Nhận thức, tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia và tình hình an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao hiện nay
Nhận thức, tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia và tình hình an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao hiện nay
---
1. Nhận thức và tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia
Theo quan niệm truyền thống, an ninh quốc gia mang nội hàm đồng nghĩa với sử dụng sức mạnh để chống xâm lược, bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khái niệm an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân số, an ninh môi trường… Đó là những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình phát triển; bổ sung cho các vấn đề an ninh chính trị, quân sự vốn là những vấn đề trung tâm của thời kỳ chiến tranh lạnh và nay đang có xu hướng giảm đi trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Theo đó, an ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân số, an ninh môi trường… Trong đó, an ninh kinh tế là nền tảng (trung tâm), an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt và cùng với an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh quân sự trở thành 4 trụ cột của Chiến lược An ninh quốc gia trong thế kỷ XXI.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đã tác động sâu sắc đến tư duy về sức mạnh, nguồn lực đảm bảo an ninh quốc gia, nhất là sức mạnh tổng hợp quốc gia, gồm 9 yếu tố cấu thành: Vị trí địa lý; nguồn tài nguyên thiên nhiên; khả năng sản xuất công nghiệp; dân số; lực lượng vũ trang; chí khí dân tộc; khả năng ngoại giao; năng lực và hiệu quả quản lý, điều hành của chính phủ. Vì thế, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia phải được xem như một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển quốc gia. Và tư duy về bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia, mà cần được mở rộng nhằm bảo vệ lợi ích của Việt Nam ở nước ngoài và sự phát triển của đất nước trong tương lai. Phải chuyển từ tư duy thụ động, bó hẹp, khép kín, biệt lập sang tư duy chủ động, hợp tác và phát triển.
Bảo vệ an ninh quốc gia là tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại của hệ thống chính trị và của cả dân tộc để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia. Nói cách khác, bảo vệ an ninh quốc gia chính là việc sử dụng mọi lực lượng, bằng mọi hình thức, mọi biện pháp, để xây dựng, củng cố tiềm lực an ninh quốc gia và thường xuyên phát hiện, hạn chế, loại bỏ những nhân tố đe dọa nhằm giữ vững an ninh quốc gia. Từ khái niệm trên, rút ra 6 đặc điểm nổi bật của công tác bảo vệ an ninh quốc gia là:
(1) Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ những lợi ích cực kỳ quan trọng của quốc gia, của dân tộc; những lợi ích này quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của đất nước, đến bản chất và sự tồn tại của chế độ chính trị; là điều kiện trước hết và có ý nghĩa quyết định để xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt; vì vậy, bảo vệ an ninh quốc gia mang “tính phòng ngừa” rất cao.
(2) Quá trình ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ đe dọa để bảo vệ an ninh quốc gia, thể hiện tập trung tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài của đấu tranh giai cấp, đấu tranh vì lợi ích dân tộc. Bảo vệ an ninh quốc gia thể hiện “tính chiến đấu” thường xuyên, liên tục trong mọi hoàn cảnh (thời chiến và thời bình) nhằm chống lại những âm mưu, họat động phá hoại của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ta.
(3) Các hoạt động của quá trình bảo vệ an ninh quốc gia thường không có giới hạn “phạm vi không gian” cố định, mà nó diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại…), diễn ra trong từng tổ chức, từng địa phương, trong cả nước và có khi ở cả phạm vi quốc tế.
(4) Thực chất là cuộc đấu tranh cùng lúc với nhiều kẻ thù, nhiều loại đối tượng khác nhau ở cả trong nước và ngoài nước; các loại kẻ thù này hoạt động vừa bí mật vừa công khai trắng trợn, bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để thực hiện ý đồ phá hoại và che đậy bản chất. Vì vậy, để vạch trần bản chất và chiến thắng chúng phải bằng nhiều hình thức, nhiều biện pháp cần thiết và sức mạnh to lớn.
(5) Bảo vệ an ninh quốc gia chịu sự tác động, chi phối trực tiếp của diễn biến tình hình quốc tế, tác động của nhiều yếu tố về kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều diễn biến khó lường; vì vậy, phải luôn chủ động nắm chắc tình hình, dự báo những tình huống phức tạp nhất có thể xảy ra để chủ động đối phó.
(6) Trong thế giới toàn cầu hóa, bảo vệ an ninh quốc gia đã và đang có xu hướng mở rộng cả trong không gian thuộc quyền quản lý của quốc gia, không gian mạng. Bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia mà còn được mở rộng trong không gian chiến lược nhằm bảo vệ lợi ích của của đất nước.
