Một số giải pháp đột phá trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở Việt Nam trong tình hình mới

PGS. TS Phạm Văn Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Một số giải pháp đột phá trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở Việt Nam trong tình hình mới

---

1. Về một số kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai thời gian qua

Quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai 10 năm qua, sau khi có Nghị quyết 19- NQ/TW khóa XI, về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới (gọi tắt là Nghị quyết 19-NQ/TW), đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, qua đó đóng góp to lớn vào việc phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, cụ thể là: i) Tài nguyên đất được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả hơn, trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước, nguồn thu từ kinh tế đất ngày càng tăng; an ninh lương thực được đảm bảo; nhu cầu đất cho sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đô thị, kết cấu hạ tầng, quốc phòng, an ninh được phân bổ hợp lý hơn. ii) Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên; từng bước gắn kết công tác quy hoạch, kế hoạch với định hướng khai thác sử dụng đất trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội qua các giai đoạn, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; việc phân cấp, phân quyền được coi trọng, bước đầu khắc phục tình trạng lãng phí, tạo quỹ đất cho các mục tiêu phát triển. iii) Quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất được phân định rõ hơn; bước đầu hình thành khung pháp lý cơ bản để thị trường bất động sản vận hành thông thoáng; các giao dịch chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp bằng quyền sử dụng đất không ngừng tăng lên; công tác cải cách thủ tục hành chính, thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai được coi trọng hơn, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đạt 97,3%. iv) Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát bước đầu có chuyển biến [1]; tình hình đơn thư khiếu nại về đất đai có xu hướng giảm so với giai đoạn 2009-2013[2]; việc xử lý các vụ tham nhũng, tiêu cực về đất đai đạt được những kết quả bước đầu tích cực[3]. v). Công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở nhiều địa phương đã có nhiều chuyển biến, xuất hiện một số mô hình hay, hiệu quả kinh tế cao, thu hút nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước, hạ tầng kinh tế- xã hội, quy hoạch đô thị văn minh được quan tâm…

Tuy nhiên, thực tiễn gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW vẫn còn có những hạn chế, bất cập nổi bật như sau: i) Nguồn lực về đất đai phát huy chưa đúng tiềm năng, sử dụng đất đai còn lãng phí, chưa hiệu quả. Sử dụng đất ở nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tiếp cận quyền sử dụng đất vẫn là một trong những rào cản; vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, nhu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn; việc chuyển quyền sử dụng đất từ nông dân có đất, sang các chủ thể có điều kiện tích tụ, tập trung đất đai còn khó khăn; tình trạng suy giảm chất lượng, ô nhiễm, thoái hóa đất, xâm thực diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng về cả quy mô và mức độ, một số nơi diễn ra nghiêm trọng; một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nông trường nhà nước sử dụng đất lãng phí, chưa hiệu quả. ii) Công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển đất nước; việc thể chế hóa chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai chưa đồng bộ; công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều vướng mắc; vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê, thu hồi, giải phóng mặt bằng, xác định giá đất chưa phù hợp với kinh tế thị trường. iii) Tồn tại nhiều hạn chế, bất cập về quyền sở hữu tài sản trên đất; chính sách điều tiết giá trị tăng thêm từ đất chưa đảm bảo lợi ích của Nhà nước và người dân; thông tin, dữ liệu, thủ tục hành chính về đất đai còn hạn chế; thị trường bất động sản chưa minh bạch, tình trạng đầu cơ, thổi giá, thất thu thuế cho ngân sách còn nhiều. iv)Tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai gây mất ổn định chính trị, xã hội còn diễn biến phức tạp; nhiều vụ án tham nhũng, lãng phí lớn liên quan đến đất đai, không ít cán bộ từ trung ương đến địa phương bị xử lý; tranh chấp, xung đột về đất đai có lúc, có nơi kéo dài, gây mất ổn định trật tự, an ninh xã hội. v) Công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa nghiêm; tổ chức bộ máy quản lý đất đai phân tán, thiếu đồng bộ; việc phân cấp, phân quyền chưa đủ rõ về phạm vi, lĩnh vực, thẩm quyền và trách nhiệm...

