Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam: Không gian mới cho phát triển kinh tế tại Việt Nam
Sau rất nhiều năm thực hiện nghiên cứu tiền khả thi từ phía bộ, ngành liên quan, với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, tuyến đường sắt tốc độ cao nối hai miền đất nước đang từng bước được hiện thực hóa. Dự án hoàn thành sẽ đem lại sự đột phá kinh tế - xã hội, tăng cường khả năng liên kết vùng, miền, đổi mới bộ mặt của đất nước và tạo ra bước phát triển chưa từng có trong lịch sử phát triển hạ tầng giao thông đất nước.
1. Tổng quan về đường sắt cao tốc và tầm quan trọng của hệ thống đường sắt cao tốc đối với phát triển quốc gia
Đường sắt tốc độ cao là một xu thế phát triển giao thông trên thế giới. Liên minh đường sắt quốc tế (UIC) nhận xét đường sắt tốc độ cao tiêu thụ năng lượng ít hơn, xả thải ít hơn so với máy bay hay ô tô khi chuyên chở cùng một lượng hàng hóa hoặc lượng hành khách trên cùng một quãng đường. Có nhiều quan điểm về đường sắt cao tốc hay đường sắt tốc độ cao. Có thể hiểu theo một cách thông dụng nhất, đường sắt cao tốc (ĐSCT) hay đường sắt tốc độ cao là một loại hình giao thông đường sắt sử dụng các đoàn tàu có khả năng di chuyển ở tốc độ rất cao, thường vượt qua tốc độ của tàu hỏa thông thường. Đường sắt cao tốc có nhiều đặc điểm kỹ thuật và hạ tầng khác biệt để đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn, nhanh chóng, và hiệu quả. Tại Việt Nam, theo Luật Đường sắt (2017), đường sắt tốc độ cao được định nghĩa là một loại hình của đường sắt quốc gia có tốc độ thiết kế từ 200 km/h trở lên, có khổ đường 1.435 mm, đường đôi, điện khí hóa. Những đặc điểm cơ bản của ĐSCT bao gồm:
Tốc độ thiết kế: Đường sắt cao tốc thường được thiết kế để đoàn tàu có thể di chuyển với tốc độ từ 250 km/h trở lên, có thể lên đến 350 - 400 km/h ở một số hệ thống tiên tiến như của Nhật Bản (Shinkansen), Pháp (TGV), hay Trung Quốc (CRH)[1].Tốc độ trung bình khi vận hành thực tế có thể thấp hơn một chút, do phụ thuộc vào điều kiện địa lý, thời tiết, và an toàn vận hành, nhưng thường vẫn đạt từ 200 - 300 km/h.
Hạ tầng đặc biệt: Đường sắt cao tốc thường sử dụng khổ đường tiêu chuẩn với bề rộng 1.435 mm, cho phép tàu di chuyển ổn định và nhanh chóng. Các tuyến đường sắt này thường được xây dựng mới hoàn toàn, không sử dụng chung hạ tầng với đường sắt truyền thống. Đường ray của các hệ thống cao tốc phải được xây dựng với độ chính xác cao, chịu được tải trọng và được đặt trên nền bê tông để tăng cường độ ổn định.
Hệ thống cầu vượt và hầm thiết kế riêng biệtđể tránh các điểm giao cắt với đường bộ hay các công trình khác, giúp tàu chạy liên tục mà không phải dừng lại hoặc giảm tốc độ.
Ngoài ra, ĐSCT thường sử dụng nguồn năng lượng điện thay vì than hay dầu diesel, giúp tàu chạy nhanh hơn, mà còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hệ thống tín hiệu và điều khiển tự động hiện đại, đảm bảo tàu luôn di chuyển đúng lịch trình, tránh va chạm và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hành khách. Công nghệ giảm tiếng ồn làm giảm tiếng ồn phát sinh từ tàu chạy nhanh,….
