Nhận diện một số biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong công tác cán bộ cần đấu tranh phòng, chống

Nguyễn Đức Hà - Nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, Ban Tổ chức Trung ương

Nhận diện một số biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong công tác cán bộ cần đấu tranh phòng, chống

1. Một số vấn đề chung và quan hệ giữa tham nhũng với tiêu cực

Thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mấy năm qua cho thấy: Từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đến nay, khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được kiện toàn với số lượng, cơ cấu, thành phần hợp lý hơn và là một ban trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trực tiếp làm Trưởng ban. Đồng thời, việc tái lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa là một ban tham mưu cho Trung ương về lĩnh vực nội chính, vừa là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, thì công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được tập trung chỉ đạo mạnh mẽ hơn, với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt và đem lại nhiều kết quả cụ thể, thiết thực, có ý nghĩa đột phá như Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá.

Chúng ta biết rằng, trên cơ sở tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và từ yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ Tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốỉ sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nghị quyết đã nhận diện và chỉ ra một hệ thống với 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, gồm: 09 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 09 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 09 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có thể nói, đây là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra một hệ thống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi của mình trong công tác và sinh hoạt hàng ngày. Những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra thực chất là những biểu hiện tiêu cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những biểu hiện tiêu cực đó nếu không được đấu tranh, ngăn chặn và khắc phục kịp thời sẽ dẫn đến những biểu hiện cực kỳ nguy hiểm là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Từ suy thoái về tư tưởng chỉnh trị, suy thoái về đạo đức, lối sống đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn.

Như vậy, tham nhũng và tiêu cực vừa có những điểm chung giống nhau, vừa có điểm riêng khác nhau. Giống nhau là tham nhũng cũng là một biểu hiện của tiêu cực; tham nhũng và tiêu cực đều là những hành vi gây nên những hậu quả xấu đối với xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, sự khác nhau là không phải tất cả các biểu hiện tiêu cực đều là tham nhũng; tham nhũng là hành vi tiêu cực nhưng nó gắn liền với những người có chức, có quyền, tức là chỉ những người có chức, có quyền mới có thể tham nhũng được; những người không có chức, có quyền thì chỉ có thể có hành vi tiêu cực, chứ không thể có hành vi tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực không chỉ xảy ra trong lĩnh vực kinh tế, mà còn xảy ra trong lĩnh vực chính trị và các lĩnh vực khác. Vì thế, khi tham nhũng xảy ra đối với những cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức vụ càng cao, công tác ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí quan trọng thì càng nguy hiểm và để lại những hậu quả càng lớn đối với đất nước và xã hội. Như vậy, có thể nói các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống hay những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đều bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị.

Vì vậy, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực chất là đấu tranh phòng, chống tiêu cực và đấu tranh phòng, chống tiêu cực chính là chúng ta chủ động để đấu tranh phòng, chống tham nhũng từ sớm, từ xa, từ khi tiêu cực mới hình thành, không để chúng trở thành tham nhũng.

Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng những năm vừa qua cũng chỉ ra rằng: Bên cạnh “tệ nạn tham nhũng” đã và đang được đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt, thì tình trạng lãng phí đã và đang xảy ra nghiêm trọng, khá phổ biến ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Đó là sự lãng phí về thời gian, trí tuệ, công sức, vốn, tài nguyên, tài sản, công quỹ của Nhà nước; lãng phí không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế, thậm chí không kém gì tham nhũng, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, nhưng lãng phí chưa được tập trung chỉ đạo đấu tranh quyết liệt như đối với tham nhũng. Mặt khác, trong các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều gắn tham nhũng, lãng phí với nhau. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII trình Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một sổ địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt”;... “Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội [1].

Vì vậy, tôi cho rằng, việc đấu tranh phòng, chống lãng phí, tiêu cực, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị cần được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo, vì tham nhũng và lãng phí là hai biểu hiện tiêu cực vừa mang tính phổ biến, vừa diễn ra phức tạp và gắn liền với vai trò, trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp, để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong Đảng và trong dư luận xã hội. Theo đó, tên của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có thể điều chỉnh là: “Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”.