2. Tình hình an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, hệ thống mạng thông tin Việt Nam phát triển nhanh, nhưng hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu chủ động phòng, chống tội phạm mạng và bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa được các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chú trọng; chưa có quy trình, thao tác xử lý khi xảy ra sự cố, thậm chí, còn buông lỏng, không áp dụng biện pháp bảo đảm an ninh thông tin, an ninh không gian mạng. Mức độ nhận biết các loại hình tấn công mạng, áp dụng các giải pháp bảo đảm an ninh thông tin, ban hành các quy trình thao tác phản ứng xử lý sự cố thông tin chưa cao.
Thứ hai, hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin Việt Nam diễn ra nghiêm trọng, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp tổng thể, toàn diện, như sử dụng không gian mạng để tấn công nhằm phá hoại, gây đình trệ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Mục tiêu tấn công là các hệ thống thông tin quan trọng như: hệ thống điều khiển giao thông đường bộ, đường hàng không, cung cấp điện, nước, điều khiển nông nghiệp công nghệ cao; các sân bay, nhà ga, bến cảng, kho bạc, ngân hàng...
Tấn công vào cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn nhằm thu thập, đánh cắp thông tin, dữ liệu. Tháng 7/2016, trang web của Vietnam Airline cũng bị hacker tấn công và hậu quả là trên 400.000 tài khoản của khách hàng thuộc chương trình Bông sen vàng đã bị lộ; trong các ngày 08, 09,10/3/2017, tin tặc đã tấn công, thay đổi giao diện website Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc, Rạch Giá...
Thứ ba, tội phạm sử dụng mạng máy tính gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, nổi lên là lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động kinh doanh đa cấp, thương mại điện tử; gian lận, trộm cắp trong hoạt động thanh toán thẻ và thanh toán điện tử; trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng nhằm chiếm đoạt tài sản; đánh bạc và tổ chức đánh bạc thông qua mạng Internet; trộm cắp tài khoản người dùng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; truyền bá, phát tán ấn phẩm đồi trụy, tổ chức môi giới mại dâm, phát tán thông tin xuyên tạc, hình ảnh riêng tư để xúc phạm, làm nhục người khác (Năm 2019, các đơn vị chức năng Bộ Công an) đã khởi tố đối với hơn 1.000 bị can; bắt và bàn giao Cảnh sát các nước trên 500 đối tượng hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện hành vi phạm tội).
Nhiều vụ chiếm quyền điều khiển máy tính, thiết bị số, truy cập bất hợp pháp vào hệ thống công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, chiếm quyền điều khiển từ xa, thay đổi giao diện Website hoặc cơ sở dữ liệu... nhằm mục đích tống tiền hoặc hạ uy tín của các đơn vị này (trong vụ tấn công bằng mã độc WannaCry năm 2017, Việt Nam có trên 1.900 máy tính bị lây nhiễm mã độc này, trong đó có khoảng 1.600 máy tính của gần 250 cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp).
Các thế lực thù địch triệt để sử dụng mạng xã hội thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, đẩy mạnh khoét sâu các mâu thuẫn tồn tại trong xã hội để hô hào, kích động người dân xuống đường biểu tình, kêu gọi các quốc gia khác can thiệp và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền; tuyên truyền gây mất đoàn kết và phá hoại nội bộ lãnh đạo, gây suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thứ tư, công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Trong những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến những bước phát triển kinh tế ngoạn mục, nhờ những quyết sách, định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước về phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin, với những bước đi, lộ trình phù hợp; coi khoa học - công nghệ là một ngành kinh tế mũi nhọn để thúc đẩy kinh tế tri thức, tạo sự chuyển biến trong các chuỗi giá trị từ trong nước để hội nhập với toàn cầu; đồng thời, biết nắm bắt thời cơ, vận hội mới, tranh thủ các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày càng hội nhập sâu rộng, hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới, không ngừng nâng cao tiềm lực về quốc phòng, an ninh (Theo số liệu thống kê tính đến tháng 1/2020, Việt Nam có 68,17 triệu người sử dụng Internet, chiếm gần 70% dân số, nằm trong Top 20 quốc gia có tỉ lệ người dùng Internet cao nhất thế giới).
Tuy nhiên, sự phát triển của các thiết bị di động thông minh có kết nối mạng đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý.
Thứ năm, trên thế giới, hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch, phản động ngày càng phức tạp và nguy hiểm, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính quyền. thông qua các trang mạng xã hội để liên minh, liên kết, móc nối trong ngoài, tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền đương nhiệm không thân Mỹ tại một số quốc gia, điển hình là phong trào “cách mạng hoa Lài” hay “Mùa xuân Ả Rập” thời gian qua./.
BBT
