Sáu điều Bác Hồ dạy CAND - nền tảng định hướng xây dựng lực lượng Cảnh sát Nhân dân trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, Người luôn quan tâm, chăm lo xây dựng, giáo dục và rèn luyện lực lượng Công an nhân dân nói chung và lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng. Trong đó, Sáu điều Bác Hồ dạy đã trở thành nền tảng định hướng để lực lượng Cảnh sát nhân dân tu dưỡng, rèn luyện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Ngày 11 tháng 3 năm 1948, sau khi nhận được tờ “Bạn dân” do Công an Khu XII gửi biếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an Khu XII, trong thư Bác đã nêu những nhiệm vụ của lực lượng Công an, của báo chí Công an và đặc biệt Bác đã chỉ rõ “Tư cách người Công an cách mệnh” qua Sáu lời dạy, đó là:
“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ;
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành;
Đối với Nhân dân, phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc, phải tận tụy;
Đối với địch, phải cương quyết khôn khéo”.
Nội dung tư cách của người Công an cách mệnh là tư tưởng lớn, khẳng định tầm quan trọng của đạo đức cách mạng, của người cán bộ trong thực hiện ứng xử với bản thân; với đồng sự; với Chính phủ; với Nhân dân; với công việc và với địch. Đối với lực lượng Công an nhân dân, Người chỉ rõ “Công an của ta là Công an nhân dân, vì Nhân dân mà phục vụ và dựa vào Nhân dân mà làm việc”. Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ: “...Cán bộ lấy đạo đức làm cốt cán”; “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”; “khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”;... không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”. Hồ Chí Minh cho rằng 4 đức tính “cần kiệm, liêm, chính” mang lẽ tự nhiên, như trời có 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Đông), đất có bốn phương (Đông, Tây, Nam, Bắc), những phẩm chất đạo đức này gắn với hoạt động hằng ngày, thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành động của mỗi cán bộ, đây là thước đo tính “người” của một con người.
Do đặc thù môi trường công tác “Công việc của công an âm thầm nhưng rất quan trọng” nên trong quan hệ đồng chí, đồng đội của người Công an phải luôn giúp đỡ nhau, đoàn kết và học tập lẫn nhau, thể hiện ở lòng thương yêu, quý trọng, sống có lý, có tình, giúp nhau nhận rõ ưu điểm, khuyết điểm để sửa chữa, giúp nhau cùng tiến bộ; người đi trước truyền đạt tri thức, hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm cho người đi sau. Người chỉ rõ: “Đoàn kết trong nội bộ giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa chiến sĩ với chiến sĩ, giữa đơn vị và Nhân dân xung quanh để làm tốt nhiệm vụ”.
Khi nói về nhiệm vụ của lực lượng công an, Người chỉ rõ “Nhiệm vụ của công an là bảo vệ và phục vụ Nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân” nên phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với Chính phủ: “Công an nhân dân vũ trang hay Quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”; “Đảng có lãnh đạo chính trị đúng thì chuyên môn mới đúng”. Người nhấn mạnh: “Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng. Nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì dù khéo mấy cũng không kết quả”; “Muốn làm người cán bộ hoàn toàn thì cán bộ chuyên môn phải hiểu chính trị, cán bộ chính trị phải hiểu chuyên môn. Nếu chỉ hiểu một bên là cán bộ què”. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân xác định “còn Đảng thì còn mình”, luôn phải nêu cao lòng trung thành với Đảng, thể hiện ý chí phấn đấu vươn lên, vượt qua khó khăn, gian khổ, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Với tư tưởng “lấy dân làm gốc” nên trong mối quan hệ với Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Làm Công an không phải làm “quan cách mạng”. Làm công an để giữ trật tự, an ninh cho Nhân dân, xem xét tìm tòi âm mưu phản động làm hại Nhân dân. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”; khi Nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn. Đối với Nhân dân phải xứng đáng là người “đầy tớ” thật trung thành, hết lòng, hết sức phụng sự Nhân dân, vì lợi ích của Nhân dân, thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy niềm vui, hạnh phúc của Nhân dân làm lẽ sống của mình; đây là lẽ sống, là lý tưởng và hành động cao đẹp; không chỉ dừng ở thái độ bên ngoài, mà quan trọng hơn là ở chiều sâu bản chất, mỗi việc làm hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân. Kính trọng, lễ phép với Nhân dân thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, “nói đi đôi với làm”, quan tâm xem xét, giải quyết lợi ích chính đáng của Nhân dân, thực hiện theo tinh thần “Khi dân cần, khi dân khó có công an”.