Tuy nhiên, chúng ta cần thống nhất rằng: Các biểu hiện tiêu cực hiện nay xảy ra rất nhiều, phạm vi rất rộng và rất đa dạng, phức tạp. Nếu Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi và chỉ đạo tất cả thì không thể nào làm hết được. Mặt khác, việc đấu tranh chống tiêu cực là trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của tất cả các cấp ủy, tổ chức đảng và sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Vì thế, ngoài việc theo dõi, chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng cần theo dõi, chỉ đạo cả phòng, chống lãng phí, tiêu cực lớn, nguy hiểm như đã phân tích ở trên.

2. Nhận diện một số biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ

Trong các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng đã chỉ ra, trong đó một số biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ, mà thực chất là sự tham nhũng về quyền lực, nhất là biểu hiện “tư duy nhiệm kỳ” và bệnh “thành tích” mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra.

(1) “Tư duy nhiệm kỳ” và bệnh “thành tích” xảy ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành và chủ yếu đối với các đối tượng sau:

- Những người mới được bổ nhiệm hoặc bầu cử vào một chức vụ mới, nhất là người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị thường tranh thủ các điều kiện, cơ hội đã có và tạo thêm những mối “quan hệ” mới nhằm khẳng định vị trí của mình. Họ tìm mọi cách để “xây dựng cơ sở” và tạo “ê kíp” mới gồm những người thân quen, cùng cánh vế và “trung thành” với mình; tìm mọi cách thu hút các nguồn vốn, kêu gọi các Dự án mới và xây dựng các “công trình” mang dấu ấn của cá nhân, vừa để có “nguồn thu”, vừa đánh bóng tên tuổi, gây thanh thế, tín nhiệm với cấp trên và cấp dưới.

- Những người biết chắc chắn mình sẽ không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để bổ nhiệm lại hoặc tái cử cấp ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các đoàn thể chính trị - xã hội khoá tới theo quy định, thì thường bộc lộ tư tưởng “chợ chiều”, “im lặng” để không làm mất lòng ai theo kiểu “Dĩ hòa vi quý”. Mặt khác, họ tranh thủ thời gian ngắn ngủi còn lại để chăm lo, vun vén lợi ích cho bản thân, gia đình; đồng thời tìm mọi cách “chạy” để được khen thưởng, tặng thưởng các danh hiệu thi đua nhằm thể hiện với mọi người là mình đã “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” và được “hạ cánh an toàn” khi về nghỉ hưu.

- Đối với những người có thể tiếp tục được bổ nhiệm lại hoặc tái cử khoá tới (cấp ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân...) thì thường bộc lộ tư tưởng “nín thở”, “chờ thời”, nên nể nang, né tránh, ngại va chạm, không muốn làm mất lòng ai theo kiểu “im lặng là vàng”; đồng thời, tìm mọi cách để gây thanh thế, đánh bóng bản thân, lấy lòng mọi người để được ủng hộ khi lấy phiếu tín nhiệm bổ nhiệm lại hoặc khi bầu cử cấp ủy... ở nhiệm kỳ tới.

- Như vậy, các đối tượng và những biểu hiện cụ thể nêu trên đều có điểm chung là: Do lợi ích cá nhân nên một mặt tạo “ê kíp” mới, mặt khác thì nể nang, né tranh, ngại va chạm; tìm mọi cách để tạo uy tín cá nhân và lấy lòng mọi người. Do đó, trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ thì bộc lộ tư tưởng dễ làm, khó bỏ; không lãnh đạo, chỉ đạo một cách quyết liệt, do sợ động chạm, ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân.

(2) Những biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” và bệnh “thành tích” trong công tác cán bộ:

- Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

+ Do “tư duy nhiệm kỳ”, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý đã bộc lộ tư tưởng “chợ chiều” nên thường đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của cá nhân. Sự lãnh đạo, chỉ đạo thiếu sâu sát, quyết liệt so với trước. Những việc đã đề ra và cần phải làm trong nhiệm kỳ, nhưng thấy việc gì dễ thì làm, nhất là những việc có lợi ích cho cá nhân; những việc khó, phức tạp, động chạm đến quyền lợi của mình và của người khác thì chần chừ, nấn ná không muốn làm hoặc nếu làm thì cũng thiếu quyết liệt. Cá biệt, có người khi thấy những việc khó, phức tạp, dễ động chạm thì bao biện rằng: đây là việc mới, khó, nhạy cảm và đang còn có ý kiến khác nhau, cần tiếp tục nghiên cứu để thực hiện trong nhiệm kỳ tới, thực chất là hiểu hiện dễ làm, khó bỏ và trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ.

