Biến động toàn cầu năm 2022 ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam như thế nào?
Năm 2022, tình kinh tế, địa chính trị thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó lường, nhiều yếu tố mới chưa có tiền lệ, rất khó dự báo: Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; xung đột Nga – Ukraine; lạm phát thế giới tăng cao, xu hướng tăng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khoá của các quốc gia và khắc phục hậu quả đại dịch Covid-19... Điều này đã và đang tác động đến các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là những nền kinh tế nhỏ và có độ mở lớn như Việt Nam.
Tác động về thương mại
Kinh tế thế giới suy giảm do cuộc chiến tại Ukraine và lạm phát ăn mòn thu nhập của người tiêu dùng tại các nước đối tác xuất khẩu lớn như Mỹ và EU khiến cho cầu nước ngoài với hàng xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục sụt giảm.
Kinh tế Mỹ đang đứng trước nguy cơ suy thoái do lạm phát tăng cao. Việc Fed tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới xuất nhập khẩu của Việt Nam, do thắt chặt tiền tệ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng Mỹ và kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, kinh tế EU dự kiến gặp nhiều khó khăn do lệnh cấm nhập khẩu dầu của Nga và ảnh hưởng không nhỏ tới lợi ích về xuất khẩu mà Việt Nam dự kiến sẽ đạt được trong năm 2022 nhờ Hiệp định EVFTA.
Căng thẳng Nga - Ukraine vẫn tiếp diễn và Nga bị loại ra khỏi hệ thống thanh toán SWIFT ảnh hưởng tiêu cực tới xuất khẩu sang Nga. Trong thời gian qua, việc xuất khẩu hạt điều của Việt Nam vào Nga gặp khó khăn khâu thanh toán, ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu nhân điều đi thị trường này.
Cùng với đó, hoạt động thương mại quốc tế còn đối mặt với vấn đề chi phí vận tải, logistics và bảo hiểm quốc tế gia tăng liên tục khiến nhập khẩu dịch vụ tăng mạnh. Chiến sự tại Ukraine cũng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu vốn đã bị đứt gãy do đại dịch Covid-19 tạo ra. Ngay cả khi xung đột kết thúc, đối với nhiều nhà đầu tư, tầm quan trọng của ổn định chính trị trong việc lựa chọn đầu tư sẽ tăng lên đáng kể trên khắp Trung và Đông Âu. Những bất ổn đối với kinh tế thế giới cũng sẽ làm chậm lại các dòng chảy thương mại trên thế giới. Xung đột sẽ khiến thương mại thế giới tăng chậm lại. WTO (4/2022) dự báo tăng trưởng khối lượng thương mại hàng hóa là 3,0% vào năm 2022 - giảm so với dự báo trước đó là 4,7% - và 3,4% vào năm 2023, tuy nhiên những dự báo này có thể thay đổi do tính chất phức tạp và khó dự đoán của cuộc xung đột tại Ukraine.
Từ đầu tháng 9/2022, nhiều dấu hiệu cho thấy, tăng trưởng xuất khẩu bắt đầu giảm với không ít ngành hàng. Theo số liệu của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 9/2022 đạt 28,8 tỷ USD, giảm 7,3% so với tháng trước.
Đối với hàng dệt may, sau 6 tháng đầu năm xuất khẩu tăng cao thì thị trường hàng may mặc các nước quay đầu sụt giảm vào quý III. Tình hình cho thấy hiện tổng cầu hàng dệt may toàn cầu tiếp tục có những dấu hiệu sụt giảm sâu hơn nữa vào quí IV năm nay, nhất là tại các thị trường lớn như Mỹ và EU... Lạm phát cao khiến người dân hạn chế chi tiêu đáng kể, trong đó may mặc là mặt hàng được cắt giảm chi tiêu nhiều.
Ngoài tác động do suy giảm kinh tế thế giới, mặt hàng dệt may Việt Nam chịu áp lực về giá, sau khi nguồn cung giá rẻ là Trung Quốc bị ảnh hưởng. Mỹ có xu hướng gia tăng nhập hàng từ các nước có giá thấp hơn Việt Nam. Theo Hiệp hội Da Giày - Túi xách Việt Nam phản ánh, các thành viên đang đối diện rất nhiều khó khăn, tỷ lệ tồn kho lên tới khoảng 40%. Các đơn hàng mới từ tháng 8/2022 đến quý I/2023 cũng ít đi. EU và Mỹ là những thị trường xuất khẩu chủ lực của da giày Việt Nam đang có xu hướng giảm sút về nhu cầu tiêu dùng, chắc chắn sẽ ảnh hưởng sức mua trong những tháng cuối năm.