2. Một số đặt ra về lý luận, thực tiễn nổi bật trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai

Một là, về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện, bên cạnh những kết quả đã đạt được còn không ít hạn chế, trong đó có cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện. Về nhận thức, vẫn còn một bộ phận do chưa hiểu rõ mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thống nhất quản lý sẽ dẫn tới đất vô chủ, sử dụng kém hiệu quả. Thực tế là, chủ sở hữu "toàn dân" tuy không hoàn toàn trùng với "đại diện" chủ sở hữu là Nhà nước, nhưng không vì thế mà đất đai không có chủ và Nhà nước không thực quyền. Cho đến nay, các quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đã được luật hóa[4], đảm bảo cho đất đai thực sự có chủ. Ngoài ra còn có các chế định đối với Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp và 9 quyền đối với người được Nhà nước giao, cho thuê đất; khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản, hàng hóa đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu. Các chế định này cơ bản đủ đảm bảo cho việc quản lý và sử dụng đất đai ổn định, hiệu quả. Về tổ chức thực hiện, những hạn chế, yếu kém nêu trên cho thấy, chủ yếu liên quan đến thể chế hóa chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai, đến công tác quản lý và thực hiện ở địa phương, cơ sở. Việc thực hiện chức năng của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu, với chức năng quản lý nhà nước về đất đai và trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, với tư cách là một chủ thể sử dụng đất đai con nhiều lúng túng. Bên cạnh đó, còn có một số những bất cập khác trong tổ chức, quản lý và thực hiện cụ thể.

Hai là, vấn đề định giá đất, xử lý, giải quyết hài hòa các loại lợi ích, nhất là lợi ích của Nhà nước, người có đất bị thu hồi luôn là những vướng mắc lớn, thậm chí là điểm nghẽn trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai. Điều này làm ảnh hưởng đến phát huy nguồn lực của đất đai, đến sự công bằng, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tình trạng thất thu ngân sách nhà nước từ tiền thuê đất còn lớn[5]. Giá đất không hợp lý, tạo ra sự phân biệt đối xử rất lớn đối với chủ thể sử dụng khác nhau, giữa các địa phương có đất liền kề, giữa nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, gây ra sự bất bình đẳng, thiếu minh bạch. Vấn đề giao, cho thuê, đấu thầu cũng bất cập vì giá đất, làm méo mó các giao dịch thị trường, xuất hiện một loạt các hệ lụy khác đối với việc thu hồi, giải phóng mặt bằng, tạo ra xung đột giữa chính quyền và người sử dụng đất khi bị thu hồi. Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng, dẫn tới sự lãng phí đất cơ quan, công sở, doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa, đất nông lâm trường, đất quốc phòng, an ninh, cũng như tình trạng tham nhũng, lãng phí về đất đai...

Nhà nước đầu tư hạ tầng chi phí lớn, đất tăng giá, nhưng lợi ích từ giá trị tăng thêm của đất, Nhà nước thu được không tương xứng; thị trường bất động sản luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, trong nhiều trường hợp ảnh hưởng lớn đến ổn định kinh tế vĩ mô...Việc xác định giá đất bộc lộ nhiều bất cập, như thông tin đầu vào hạn chế, thiếu tin cậy; một số loại đất ít giao dịch; sự chồng chéo giữa các cơ quan trong xác định giá; cơ quan thẩm định giá đất chưa được kiện toàn, năng lực chuyên môn hạn chế; công tác theo dõi, cập nhật biến động giá đất và xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất còn nhiều bất cập; chưa có sự đồng bộ giữa thẩm quyền quyết định giá đất với thẩm quyền giao đất, cho thuê và thu hồi đất.. không ít ý kiến cho rằng, vấn đề giá đất, giải quyết lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư liên quan đến đất là“nguyên nhân“ của nguyên nhân về những hạn chế, yếu kém vừa qua.

