để giảm rủi ro suy giảm tăng trưởng xuất khẩu của các thị trường chính như Mỹ, EU.
Tận dụng tối đa và tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi CPTPP, EVFTA và RCEP. Tiếp tục rà soát nội dung cam kết trong các FTA và điều ước quốc tế mà Việt Nam đang đàm phán, đã hoàn tất đàm phán và đã ký kết để có những điều chỉnh về quy định pháp luật phù hợp. Đánh giá hiệu quả thực hiện các FTA để điều chỉnh phù hợp.
Các Bộ, ngành cần tiếp tục triển khai các giải pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu; đẩy mạnh đa dạng hàng hóa xuất khẩu, trên cơ sở nghiên cứu, nắm bắt thông tin kịp thời về các thị trường, sản phẩm còn dư địa khai thác trong bối cảnh đại dịch cũng như khả năng đáp ứng các FTA quan trọng (như CPTPP, EVFTA).
Đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các cơ quan quản lý chuyên ngành cần thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình thị trường thế giới, khu vực và trong nước, để chủ động, kịp thời đề xuất các giải pháp đảm bảo đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất.
Liên quan đến việc Nga bị tách khỏi hệ thống SWIFT, Ngân hàng nhà nước (NHNN) cần hướng dẫn doanh nghiệp xuất, nhập khẩu về các hình thức thanh toán và biện pháp phòng ngừa rủi ro trong thanh toán; nghiên cứu hình thành các kênh chi trả thanh toán với các ngân hàng và doanh nghiệp Nga, cũng như qua các phương tiện chưa bị cấm vận để giúp doanh nghiệp trong nước có thể tiếp tục giao dịch với đối tác Nga một cách hợp pháp.
Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và tìm kiếm nguồn cung thay thế Nga và Ukraine. Rà soát, xem xét, sớm bãi bỏ áp dụng biên pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng phân bón DAP, MAP nhập khẩu.
Giải pháp hỗ trợ sản xuất và doanh nghiệp trong nước
Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước khó khăn lớn do lãi suất tăng cao và thị trường đầu ra suy giảm. Để hỗ trợ doanh nghiệp, trước hết cần có các giải pháp giúp doanh nghiệp giảm chi phí. Hiện nay chi phí logistics còn chiếm tỉ trọng lớn trong chi phí sản xuất của Việt Nam do ngành logistics kém hiệu quả. Do vậy về dài hạn cần cải thiện hiệu quả logistics qua việc xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, thu hút đầu tư vào logistics với những vùng đang có nhu cầu cao, rà soát lại quy hoạch phát triển các địa phương để đầu tư xây dựng hệ thống logistics phù hợp với nhu cầu.
Đối với tác động của xung đột Nga-Ukraine, các hiệp hội doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ về các biện pháp cấm vận của Mỹ và phương Tây để thông tin cho doanh nghiệp, tránh vi phạm các biện pháp cấm vận đối với Nga. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục cải cách hành chính, triển khai các giải pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương theo dõi, cập nhật thường xuyên tình hình căng thẳng về chính trị, ngoại giao, sự chuyển hướng trong chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư của các nước, cung cấp thông tin kịp thời cho các bộ, ngành có liên quan để có giải pháp xử lý.
Bộ Công Thương theo dõi sát biến động cung cầu các mặt hàng chiến lược nhạy cảm, kịp thời có giải pháp điều hành phù hợp, tận dụng cơ hội để xuất khẩu và đảm bảo cung cầu cho thị trường trong nước.
Giải pháp với một số ngành
Ngành dệt may: Đa dạng hóa thị trường và sản phẩm xuất khẩu. Trước đây các sản phẩm dệt và may mặc chủ yếu tập trung vào xuất khẩu vải, sợi và quần áo. Trong bối cảnh nhu cầu thế giới với các sản phẩm trên sụt giảm, cần chuyển hướng sang các sản phẩm khác như hàng dệt cao cấp (dệt y tế, dệt thể thao, đồ bảo hộ....). Đối với thị trường EU, nếu như trước đây dệt may Việt Nam chỉ tập trung vào một số nước lớn như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Anh, thì hiện nay cần chuyển hướng sang các nước khác trong EU. Bên cạnh đó, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang Châu Phi, Mexico, Canada.