Với ngành gỗ, xuất khẩu còn gặp khó khăn hơn. Kể từ đầu tháng 7, các đơn hàng xuất khẩu đã giảm sút. Sự suy giảm này chủ yếu do giá nguyên liệu sản xuất, chi phí vận chuyển tăng mạnh, trong khi các thị trường chính là Mỹ, EU, lạm phát tăng, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh,... Người tiêu dùng ở Mỹ và EU giờ chỉ tập trung chi tiêu cho nhu cầu thiết yếu nên đồ gỗ bị cắt giảm.
Biến động tỷ giá cũng tác động đến các doanh nghiệp xuất khẩu. Đối với ngành dệt may, dù tỷ giá USD/VND đang trong xu hướng tăng, nhưng tỷ lệ mất giá của đồng VND so với đồng USD vẫn đang thấp trong xu hướng mất giá chung. Tác động đầu tiên là giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trên thị trường xuất khẩu so với các nước khác như Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, In- donesia... Thứ hai, mặc dù nhiều doanh nghiệp dệt may có doanh thu bằng USD, tuy nhiên họ cũng phải chịu chi phí mua nguyên vật liệu đầu vào cũng bằng USD, chi phí logistic, và chi phí lãi vay (đặc biệt là vay ngắn hạn bằng đồng USD trong thời kỳ lãi suất tăng cao và nhiều biến động).
Do vậy, khi doanh thu bằng đồng USD không đủ để bù đắp phần chi phí, các doanh nghiệp dệt may sẽ chịu tác động tiêu cực khi tỷ giá USD/VND leo thang. Bên cạnh ảnh hưởng tỷ giá USD/VND, một số doanh nghiệp dệt may có thị trường tiêu thụ tại châu Âu cũng bị ảnh hưởng khi sức mua của khách hàng châu Âu suy yếu với một phần nguyên nhân là do đồng EUR đã suy giảm đáng kể.
Điểm sáng đối với xuất khẩu của Việt Nam là sự phục hồi về nhu cầu của Trung Quốc khi các biện pháp kiểm soát dịch được nới lỏng hơn (dù vẫn tiếp tục duy trì) và các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế của Chính phủ Trung Quốc phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, đồng VND mất giá nhẹ so với USD có thể làm tăng năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam.
Tác động đến đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các biến động thế giới, đặc biệt là từ tháng 4- 9/2022. Dòng vốn FDI có xu hướng phục hồi tốt hơn từ tháng 10. Tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong 10 tháng đầu năm đạt hơn 22,46 tỷ USD, giảm 54% so với cùng kỳ năm 2021 song tăng 9,9 điểm phần trăm so với 9 tháng năm 2022.
Theo UNCTAD (trong Báo cáo Đầu tư Thế giới 2022), dòng vốn FDI toàn cầu được dự báo sẽ giảm do cuộc khủng hoảng lương thực, nhiên liệu và tài chính do xung đột tại Ukraine, từ đó ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh. Các nhân tố khác ảnh hưởng đến FDI gồm tác động của đại dịch COVID-19, khả năng tăng lãi suất tại các nền kinh tế lớn, tâm lý tiêu cực trên thị trường tài chính và nguy cơ suy thoái tiềm ẩn. Dữ liệu của UNCTAD cho thấy, trong quý II/2022, dòng vốn FDI toàn cầu đạt khoảng 357 tỷ USD, giảm 31% so với quý đầu tiên trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm, khủng hoảng nhiên liệu, lương thực và tài chính. Các điều kiện tài chính thắt chặt và sự không chắc chắn của nhà đầu tư gia tăng có thể nhìn thấy trong xu hướng giảm hàng tháng trong các thông báo dự án mới.
Tuy nhiên, trong dài hạn, Việt Nam có thể hưởng lợi từ tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng tại Trung Quốc do xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu ra khỏi Trung Quốc và xu hướng củng cố, đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Các công ty đa quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử và ô tô, đang đẩy mạnh đầu tư vào sản xuất chip hoặc tìm kiếm các nguồn cung cấp đầu vào ổn định hơn. Đầu tháng 5, một cuộc khảo sát nhanh của Phòng Thương mại Liên minh Châu Âu và công ty tư vấn quản lý Roland Berger cho thấy, 23% các công ty được hỏi đang cân nhắc chuyển các khoản đầu tư hiện tại hoặc kế hoạch của họ ra khỏi Trung Quốc do các biện pháp kiểm soát dịch bệnh. Một cuộc khảo sát khác cũng được công bố bởi Phòng Thương mại Đức chỉ ra, gần một phần ba số nhân viên nước ngoài dự định rời Trung Quốc do các biện pháp liên quan đến COVID-19 và 10% dự định làm như vậy ngay cả trước khi hợp đồng lao động hiện tại của họ kết thúc.