Ba là, bất cập trong hệ thống thể chế, chính sách về đất đai tạo ra những vướng mắc trong tổ chức thực hiện, cụ thể là: i) Nhiều nội dung của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành mâu thuẫn, chồng chéo với các luật khác, như Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư[6], Luật Quy hoạch... có hiện tượng một số nội dung của luật ban hành sau, mâu thuẫn với luật ban hành trước, không xác định luật “gốc“ trong sửa đổi các luật khác, liên quan đến đất đai. ii) Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, có nội dung không phù hợp với thực tiễn, nhất là những vấn đề mới nảy sinh, dẫn tới việc vận dụng khác nhau ở địa phương khi thực hiện, như các luật liên quan đến đấu thầu, đấu giá dự án đầu tư có sử dụng đất[7]; xuất hiện loại hình mới, như kinh doanh bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng phát triển nhanh như condotel, officetel, shophouse... chưa có quy định cụ thể về chế độ sử dụng đất, vẫn còn khoảng trống về pháp lý, gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh. iii) Một số nội dung Luật Đất đai thậm trí mâu thuẫn với luật chuyên ngành, như: về sự tích hợp, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành; về tích tụ, tập trung đất đai, dồn điền đổi thửa; tài sản góp vốn; về quyền thừa kế của pháp luật dân sự...

Hệ thống pháp luật chủ yếu quy định về quyền của Nhà nước, trong khi đó, chế tài thực thi quyền của người sử dụng đất chưa được quy định đầy đủ, tính an toàn pháp lý cho người sử dụng đất cần được hoàn thiện. Đời sống, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tháo gỡ; số lượng các văn bản hướng dẫn quá nhiều, nhưng không đủ, vẫn còn nhiều nội dung quy định trong luật nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện[8]; một số quy định hiện hành trong chính sách, pháp luật về đất đai vẫn chưa rõ trách nhiệm trong phân cấp, phân quyền. Phân cấp, phân quyền chưa thật sự gắn bó với thẩm quyền, trách nhiệm, chưa triệt để xóa bỏ cơ chế xin- cho, “tư duy nhiệm kỳ“ trong tổ chức thực hiện.

Bốn là, vấn đề đất quốc phòng, an ninh, đất tôn giáo, dân tộc ít người, đất có yếu tố nước ngoài, giải quyết không tốt không chỉ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, đại đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác. Cụ thể là:

- Về đất quốc phòng, an ninh, cần phải gắn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh với Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược An ninh quốc gia theo hướng xây dựng quân đội, công an tinh gọn, chính quy tiến tới hiện đại. Vấn đề quân đội, công an làm kinh tế liên quan đến sử dụng đất đai, cần tính toán kỹ lưỡng về phạm vi, tính chất đất đai quốc phòng, an ninh: Loại nào cấm nghiêm ngặt; loại nào cần bảo vệ nhưng được hoạt động kinh tế ở mức hạn chế, có điều kiện; loại nào là đất dự trữ và loại nào phát triển đa mục tiêu... Bên cạnh đó, vấn đề giao đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, quản lý, sử dụng các nguồn thu từ đất quốc phòng, an ninh do hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra cần minh bạch, hiệu quả.

- Đối với đất tôn giáo, dân tộc ít người, đây cũng là vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển đất nước, liên quan đến quản lý đất đai và thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, tôn giáo, đến sự ổn định, phát triển bền vững đất nước. Nước ta có 6 chính đạo lớn và một số tôn giáo khác đã đăng ký chính thức. Cơ sở thờ tự, nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, đào tạo tín đồ có ở khắp cả nước, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo[9]. Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng đất đai tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay còn nhiều bất cập. Tranh chấp đất đai tôn giáo vẫn xẩy ra, một số nơi bị các thế lực cơ hội, thù địch lợi dụng gây ra sự mất ổn định xã hội; cấp giấy chứng nhận sử dụng đất đai tôn giáo còn chậm; quản lý nhà nước đối với đất tôn giáo ở một số nơi bị buông lỏng; việc thu tiền liên quan đến quyền sử dụng đất, từ các sinh hoạt tôn giáo có nguồn thu còn nhiều ý kiến khác nhau, một số trường hợp phát sinh tiêu cực, thương mại hóa hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng...