Do nhiệm vụ của lực lượng Công an rất nặng nề, liên quan đến sinh mệnh chính trị, tính mạng và tài sản của Nhân dân; đối tượng đấu tranh của công an là phản cách mạng và tội phạm hình sự, chúng luôn có nhiều âm mưu, thủ đoạn để che dấu hành vi vi phạm nên đối với công việc của công an phải luôn tận tụy, tập trung cho công việc, chủ động nắm tình hình, xem xét, đối chiếu, so sánh để lựa chọn cái đúng, không nhầm lẫn đúng với sai. Người luôn nhắc nhở lực lượng Công an không suy bì, tỵ nạnh, lương cao, lương thấp, tính toán hơn thiệt mà phải toàn tâm, toàn ý, tận tụy, nhẫn nại, cải tiến phương pháp làm việc; tác phong làm việc nền nếp, khoa học, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp. Theo Người: “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”; “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn”. Để thực hiện được sự tận tụy cần phải sâu sát, nắm việc, nắm người, nắm chắc tình hình, địa bàn, đối tượng, nắm tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân để có kế hoạch công tác, phương án thực hiện phù hợp với tình hình thực tế. Người thường nhắc nhở: “Gặp một vấn đề, ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này? Xử lý như thế này kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng, chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều, gặp sao làm vậy”.
Từ cuộc đời cách mạng và kinh nghiệm thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bình tĩnh, chủ động vượt qua mọi cạm bẫy, thủ đoạn của đối phương. Vì vậy, Người dạy Công an nhân dân “Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”. Cương quyết, khôn khéo là sự mưu trí, sáng tạo, bình tĩnh, kết hợp giữa sách lược và chiến lược, giữa nguyên tắc và phương pháp đấu tranh để xử lý tốt các tình huống đặt ra; đánh giá đúng thế mạnh, điểm yếu của địch để chủ động áp dụng biện pháp, đối sách phù hợp. Luôn nhận biết đối tác, đối tượng, tính toán toàn diện về lợi ích chính trị, pháp luật, nghiệp vụ và đối ngoại, trong đó phải đặt lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc lên hàng đầu, bảo đảm giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Sáu điều Bác Hồ dạy là những điều chỉ dẫn, dạy bảo vô cùng quý báu, hàm chứa nhiều giá trị đạo đức và chuẩn mực về phẩm chất và tư cách người Công an nhân dân; là thế ứng xử đúng đắn, nhân văn; là kim chỉ nam, nền tảng để mỗi cán bộ “tự soi”, “tự sửa” để hoàn thiện hơn góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Cảnh sát nhân dân luôn gắn liền với lịch sử vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam. Ra đời từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 như: Lực lượng tự vệ, Danh dự trừ gian, Hộ lương diệt ác... Các tổ chức tiền thân đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân như: Sở Liêm phóng, Sở Trinh sát, Quốc gia tự vệ cuộc do Đảng tổ chức và lãnh đạo thực hiện nòng cốt xung kích trong tổng khởi nghĩa, bảo vệ các cuộc biểu tình, bắt, trấn áp số Việt gian, phản động, mật thám. Để tăng cường chuyên chính của Nhân dân, ngày 21/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất các Sở Cảnh sát, Sở Liêm phóng toàn quốc thành “Việt Nam Công an vụ”, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình xây dựng và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Từ đây, các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự với tên gọi chung là công an. Để thực hiện Sắc lệnh số 23/SL, ngày 18/4/1946, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 121-NgĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ gồm 3 cấp là: Công an Việt Nam, Công an kỳ, Công an tỉnh. Ở Trung ương gọi là Nha Công an Việt Nam. Ở ba miền Bắc, Trung, Nam gọi là Sở Công an. Ở tỉnh gọi là Ty Công an để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.