Các công ty quy mô vừa của châu Âu ngày càng có xu hướng lựa chọn Việt Nam thay cho Trung Quốc vì một số lý do: giá nhân công của Trung Quốc tăng, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước châu Âu xấu hơn từ năm 2021, chính sách zero-COVID của Trung Quốc vào năm 2022 làm giảm niềm tin của các công ty EU vào Trung Quốc như một địa điểm sản xuất đáng tin cậy do chính sách này khiến chuỗi cung ứng toàn cầu rơi vào hỗn loạn và ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất tại các thành phố bị phong tỏa. Đồng thời Hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và EU cũng là một động lực thúc đẩy các công ty EU tới đầu tư tại Việt Nam. Tháng 12/2021, công ty Lego của Đan Mạch đã thông báo sẽ xây dựng một nhà máy trị giá 1 tỷ USD (935 triệu euro) gần trung tâm kinh doanh ở phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những dự án đầu tư lớn nhất của châu Âu tại Việt Nam cho đến nay.
Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Bức tranh kinh tế thế giới năm 2022 đã cho thấy thiệt hại nặng nề về tăng trưởng kinh tế do chiến sự tại Ukraine, dù trước đó kinh tế thế giới được dự báo sẽ phục hồi tích cực sau khi phần lớn các biện pháp kiểm soát dịch COVID-19 đã được dỡ bỏ tại nhiều nơi trên thế giới. Sự suy giảm của kinh tế thế giới năm 2022 ảnh hưởng lớn tới kinh tế Việt Nam. Tính toán của Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy chiến sự tại Ukraine có thể khiến kinh tế thế giới mất đi 0,46% GDP vào năm 2022 và 0,94% GDP vào năm 2023 so với kịch bản cơ sở. Nga và các nền kinh tế lớn trên thế giới đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, bên cạnh đó các nền kinh tế đang nổi và có độ mở cao như Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc đều chịu thiệt hại lớn về GDP trong giai đoạn 2022 – 2023. GDP của Nga có thể mất đi 1,48% vào năm 2022 và 2,64% vào năm 2023, trong khi Singapore cũng gánh chịu mức tổn thất tương tự là 1,46% GDP vào năm 2022 và 2,97% vào năm 2023.
Kinh tế thế giới đứng trước nguy cơ suy thoái và lạm phát đình trệ, cùng những hậu quả đối với các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình và thấp. Các dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 của một số tổ chức quốc tế như OECD và WB đều bị điều chỉnh giảm xuống mức 2,9-3%, thấp hơn nhiều so với các dự báo trước đó. Còn theo World Bank, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine cùng những tác động của đại dịch khiến kinh tế toàn cầu có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng yếu kéo dài và lạm phát gia tăng.
Kinh tế Việt Nam chịu nhiều rủi ro trước các biến động bên ngoài: nhu cầu đối với hàng xuất khẩu giảm, rủi ro đầu tư tăng, lạm phát và chính sách thắt chặt tiền tệ, ảnh hưởng tới triển vọng tăng trưởng và phục hồi kinh tế sau đại dịch. Nhu cầu bên ngoài yếu đi do kinh tế Mỹ suy thoái và triển vọng trì trệ đối với các đối tác kinh tế chủ chốt khác như EU, Trung Quốc và Nhật Bản do cuộc chiến tại Ukraine và chính sách zero-COVID khiến động lực tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều thách thức. Giá cả tăng cao và biến động khó lường khiến tiêu dùng, sản xuất kinh doanh và tiến độ giải ngân đầu tư, gồm cả đầu tư công, chậm lại.
Ngoài ra, điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt gây ảnh hưởng tiêu cực tới nỗ lực nới lỏng các chính sách hỗ trợ phục hồi nền kinh tế của Việt Nam, làm giảm đáng kể hiệu quả của các chính sách, đặc biệt là chính sách hỗ trợ 2% lãi suất và nỗ lực giảm lãi suất 0,5-1 điểm % mà Chính phủ Việt Nam đang theo đuổi. Như vậy, sự lệch pha trong chính sách hỗ trợ nền kinh tế của Việt Nam với xu hướng toàn cầu khiến hiệu quả các chính sách của Việt Nam khó đạt kết quả như kì vọng, Việt Nam có thể phải tốn nhiều chi phí hơn để có thể thực hiện được các mục tiêu chính sách đề ra.