Đối với đất đai liên quan đến dân tộc ít người, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới hải đảo vẫn còn tiềm ẩn tranh chấp, một số vụ việc tranh chấp đất đai ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ giữa người dân tộc, người kinh, giữa một số tôn giáo chưa được giải quyết triệt để; không gian sinh tồn, sinh kế của một bộ phận dân tộc ít người vẫn bị vi phạm; đất đai phục vụ sinh hoạt văn hóa, tinh thần của người dân chưa đảm bảo; việc khai thác, sử dụng đất đai còn lãng phí, chất lượng đất một số nơi suy giảm; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước mắt và lâu dài còn bất hợp lý, thiếu tính bền vững; phát huy nguồn lực đất đai còn nhiều hạn chế.

Ngoài ra còn một số vấn đề về đất đai liên quan đến yếu tố nước ngoài, như sự bất bình đẳng về tiếp cận đất đai, giá thuê đất; quản lý nhà nước ở một số nơi chưa nghiêm, hiện tượng người nước ngoài núp danh, thu gom đất đai, mặt nước, khu vực nhạy cảm chưa được làm rõ và xử lý triệt để..

Những hạn chế, điểm nghẽn nổi bật nêu trên do các nguyên nhân chủ quan, khách quan chủ yếu như sau:

Các nguyên nhân hạn chế nêu trong Nghị quyết 19-NQ/TW vẫn còn giá trị. Về khách quan, đất đai ở nước ta có lịch sử lâu đời, nguồn gốc đa dạng; chính sách, pháp luật về đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ... Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, như: Một số chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai còn chưa đủ rõ, việc thể chế hóa còn nhiều bất cập, dẫn đến vướng mắc trong vận dụng; công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội còn kém hiệu quả; công tác kiểm tra, giám sát xử lý sai phạm liên quan đến đất đai không kịp thời; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, hệ thống công cụ quản lý đất đai như tổ chức bộ máy, cơ sở dữ liệu thông tin, công cụ tài chính, thuế và giá còn bất cập, một số công cụ, cách thức quản lý không còn phù hợp; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội và người dân còn nhiều hạn chế...

3. Một số giải pháp đột phá trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai thời gian tới

Tình hình thế giới, khu vực, tiếp tục có nhiều thay đổi nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có một số vấn đề lớn tác động, ảnh hướng đến vấn đề xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở nước ta. Yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng khả năng tiếp cận đất đai cho các chủ thể nước ngoài. Các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống, như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, trong đó có cả vấn đề an ninh nguồn lực đất đai (đất đai không sinh thêm, trong khi dân số tiếp tục tăng, việc khai thác cạn kiệt, sa mạc hóa, ô nhiễm môi trường, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, môi trường sống bị thu hẹp..)… tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, tình hình phức tạp ở Biển Đông, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa ly khai.

Để Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030, và là nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa đến năm 2045, đòi hỏi chính sách, pháp luật về đất đai phải có tầm nhìn dài hạn, vừa đảm bảo môi trường ổn định về chính trị, xã hội, vừa phải sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, thực sự là một trong những nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển đất nước. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, tư duy mới về an ninh lương thực; thay đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp hiện đại, nông nghiệp sinh thái, phát triển đô thị thông minh, cho đến công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo ra không gian sinh tồn ổn định, bền vững của đất nước.

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai sửa đổi hệ thống luật pháp về đất đai nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất, đồng bộ; tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc, bất cập và phát sinh trong thực tiễn, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí; tạo điều kiện để các luật đi vào cuộc sống, thuận lợi cho công tác tổ chức thi hành; phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia. Sớm ban hành Luật đất đai mới (sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật Đất đai 2013, theo đó có chọn lọc, tiếp thu những nội dung hợp lý của các luật khác về những vấn đề liên quan đến đất đai).