+ Do bệnh “thành tích”, nên những hạn chế, khuyết điểm của tập thể hoặc cá nhân thường được che giấu, còn thành tích thì được khuyếch trương so với kết quả thực tế. Từ đó, dẫn đến tình trạng báo cáo với cấp trên sai sự thật để được khen thưởng hoặc nhận các danh hiệu thi đua. Đã có không ít tập thể, cá nhân vừa được biểu dương, khen thưởng và suy tôn bằng những danh hiệu cao quý, thì sau đó lại phát hiện ra nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực từ trước, thậm chí vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, phải truy tố trước pháp luật. Vì vậy, bệnh thành tích thường đi đôi với bệnh hình thức, giả tạo, gây lãng phí lớn cho ngân sách nhà nước, tiền bạc của nhân dân.

- Trong nhận xét, đánh giá cán bộ

+ Khi cán bộ cấp trên nhận xét, đánh giá đối với cán bộ cấp dưới, hoặc khi cán bộ cấp dưới góp ý, phê bình cấp trên thì nể nang, né tránh, ngại va chạm theo kiểu “chín bỏ làm mười” để lấy lòng mọi người. Thực tế là cấp trên cũng lấy lòng cấp dưới và cấp dưới cũng lấy lòng cấp trên, để dù mình còn tiếp tục công tác ở vị trí cũ hay có nghỉ hưu thì đây cũng là dịp để “giúp đỡ”, “ban phát lộc” cho người khác, nhằm tăng thêm “đồng minh”, bổ sung thêm những người ủng hộ, giúp đỡ mình sau này.

+ Khi nhận xét, đánh giá đối với những cán bộ có khuyết điểm, thì thường nhấn mạnh ưu điểm và nương nhẹ hoặc bỏ qua khuyết điểm; nếu vi phạm khuyết điểm đến mức phải có hình thức kỷ luật thì cũng bao biện, đổ lỗi cho khách quan nhằm giảm nhẹ hình thức kỷ luật. Do đó, không ít trường hợp cán bộ có khuyết điểm đến mức phải xử lý kỷ luật, nhưng rồi cũng chỉ áp dụng hình thức “Kiểm điểm nghiêm túc và rút kinh nghiệm sâu sắc”; có người vi phạm đến mức phải xử lý bằng pháp luật, nhưng cũng chỉ xử lý bằng biện pháp hành chính trong nội bộ.

+ Khi nhận xét, đánh giá đối với những cán bộ để được nâng lương sớm, khen thưởng, công nhận các danh hiệu thi đua hoặc bổ nhiệm, cất nhắc, giới thiệu ứng cử vào cương vị công tác mới cao hơn thì thường nhấn mạnh ưu điểm, lược bỏ bớt khuyết điểm, thành tích 1 thì phóng đại thành 2 để ban ơn, làm phúc, lấy lòng mọi người.

Như vậy, dù trong trường hợp nào thì những biểu hiện nêu trên đều dẫn đến kết quả là việc nhận xét, đánh giá cán bộ thiếu công tâm, khách quan và không chính xác, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng các khâu khác của công tác cán bộ.

- Trong công tác quy hoạch cán bộ

+ Lợi dụng chủ trương quy hoạch cán bộ là để tạo nguồn cán bộ cho lâu dài; cán bộ đưa vào quy hoạch còn phải tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm được các yêu cầu về tiêu chuẩn của chức danh quy hoạch. Vì vậy, do nể nang và tạo cơ hội cho nhau nên không ít trường hợp đã được vận dụng, châm trước tiêu chuẩn, cho nợ hoặc hạ thấp tiêu chuẩn để có điều kiện đưa những người thân, cùng cánh vế, cùng “nhóm lợi ích” với mình vào danh sách quy hoạch.

+ Yêu cầu của công tác quy hoạch là phải tiến hành theo phương châm “Động” và “Mở”. Tuy nhiên, trong thực tiễn ở nhiều nơi chưa thực hiện tốt phương châm này; nhiều nơi còn xảy ra tình trạng khép kín trong địa phương, cơ quan, đơn vị mình, không muốn mở rộng ra ngoài để số người có đủ tiêu chuẩn được quy hoạch ít đi, tạo điều kiện thuận lợi để đưa những người thân tín vào quy hoạch. Để làm được điều đó, không ít trường hợp đã được “biến hóa” với những lý do về cơ cấu nữ, trẻ, trí thức, quá trình công tác, hoặc thực hiện chính sách đối với cán bộ...