Ngành nông, lâm, thủy sản: Để hỗ trợ cho xuất khẩu nông sản, Chính phủ cần giảm thuế các nguyên liệu đầu vào như xăng, dầu, phân bón để kiềm chế lạm phát trong nước. Tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng vùng an toàn với dịch bệnh, đảm bảo xuất khẩu thông suốt sang các thị trường truyền thống;
Tìm kiếm và đa dạng hóa nhà cung cấp. Tăng cường nhập khẩu các mặt hàng phân bón, lúa mì, ngô từ các nước khác như Mỹ, Brazil, Úc, Trung Quốc, Ấn Độ; tăng cường sử dụng các sản phẩm nông nghiệp trong nước để thay thế dần thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu nhập khẩu.
Ngành năng lượng: Nghiên cứu tăng cường nhập khẩu than từ Úc, Nam Phi. Bộ Công Thương chỉ đạo các Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Đông Bắc rà soát các dự án, hợp đồng có liên quan đến đối tác/nhà thầu chịu tác động gián tiếp bởi căng thẳng Nga-Ukraine để có các giải pháp ngắn hạn và dài hạn; chủ động xây dựng phương án thay thế, dự phòng, đảm bảo sản xuất kinh doanh ổn định, hiệu quả, hạn chế thiệt hại cho doanh nghiệp và NSNN. Các đơn vị sản xuất năng lượng bám sát diễn biến và nhu cầu thị trường, nguồn cung - cầu dầu thô, than nhập khẩu, nhanh chóng đưa ra các phương án vận hành ổn định, hiệu quả, đảm bảo nguồn cung nhiên liệu không bị gián đoạn, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Trong dài hạn, cần thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Việc phát triển năng lượng tái tạo không chỉ giúp Việt Nam giải quyết vấn đề năng lượng mà cả vấn đề môi trường. Theo cam kết tại COP 26, Việt Nam cần thúc đẩy các cơ chế, chính sách hỗ trợ trong những năm tới đây nhằm đáp ứng mục tiêu năng lượng xanh từng bước thay thế năng lượng hóa thạch theo hướng bền vững nhất.
Thời gian qua, Việt Nam đã có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho năng lượng tái tạo như việc áp dụng giá FIT với điện gió và điện mặt trời đã góp phần tạo ra sự “bùng nổ” về phát triển nguồn năng lượng này. Tuy nhiên, do thời gian áp dụng các cơ chế này khá ngắn, cộng với ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 khiến cho nhiều dự án lâm cảnh “lỡ hẹn giá FIT”. Cơ chế chính sách cho điện mặt trời, điện gió sau đó đang chậm ban hành, khiến nhà đầu tư không thể hoạch định ra các kế hoạch đầu tư trong tương lai”. Do vậy, mức độ sử dụng năng lượng tái tạo chưa nhiều.
Ngành du lịch: Tăng cường công tác truyền thông về chính sách bình thường mới, cũng như chính sách mở cửa du lịch của Việt Nam.
-Tháo gỡ các vướng mắc cho việc thu hút khách quốc tế đến Việt Nam, như thủ tục visa, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, kết hợp với cải thiện các dịch vụ du lịch trong nước như ăn uống, vui chơi giải trí.
-Luôn theo dõi sát tình hình căng thẳng Nga - Ukraine để có phương án tối ưu trong việc phục hồi du lịch và thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam; Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch và Văn phòng đại diện của Nga tại Việt Nam để quảng bá du lịch Việt Nam theo nhiều hình thức phù hợp với tình hình mới.
- Phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, phù hợp thị hiếu của khách du lịch, trong đó chú trọng phát triển du lịch biển đảo.
(Theo Nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