Theo kết quả tính toán từ mô hình NiGEM, tình hình căng thẳng tại Ukraine, suy thoái kinh tế Mỹ và việc Fed tăng lãi suất đều gây ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế Việt Nam. Chính sách zero-COVID có ảnh hưởng không nhỏ. Tuy nhiên, khả năng hồi phục nhẹ của kinh tế Trung Quốc trong nửa cuối năm và giá xăng dầu hạ nhiệt có thể ảnh hưởng tích cực tới triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Tác động đến thị trường tài chính tiền tệ
Lãi suất trong nước chịu nhiều áp lực trái chiều nhau. Những ảnh hưởng từ bên ngoài như xu hướng Fed tăng lãi suất và áp lực lạm phát do giá dầu tăng cao khi cuộc chiến tại Ukraine leo thang đẩy áp lực tăng lãi suất lên cao.
Trong nửa đầu năm 2022, sức ép lãi suất trong nước chưa quá lớn do tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong nước dồi dào. Áp lực tăng lãi suất trong nước bắt đầu tăng lên từ giữa năm 2022 do Fed liên tục tăng lãi suất, gây áp lực tới tỷ giá và cân đối ngoại tệ, xu hướng dòng vốn đầu tư rút ra khỏi các thị trường đang nổi, cũng như tình trạng lạm phát và giá cả hàng hóa tăng cao. Mặc dù vậy, một số yếu tố có thể giúp giảm áp lực tăng lãi suất, bao gồm giá cả hàng hóa thế giới và lạm phát hạ nhiệt, đồng thời các mức tăng lãi suất dự kiến của Fed sẽ thấp hơn so với những đợt tăng lãi suất trước đây.
Thị trường chứng khoán thế giới và Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh bởi các biến động địa chính trị thế giới. Tính tới giữa tháng 6/2022, chỉ số S&P 500 giảm 9% kể từ khi chiến sự tại Ukraine bắt đầu. Những cổ phiếu chịu thiệt hại lớn nhất nằm trong ngành du lịch, giải trí, ngân hàng. Kể từ khi cuộc xâm lược Ukraine bắt đầu vào ngày 24/2, cổ phiếu du lịch và giải trí đã nằm trong số những cổ phiếu có hoạt động kém nhất trong S&P 500. Ngoài cổ phiếu du lịch, cổ phiếu ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng lớn từ tin tức Ukraine. Các nhà đầu tư lo ngại rằng lạm phát trầm trọng hơn do cuộc xâm lược của Nga cuối cùng sẽ kích hoạt một cuộc suy thoái của Mỹ và giảm tốc độ tăng trưởng cho vay.
Thị trường chứng khoán Việt Nam sụt giảm mạnh trong năm 2022 do các biến động tiêu cực từ thị trường thế giới. Mặc dù nền kinh tế vĩ mô năm 2022 của Việt Nam rất tích cực khi tăng trưởng tốt, lạm phát thấp; nhưng dòng tiền lại xấu do ngân hàng Trung ương các nước tăng mạnh lãi suất và gây áp lực lên tỉ giá đồng Việt Nam. Thị trường chứng khoán biến động chủ yếu theo dòng tiền nên giá cổ phiếu 2022 diễn biến tiêu cực, thị trường bất động sản cũng đi xuống theo.
Thị trường có thể tích cực hơn trong năm 2023. Theo nhận định của các chuyên gia, lãi suất năm 2023 sẽ đi ngang, áp lực tỉ giá sẽ không còn nặng nề khi nhiều quốc gia đạt tới đỉnh lạm phát và lãi suất của các nước này lập đỉnh ở 2023. Trong thời gian tới, động lực tăng trưởng năm 2023 đến từ chính sách tài khóa, với gói kích thích kinh tế có thể được giải ngân nhiều hơn.