+ Trong công tác quy hoạch cán bộ, một số người có trách nhiệm thường “quan tâm” và “để mắt” đến những người thân của mình và những đối tượng là con, em, người thân của những người đã “có công giúp đỡ” mình trước đây để “đền ơn, đáp nghĩa”. Do đó, có tình trạng tạo ra những “chỗ trống” để có điều kiện đưa những người thân, những người có “quan hệ tốt” với mình vào quy hoạch, chuẩn bị cán bộ cho “thê đội sau” để khi mình nghỉ hưu vẫn có “anh em, chiến hữu” kế tục sự nghiệp của mình.

+ Khi tiến hành quy hoạch, không xem kỹ về yêu cầu nhiệm vụ và tiêu chuẩn của chức danh quy hoạch, dẫn đến tình trạng quy hoạch tràn lan, số lượng quá lớn so với yêu cầu quy hoạch, người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện cũng châm trước để đưa vào quy hoạch. Thực chất cũng là để động viên và lấy lòng nhau, để ban phát cho nhau cái danh là đã được đưa vào quy hoạch của chức danh này, chức danh kia...

Vì vậy, khi tổng kết công tác quy hoạch cán bộ, Kết luận số 37-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ: “Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ ở một số địa phương, đơn vị chưa xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và năng lực thực tiễn của cán bộ, chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ, dẫn đến nhiều đề án quy hoạch còn hình thức, thiếu tính khả thi. Chất lượng quy hoạch cán bộ chưa cao, chưa đồng đều và hầu hết các đề án quy hoạch chưa có tầm nhìn xa, chưa bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi. Nhìn tổng thể, quy hoạch cán bộ thời gian qua chưa có sự liên thông giữa cấp dưới với cấp trên, giữa địa phương với Trung ương, giữa các ngành, các lĩnh vực công tác với nhau”.

- Trong công tác luân chuyển cán bộ

Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu rõ: Đưa những cán bộ trẻ, đã được đào tạo cơ bản, nằm trong quy hoạch và có khả năng phát triển, nhưng còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn đi luân chuyển để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thực tiễn, giúp cho cán bộ trưởng thành, phát triển nhanh và toàn diện hơn. Tuy nhiên, do “tư duy nhiệm kỳ” và bệnh thành tích nên trong thực tế, việc luân chuyển cán bộ ở một số nơi cũng bộc lộ nhiều mặt hạn chế, bất cập, làm sai lệch, “méo mó” chủ trương luân chuyển cán bộ. Cụ thể là:

+ Một số nơi thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý không dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch cán bộ; không căn cứ từ yêu cầu nhiệm vụ, mà xuất phát từ ý muốn chủ quan của người lãnh đạo. Một số trường hợp đưa cán bộ đi luân chuyển trong thời gian quá ngắn, chủ yếu để “dán tem” là đã qua luân chuyển, đã kinh qua cán bộ chủ chốt ở cấp dưới, tạo điều kiện để bố trí, bổ nhiệm vào các chức vụ chủ chốt ở cấp trên hoặc chức vụ cao hơn.

+ Không ít những trường hợp được đưa đi luân chuyển không đúng đối tượng như: không phải là cán bộ trẻ, không nằm trong danh sách quy hoạch, chưa được đào tạo cơ bản và cũng không rõ khả năng phát triển. Có trường hợp đưa cán bộ đi luân chuyển nhưng nơi có cán bộ đi và nơi nhận cán bộ luân chuyển đến còn băn khoăn, chưa có sự nhất trí cao về người cán bộ đó, nhưng cấp trên chỉ trao đổi qua loa rồi ép xuống. Có trường hợp không thuộc đối tượng đi luân chuyển, nhưng được những người có trách nhiệm “giúp đỡ” đã biến tướng trở thành việc đưa cán bộ đi để đáp ứng theo yêu cầu của địa phương, đến khi rút về thì nghiễm nhiên lại trở thành cán bộ đã được đi luân chuyển. Những trường hợp như vậy đã làm hạn chế chất lượng và ảnh hưởng đến chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý của Đảng.