Ngày 12/5/1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 05-CT/TW về nhiệm vụ và tổ chức công an, quy định Nha Công an ở trong Bộ Nội vụ, trong đó có “Bộ phận phụ trách công việc trị an hành chính”. Ngày 28/7/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 982/TTg về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an. Lực lượng Trị an hành chính các cấp từ đây đổi tên là lực lượng Cảnh sát nhân dân, đánh dấu mốc quan trọng trưởng thành về mặt tổ chức của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam. Ngày 20/7/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 34/LCL công bố Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân và quy định cấp bậc sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân. Đây là mốc son lịch sử, đánh dấu sự trưởng thành và ngày 20/7 hằng năm chính thức trở thành Ngày truyền thống của lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã kiên cường chiến đấu, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự ở những vùng nông thôn hậu phương. Với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và quán triệt, học tập Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, mỗi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân đã đề ra mục tiêu phấn đấu, rèn luyện, tích cực tham gia phong trào phá tề trừ gian, mưu trí, dũng cảm tiến sâu vào vùng địch; phát động phong trào “Ba không”, “Phòng gian bảo mật”, “Rèn cán bộ, lập chiến công”, bảo vệ các chiến dịch, bảo đảm giao thông; tham gia “Ban Công an tiền phương” bảo vệ các cuộc hành quân, phối hợp bảo đảm an toàn kế hoạch cho chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau năm 1954, trước tình hình yêu cầu nhiệm vụ mới, lực lượng Cảnh sát nhân dân phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng “Bảo vệ trị an”, “Bảo mật phòng gian”, tham gia tích cực trong công tác cải cách ruộng đất, khắc phục hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chế độ cũ để lại; đấu tranh chống tội phạm hình sự, giữ gìn an ninh, trật tự. Các đơn vị đội, trạm Cảnh sát giao thông với quyết tâm “Tất cả vì tiền tuyến”, “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”... cùng với các lực lượng khác bảo vệ và khai thông các tuyến đường vận tải bảo đảm chi viện cho các chiến trường. Với khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam thân yêu”, đã có hàng ngàn lượt cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát viết đơn tình nguyện lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Chỉ tính riêng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đã có gần 3.000 cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân chi viện cho miền Nam phối hợp lực lượng tại chỗ tiêu diệt địch; đồng thời tăng cường cho các đơn vị nghiệp vụ như: Quản lý hành chính, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát trại giam... đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự vùng mới giải phóng; tổ chức trấn áp các băng, nhóm tội phạm cướp, trộm cắp, truy quét tệ nạn xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân vào chế độ xã hội mới.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, trong giai đoạn 1975 - 1986, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức; tình hình tội phạm, trật tự xã hội diễn biến rất phức tạp, nhất là sau khi số lượng lớn tù nhân trong các nhà tù thuộc chế độ Ngụy quyền trước đây được đại xá, trong số đó có rất nhiều đối tượng phạm tội hình sự đặc biệt nguy hiểm. Trước tình hình đó, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng An ninh nhân dân và các ban, ngành, đoàn thể tiếp quản, giữ vững an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, duy trì trật tự, kỷ cương, bài trừ tệ nạn xã hội. Đồng thời, triển khai sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; tham mưu tổ chức quản lý, thu hồi vũ khí vật liệu nổ, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy....
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự thay đổi về mọi mặt về đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật cũng diễn biến ngày càng phức tạp, với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao... Lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Trong công tác phòng ngừa tội phạm, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương, phối hợp với các ngành, các cấp xây dựng “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”với nhiều nội dung, hình thức phong phú, phát huy được sức mạnh của Nhân dân trong công tác phòng ngừa, tấn công trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Trong công tác đấu tranh trấn áp tội phạm, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã thường xuyên mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm; tập trung trấn áp, triệt phá các loại tội phạm hình sự hoạt động có tổ chức, các băng, ổ, nhóm tội phạm; triệt phá các đường dây vận chuyển, mua bán ma túy quy mô lớn, xuyên quốc gia, xóa bỏ các tụ điểm phức tạp về tội phạm và tệ nạn ma túy; khẩn trương điều tra, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn, tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả; phát hiện, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường; đấu tranh làm rõ các phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mạng, tội phạm xuyên quốc gia...