Nhà đầu tư nước ngoài là điểm sáng trong thời gian qua với giá mua ròng 2.000 tỷ trên HOSE (tập trung vào quý II với giá trị mua ròng hơn 9.000 tỷ, chủ yếu đến từ quỹ Fubon hay Diamond). Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá vẫn hấp dẫn khi P/E (dựa trên số liệu lợi nhuận quá khứ) hiện tại khoảng 12 lần, trong khi các thị trường khác (Thái Lan, Philippines, Malaysia hay Indonesia) đều cao hơn Việt Nam (khoảng 16 lần). ROE của VN-Index đạt khoảng 15%, cao hơn mức 9 – 10% của các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, tỉ giá ổn định là yếu tố quan trọng giúp nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn tới thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tác động tới khu vực doanh nghiệp
Hiện nay, cả nước có khoảng trên 850 nghìn doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 1,4%; doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 31,84%; doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ chiếm tới 66,76%.
Trong lĩnh vực dịch vụ, có tới 51,33% doanh nghiệp hoạt động bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác. Trong tổng số trên 850 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, khoảng 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp chưa cao với chỉ số quay vòng vốn và hiệu suất sinh lợi thấp.
Làn sóng đại dịch lần thứ tư và hệ luỵ của kinh tế thế giới đã tác động và gây nhiều khó khăn cho khu vực doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Theo điều tra xu hướng kinh doanh và tổng hợp ý kiến của các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng, hiện nay doanh nghiệp nước ta đang đương đầu với 5 nhóm khó khăn chính, đó là: (1) Giá xăng dầu, nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, chi phí logistics tăng cao; (2) Tình trạng thiếu hụt lao động; (3) Khó khăn về vốn; (4) Thiếu hụt linh kiện; (5) Các rào cản pháp lý.
Hiện tại 37% nguyên vật liệu dùng cho sản xuất của nền kinh tế phải nhập từ bên ngoài, tỷ lệ này trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo - ngành có vai trò là động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế chiếm 50,98%; nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất ở một số ngành phụ thuộc vào một số ít thị trường.
Do sản xuất trong nước phụ thuộc vào nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu, khi giá hàng hóa thế giới tăng dẫn đến giá đầu vào dùng cho sản xuất cũng tăng. Trong 6 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6,04%, mức tăng cao nhất 10 năm qua, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 10,01%, dùng cho xây dựng tăng 9,32%, dùng cho công nghiệp tăng 5,78%.
Đặc biệt, thị trường vật liệu xây dựng có biến động lớn, nhiều chủng loại vật tư, vật liệu xây dựng tăng đột biến. Trong mức tăng chung 9,32%, giá nguyên vật liệu dùng cho xây dựng, nhóm kim loại, gang, sắt, thép tăng 13,24%; sản phẩm nguyên liệu chế biến từ dầu mỏ dùng cho xây dựng tăng tới 42,24%; dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước tăng 13,31% so với cùng kỳ năm trước đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xây dựng và giải ngân vốn đầu tư.
Theo tính toán, tỷ trọng chi phí thép xây dựng chiếm từ 12-16% trong tổng giá trị công trình. Nếu giá thép tăng 10% thì giá công trình tăng thêm 1%. Trong khi đó, đối với nhà thầu, lãi của một công trình chỉ dao động dưới mức 5% với điều kiện chủ đầu tư thanh toán đúng hạn, không nợ đọng.
Bên cạnh đó, ngành vận tải - ngành mang tính huyết mạch, chuyên chở hàng hóa của nền kinh tế có giá cước tăng cao trong 6 tháng đầu năm nay. Giá cước vận tải đường sắt, đường bộ tăng 5,94%; giá dịch vụ vận tải đường thủy tăng 12,91%, trong đó giá dịch vụ vận tải đường ven biển và viễn dương tăng 14,28%; đặc biệt, giá dịch vụ vận tải đường hàng không tăng đến 18,32%.
Khi giá nguyên vật liệu đầu vào tăng 1% sẽ làm cho chỉ số giá sản xuất tăng 2,06%. Điều này gây nên khó khăn cho doanh nghiệp trong nỗ lực tiêu thụ và đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước, làm giảm tốc độ tăng GDP của nền kinh tế.
Bên cạnh tác động tới chi phí vận tải do giá dầu tăng, việc Fed tăng lãi suất khiến cho mức lãi suất tăng nhanh cũng ảnh hưởng nặng nề tới các doanh nghiệp. Với chi phí đi vay cao trên 10%, trong khi thị trường xuất khẩu tăng chậm lại và chi phí đầu vào tăng, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thua lỗ. Các doanh nghiệp dệt may và da giày đứng trước nguy cơ dư thừa lao động, thiếu việc làm. Dù vậy, các doanh nghiệp cũng có nhiều nỗ lực giữ chân người lao động để tránh tình trạng khó tuyển dụng lao động khi kinh tế phục hồi./.
(Theo Nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