+ Việc luân chuyển cán bộ đối với một số trường hợp còn có biểu hiện chủ quan, không xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ nên chọn những nơi thuận lợi để đưa người thân tín đi và nơi về sau khi hết thời hạn luân chuyển. Tình trạng đó đã dẫn đến tình trạng bất hợp lý, thậm chí trái ngành, trái nghề, có nơi thừa, nơi thiếu cán bộ; vừa không đáp ứng được yêu cầu đào tạo, vừa hạn chế sự đóng góp của cán bộ luân chuyển đối với địa phương có cán bộ luân chuyển đến.

- Trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ

+ Một số cán bộ có chức, có quyền đã tranh thủ thời gian trước khi hết nhiệm kỳ hoặc trước khi nghỉ hưu để thành lập thêm những tổ chức mới không thực sự cần thiết để có điều kiện tăng thêm “chức danh lãnh đạo”; đề bạt, bổ nhiệm cán bộ một cách dễ dãi, tràn lan, không bảo đảm tiêu chuẩn hoặc không thực hiện đúng quy trình và số lượng cấp phó theo quy định chung. Không ít trường hợp đã tranh thủ trước khi hợp nhất, sát nhập thì tranh thủ bổ nhiệm, đề bạt những người thân quen với mình và coi đó là “chuyện đã rồi”. Đối với lãnh đạo doanh nghiệp thì tranh thủ trước khi hợp nhất hoặc cổ phần hoá để sắp xếp cán bộ cùng “nhóm lợi ích” vào các vị trí quan trọng; ngấm ngầm tẩu tán tài sản, bố trí người thân vào những công việc “béo bở”, có nhiều lợi ích...

+ Một số trường hợp đề bạt, bổ nhiệm hoặc giới thiệu ứng cử để bầu vào các chức danh lãnh đạo, quản lý được châm trước hoặc cho nợ tiêu chuẩn của chức danh bổ nhiệm và cho phép được trả nợ sau. Một số nơi đã bỏ qua hoặc làm tắt một số bước trong quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải thực hiện, khi có ý kiến phản ứng của quần chúng trong cơ quan thì cho là “chuyện đã rồi” để rút kinh nghiệm sau...

+ Có những trường hợp bổ nhiệm, đề bạt cán bộ tuy đã thực hiện đúng quy trình và được thảo luận, bàn bạc trong tập thể, nhưng chỉ là dân chủ hình thức, còn thực chất là sự “hợp thức hoá” ý chí của người đứng đầu. Thực tế cũng chứng minh rằng: Có không ít trường hợp mặc dù đã thực hiện đúng “quy trình”, nhưng cuối cùng vẫn không lựa chọn được những người thực sự có đức, có tài. Tình hình đó đã làm thui chột động lực học tập, rèn luyện, phấn đấu của những cán bộ tốt, tạo nên những dư luận xấu trong nội bộ và ảnh hưởng đối với những cán bộ được đề bạt.

+ Ngược lại, không ít người có phẩm chất, năng lực, trung thực, thẳng thắn và tâm huyết, dám đấu tranh với cái sai và bảo vệ cái đúng thì bị một số người có chức, có quyền ghét bỏ, không sử dụng hoặc bố trí vào những nơi để “ngồi chơi xơi nước”; có người thì bị vô hiệu hóa và đẩy đi chỗ khác, nhằm tạo ra “chỗ trống” để bố trí người khác cùng “dây” thay thế. Thực tế, có người là thủ trưởng cơ quan đã ký quyết định cho cán bộ không hợp với mình trong ngày nghỉ tết Nguyên Đán, vì sau kỳ nghỉ tết thì phải bàn giao cho người khác, không còn thẩm quyền ký nữa.

(3) Hậu quả tiêu cực của “Tư duy nhiệm kỳ”, bệnh “thành tích”

Những biểu hiện cụ thể của “Tư duy nhiệm kỳ” và bệnh “thành tích” nêu trên có thể ở phạm vi, quy mô, tính chất và hình thức khác nhau, nhưng đều gây nên những tác hại xấu trên nhiều mặt. Cụ thể là:

- Trước hết, những biểu hiện của “Tư duy nhiệm kỳ” và bệnh thành tích đã ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các khâu của công tác cán bộ; làm sai lệch, méo mó những chủ trương, quan điểm đúng đắn của Đảng, và cuối cùng là làm cho công tác tổ chức cán bộ cũng như việc xây dựng đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị không đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

- Từ những việc làm không đúng hoặc tiêu cực trong công tác tổ chức cán bộ đã dẫn đến tình trạng bổ nhiệm, đề bạt những người không đủ phẩm chất, năng lực giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý, làm cho tình hình tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị phức tạp thêm, thậm chí dẫn đến tình trạng mất đoàn kết nội bộ.