Đồng thời, lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tăng cường các mặt công tác quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy; tăng cường phòng cháy, chữa cháy; quản lý, giáo dục, cải tạo người phạm tội và vi phạm pháp luật thành những người có ích cho xã hội; bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước như bảo vệ an toàn các hội nghị, sự kiện chính trị lớn của đất nước và hội nghị quốc tế quan trọng tổ chức tại Việt Nam. Toàn lực lượng đã khẩn trương hoàn thành thắng lợi chiến dịch xây dựng Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân, góp phần quan trọng phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử, được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nhân dân ghi nhận và đánh giá cao. Trên lĩnh vực hợp tác quốc tế, lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol); gia nhập Hiệp hội Cảnh sát quốc gia Đông Nam Á (ASEANAPOL).
Để thực hiện chủ trương của Bộ Công an kiện toàn mô hình tổ chức theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, lực lượng Cảnh sát Nhân dân thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, động viên cán bộ, chiến sĩ gương mẫu, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy mới; viết đơn tình nguyện tăng cường cho cơ sở, đảm nhiệm chức danh Công an xã. Hiện nay, trong bối cảnh diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, lực lượng Cảnh sát nhân dân là một trong những lực lượng tuyến đầu, nòng cốt, tích cực cùng toàn dân phòng chống dịch bệnh Covid-19 với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”; “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”; tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành quy định của Chính phủ về phòng chống dịch Covid-19.
Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, qua các giai đoạn cách mạng, trong thời bình hay thời chiến, lực lượng Cảnh sát nhân dân luôn quán triệt, học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, có phẩm chất đạo đức trong sáng; nêu cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết, mưu trí, dũng cảm bảo vệ an ninh, trật tự; tận tâm, tận tụy với công việc; trong ứng xử với Nhân dân nêu cao đức tính “kính dân”, “trọng dân”, “tin dân”, “gần dân”, “Khi dân cần, khi dân khó có Công an”; “Mỗi ngày làm một việc tốt vì dân”, “làm hết việc không làm hết giờ”... Xây dựng phong cách người Cảnh sát sát nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ. Triển khai thực hiện có hiệu quả văn hóa giao tiếp ứng xử; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa vì Nhân dân phục vụ; đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình... Đã tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu, tập huấn kỹ năng giao tiếp ứng xử; tổ chức các hình thức lấy ý kiến góp ý của Nhân dân; tăng cường tập huấn, kiểm tra điều lệnh, huấn luyện quân sự, võ thuật; cải cách thủ tục hành chính; lấy phiếu đánh giá sự hài lòng của Nhân dân đối với việc giải quyết thủ tục hành chính của lực lượng Công an; xây dựng mô hình, phần việc, thực hiện dân vận, ủng hộ, giúp đỡ Nhân dân xây dựng nông thôn mới...
Ghi nhận chiến công xuất sắc của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, hàng trăm tập thể, cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác; đồng thời được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước tặng 16 chữ vàng “Cảnh sát Việt Nam mưu trí, dũng cảm, vì nước, vì dân, quên thân phục vụ”.
Bên cạnh những kết quả đạt được, lực lượng Cảnh sát nhân dân cần chấn chỉnh, rút kinh nghiệm về một số tình trạng như: Một số lãnh đạo, chỉ huy chưa nêu gương trong tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành kỷ cương, kỷ luật, điều lệnh Công an nhân dân; trong giao tiếp, ứng xử, cán bộ, chiến sĩ còn nể nang, né tránh trong thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nêu cao tinh thần vì Nhân dân phục vụ; cá biệt còn vi phạm điều lệnh Công an nhân dân, vi phạm quy chế, quy trình công tác, vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín, danh dự của lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng và lực lượng Công an nhân dân nói chung. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do tác động của khách quan như chịu sự ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường; sự tác động lôi kéo của các thế lực thù địch; do tính chất, đặc điểm môi trường công tác, chiến đấu của lực lượng Cảnh sát nhân dân đặc thù, phức tạp, nguy hiểm, thường xuyên tiếp xúc với các loại tội phạm, luôn bị mua chuộc, lôi kéo, có trường hợp đe dọa, trả thù... đã tác động đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan thuộc về cấp ủy, lãnh đạo Công an một số đơn vị, địa phương chưa nhận thức đầy đủ và quán triệt thực hiện nghiêm túc Sáu điều Bác Hồ dạy; bản thân một số cán bộ, chiến sĩ thiếu tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; thiếu kỹ năng giao tiếp ứng xử trong giải quyết các tình huống thường xảy ra trong thực tiễn.