Hai là, xử lý, giải quyết tốt vấn đề kinh tế đất đai phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển thị trường quyền sử dụng đất, thị trường bất động sản thực sự vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Từng bước xóa bỏ khung giá đất, thực hiện công khai, minh bạch, độc lập trong việc định giá đất. Xây dựng mạng lưới thửa đất chuẩn, “ bản đồ” giá đất để thay thế cho việc ban hành khung giá đất. Đổi mới phương thức xác định giá đất khoa học, phù hợp với cơ chế thị trường là giải pháp đột phá quan trọng hàng đầu. Nghiên cứu ban hành thuế bất động sản; thu hẹp hình thức cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Có chính sách hợp lý về đất đai đối với vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo, bảo đảm sinh kế, giữ gìn bản sắc văn hóa. Xây dựng chính sách điều tiết giá trị gia tăng từ đất do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất mang lại, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

Ba là, hoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về đất đai, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, ưu tiên tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin, đăng ký đất đai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tích hợp đầy đủ các thông tin về nguồn gốc, diện tích, lịch sử các giao dịch….Tăng cường sự phối hợp đa ngành trên cơ sở một đầu mối quản lý tập trung, thống nhất. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ làm công tác quy hoạch, quản lý đất đai, xây dựng chính sách, pháp luật. Đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trong tình hình mới./.

Chú thích:

[1] Báo cáo của Thanh tra chính phủ, từ năm 2013-2020 có 6.687 cuộc thanh tra về đất đai, đã phát hiện vi phạm về kinh tế trên 80.886 tỷ đồng và trên 94.849 ha đất, đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 38.910 tỷ đồng và 14.684 ha đất.

[2] Báo cáo của Thanh tra chính phủ, giai đoạn 2013-2020, các cơ quan hành chính các cấp đã tiếp 2.361.157 lượt công dân với tổng số 2.250.443 người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với 1.423.418 vụ việc, trong đó liên quan đến đất đai là 419.202 vụ việc; tiếp nhận 2.180.665 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, trong số đó liên quan đến đất đai là 324.241 đơn (chiếm 62.9% số đơn).

[3] Báo cáo của Tòa án Nhân dân tối cao, những năm gần đây, hàng loạt các vụ “đại án” về tham nhũng liên quan đến đất đai đã được phát hiện, điều tra, xử lý, như: Phan Văn Anh Vũ phạm tội “ Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí”; Vụ Đinh Ngọc Hệ và các bị cáo ở Bộ Quốc phòng; Vũ Huy Hoàng trong sai phạm xẩy ra ở Sabeco; Trần Văn Nam ở Bình Dương, Trần Văn Minh ở Đà Nẵng…

[4] Luật Đất đai 2013, Điều 13 quy định "Quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai", gồm 8 quyền:1) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất.2) Quyết định mục đích sử dụng đất.3) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất. 4) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất.5) Quyết định giá đất.6)Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.7) Quyết định chính sách tài chính về đất đai.8) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

[5] Nhiều tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất nhưng chưa chuyển sang thuê đất theo quy định của Luật Đất đai (còn 2.803 tổ chức với tổng diện tích là 653.655 ha, chưa kể các công ty nông, lâm nghiệp) gây thất thu khá lớn tiền thuê đất hàng năm cho ngân sách.

[6] Luật Đất đai, Điều 118 chỉ quy định các trường hợp phải áp dụng hoặc không áp dụng đấu giá quyền sử dụng đất; Luật Đấu thầu chỉ quy định các trường hợp phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; Luật Đầu tư chỉ quy định các trường hợp quyết định chủ trương đầu tư..

[7] Luật Đất đai quy định 8 trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật Đấu thầu, Điều 1, Khoản 3 lại quy định lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất, dẫn tới một số địa phương chỉ vận dụng Luật Đấu thầu, không vận duạng Luật Đất đai (Một số dự án ở tỉnh Thanh Hóa..)

[8] Vấn đề đất đai được quy định tại 21 luật, 01 nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ ban hành 24 nghị định hướng dẫn, 12 chỉ thị và 17 quyết định của Thủ tướng, hơn 230 thông tư của các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh ban hành gần 2000 văn bản.

[9] Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàng năm đất tôn giáo tăng khoảng 3%.

Tài liệu tham khảo:

1. Tài liệu nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

2. Hội Luật gia Việt Nam, Báo cáo chuyên đề “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

3. Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Bất động sản: “Kiến nghị tháo gỡ các điểm nghẽn và vướng mắc về cơ chế, chính sách để thị trường bất động sản phục hồi và tăng trưởng minh bạch, ổn định, bền vững”.