- Làm triệt tiêu động lực phấn đấu của đội ngũ cán bộ, nhất là những cán bộ trung thực, thẳng thắn, có phẩm chất, năng lực tốt; đồng thời làm cho cán bộ không quan tâm việc học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, mà khuyến khích việc việc “chạy chức”, gây nên sự lãng phí trí tuệ, chất xám trong đội ngũ cán bộ, làm thui chột ý chí phấn đấu của cán bộ và cuối cùng là làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.

Vì vậy, những biểu hiện của “Tư duy nhiệm kỳ” và bệnh thành tích nếu không được đấu tranh ngăn chặn và khắc phục kịp thời, cùng với những khuyết điêm, yếu kém khác của công tác xây dựng Đảng, sẽ làm cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị dần dần suy thoái, bị phân hóa và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

3. Nguyên nhân của những tiêu cực trong công tác cán bộ

- Do các quy chế, quy định của Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước còn thiếu, bất cập và không đồng bộ. Kỷ cương, kỷ luật thực hiện không nghiêm và thiếu kịp thời, dứt điểm nên chưa đủ sức răn đe, đẩy lùi những hành vi tiêu cực.

- Do mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế tác động đến đội ngũ cán bộ, đảng viên; những hạn chế, yếu kém của công tác giáo dục chính trị tư tưởng và ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên thiếu thường xuyên đã làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Đây chính là cái “gốc” làm nảy sinh “Tư duy nhiệm kỳ” và bệnh thành tích ngày càng phát triển, nhằm đem lại lợi ích cho cá nhân.

- Do những hạn chế, yếu kém của công tác xây dựng Đảng trong nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ dồn lại, đã dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở các cấp. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã làm nảy sinh và nuôi dưỡng cho tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và lối sống cơ hội, thực dụng phát triển.

- Cái gốc của chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy khen thưởng... đều xuất phát từ lợi ích cá nhân và đều lấy lợi ích kinh tế làm cơ sở. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh rằng: mọi sự chạy chọt nêu trên, không có việc chạy nào lại không có địa chỉ cụ thể để chạy đến.

- Các hoạt động tâm linh và mê tín dị đoan ngày càng phát triển đã tác động đến nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên, làm cho cán bộ, đảng viên từ hoang mang, dao động đến khủng hoảng lòng tin và phai nhạt mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Nhiều người đã quá tin vào thánh thần, tướng số, dẫn đến không phân biệt được thật giả, đúng sai; làm gì, đi đâu, thậm chí tuyển người, chọn thư ký giúp việc cũng phải xem tuổi của họ có hợp với tuổi mình không...

4. Giải pháp khắc phục tiêu cực trong công tác cán bộ

- Phải tập trung đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khóa XII về xây dựng Đảng. Kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi sự suy thoái về tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; xây dựng môi trường công tác, làm việc lành mạnh, trước hết là trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp.

- Thực sự mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng, tăng cường công khai, minh bạch trong công tác tổ chức cán bộ. Đồng thời, phải thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của báo chí và nhân dân đối với các hoạt động của tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội và đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Tiếp tục hoàn thiện các quy chế, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để ngăn chặn đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra của Nhà nước, sự giám sát của nhân dân và của các các cơ quan báo chí để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực trong công tác cán bộ.

- Tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tập trung xây dựng và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các cấp. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các cấp.

- Tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước; xử lý kịp thời, nghiêm minh và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với các trường hợp vi phạm, bất kể cán bộ đó là ai, làm gì và ở cấp nào, để răn đe và phòng ngừa sai phạm.

- Tập trung củng cố và xây dựng các cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ trong hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ ở các cấp, nhất là người đứng đầu thực sự có TÂM, có TẦM./.

Chú thích:

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, tập I, Hà Nội, 2021, trang 92, 93.