Trong bối cảnh hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cùng với những mặt tích cực để phát triển đất nước, bên cạnh đó là những tác động tiêu cực tới nhận thức của Nhân dân và đời sống văn hóa, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Mặt trái của kinh tế thị trường tác động làm nảy sinh hiện tượng tiêu cực, tạo ra những mâu thuẫn, xung đột, phân tầng xã hội, kích thích lối sống thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân... đang tác động hàng ngày, hàng giờ, làm thay đổi giá trị chuẩn mực, đạo đức, tâm lý, tình cảm, ý thức tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ Công an nói chung và lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, xây dựng phong cách người Cảnh sát nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ công trong phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Cảnh sát nhân dân cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về chính trị cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân thông qua tổ chức giáo dục, bồi dưỡng, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu, quán triệt, học tập, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội của Đảng bộ Công an Trung ương, nhiệm kỳ 2021- 2025 gắn với tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 04/CT-BCA, ngày 19/5/2018 của Bộ Công an về đổi mới, nâng cao chất lượng phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy” trong tình hình mới và Cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ”.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân thấy rõ bổn phận, trách nhiệm, coi trọng “danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Thường xuyên, thực hiện việc tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa”, tự nhận diện các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tăng cường giáo dục ý thức tự giác, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết.Chú trọng rèn luyện tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với thử thách, khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Ba là, triển khai thực hiện Chỉ thị số 05/CT-BCA-X03, ngày 15/7/2021 của Bộ Công an về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng trong Công an nhân dân; Công văn số 1869/BCA-X03, ngày 15/6/2021 của Bộ Công an về tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ; Thông tư số 27/2017/TT-BCA, ngày 22/8/2017 của Bộ Công an quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân. Trong đó tập trung nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ huy, phân cấp, phân công cụ thể trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, quản lý cán bộ; đề cao trách nhiệm nêu gương, tinh thần năng động, sáng tạo, quyết liệt của cấp ủy, người đứng đầu. Tổ chức các hình thức tọa đàm, hội thảo, tập huấn kỹ năng giao tiếp ứng xử; thi tìm hiểu, nói chuyện chuyên đề, xây dựng các tiêu chí về văn hóa giao tiếp, ứng xử cho phù hợp với tính chất và điều kiện công tác của từng đơn vị.
Bốn là, nêu cao vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu, đi đầu của cấp ủy, thủ trưởng các đơn vị trong việc thực hiện tu dưỡng, rèn luyện theo Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; thực hiện theo tinh thần“trong trước, ngoài sau”, “trên trước, dưới sau”, “nói đi đôi với làm”, “phát động đi đôi với hành động”; gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, điều lệnh Công an nhân dân. Lãnh đạo, chỉ huy phải làm gương trong tu dưỡng, rèn luyện, nêu cao phẩm chất chính trị vững vàng; đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác; thực sự là tấm gương sáng trong tu dưỡng, rèn luyện, công tác, sinh hoạt để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo.
Năm là, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, định kỳ sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng những đơn vị và cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân thực hiện tốt quy tắc ứng xử và điều lệnh Công an nhân dân; đồng thời tiếp thu, rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém của cán bộ, chiến sĩ. Chủ động phát hiện, xử lý nghiêm cán bộ, chiến sĩ vi phạm theo tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”; xử lý trách nhiệm liên đới của lãnh đạo trực tiếp quản lý khi có cán bộ, chiến sĩ sai phạm. Tăng cường phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền nêu gương “người tốt”, “việc tốt”, gương chiến đấu- dũng cảm, tinh thần tận tụy, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ.
Sáu điều Bác Hồ dạy luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động, có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức, xây dựng nhân cách, triết lý về đạo đức, phép ứng xử, tu dưỡng của mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nói chung và Cảnh sát nhân dân nói riêng. Để thực hiện tốt Sáu điều Bác Hồ dạy, phát huy truyền thống vẻ vang, mỗi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ về mọi mặt; chủ động đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với thử thách, khó khăn, coi trọng “danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”,sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin tưởng giao phó./
Thượng tướng, PGS,TS. Trần Quốc Tỏ
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an