Với các đặc điểm này ĐSCT được coi là một trong những giải pháp giao thông hiện đại, với khả năng vận chuyển nhanh chóng, an toàn và thân thiện với môi trường. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, đường sắt cao tốc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm tải cho các phương tiện giao thông truyền thống, và nâng cao chất lượng sống của người dân
Đường sắt cao tốc đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về xã hội và môi trường. Đường sắt cao tốc có tầm quan trọng chiến lược quốc gia, gia tăng vị thế quốc gia, kết nối khu vực, thúc đẩy kinh tế địa phương, nâng cao liên kết vùng miền, thúc đẩy phát triển và chuyển giao công nghệ, phát triển bền vững nền kinh tế, cụ thể:
Đường sắt cao tốc giúp thúc đẩy phát triển kinh tế nhờ rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa các trung tâm kinh tế lớn, giúp cải thiện hoạt động giao thương, luân chuyển hàng hóa và giao lưu kinh doanh từ đó tăng cường kết nối kinh tế giữa và khu vực, vùng, miền quốc gia. Các tuyến ĐSCT thường được thiết kế nhằm tạo ra các trục phát triển kinh tế dọc theo tuyến đường, giúp các vùng ven và khu vực kém phát triển hơn có cơ hội kết nối tốt hơn với các thành phố lớn, từ đó thúc đẩy phát triển đồng đều. Việc cải thiện hê thống hạ tầng giao thông hiện đại, như đường sắt cao tốc, tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, bởi nó giúp giảm chi phí vận chuyển và tăng cường khả năng tiếp cận thị trường.
Với những ưu thế vượt trội, ĐSCT làm giảm áp lực lên hệ thống giao thông công cộng,đáp ứng nhu cầu vận chuyển ngày càng tăng về hàng hóa và hành khách. Với khả năng chuyên chở khối lượng lớn hành khách và hàng hóa, ĐSCT giúp giảm tải cho hệ thống đường bộ và hàng không, giảm ùn tắc giao thông và tai nạn, đặc biệt ở những khu vực có mật độ giao thông cao.Đường sắt cao tốc đặc biệt hiệu quả trong việc thay thế hoặc hỗ trợ hệ thống hàng không trên các tuyến đường ngắn và trung bình (khoảng 500 -1000 km), nơi mà việc đi lại bằng máy bay không còn hiệu quả do thời gian làm thủ tục và chờ đợi dài.Với sự gia tăng về nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách, đường sắt đóng vai trò chủ chốt và có lợi thế hơn các phương tiện giao thông khác trong việc đáp ứng khối lượng lớn hơn và thời di chuyển nhanh hơn so với các phương tiện giao thông khác. Sự phát triển của thương mại điện tử và các chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi khả năng vận chuyển hàng hóa linh hoạt, nhanh chóng và bền vững mà đường sắt có thể đáp ứng.
So với xe hơi hay máy bay, ĐSCT sử dụng năng lượng điện, giúp giảm đáng kể lượng khí thải CO2 và ô nhiễm không khí. Đây là một giải pháp giao thông bền vững, thân thiện với môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cấp thiết. ĐSCT có hiệu suất năng lượng cao hơn so với nhiều phương tiện giao thông khác, đặc biệt khi tính toán lượng năng lượng tiêu thụ cho mỗi hành khách hoặc mỗi tấn hàng hóa di chuyển.Việc xây dựng và vận hành hệ thống ĐSCT yêu cầu sự đổi mới và phát triển công nghệ hiện đại, từ kỹ thuật xây dựng hạ tầng đến các giải pháp điều khiển tự động. Điều này không chỉ góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật của quốc gia mà còn tạo ra việc làm trong lĩnh vực công nghệ cao.Đối với các quốc gia đang phát triển, như Việt Nam, việc xây dựng ĐSCT có thể thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến, giúp phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
ĐSCT là một phần quan trọng của hạ tầng giao thông bền vững, có khả năng phục vụ trong nhiều thập kỷ. Điều này giúp quốc gia giảm thiểu sự phụ thuộc vào các phương tiện giao thông ngắn hạn hoặc những phương tiện gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường.Việc phát triển hệ thống ĐSCT có thể đồng thời thúc đẩy quy hoạch đô thị hợp lý hơn, giúp phân bố lại dân cư, giảm tình trạng đô thị hóa quá mức và tạo điều kiện cho các thành phố vệ tinh phát triển. Với lý do này, hệ thống ĐSCT hỗ trợ phát triển đô thị bền vững, giúp giảm thiểu sử dụng đất và nguồn lực dành cho đường bộ, khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng thân thiện với môi trường.
Ngoài ra, ĐSCT còn giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm bớt khoảng cách vùng miền nhờ việc giúp rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa các thành phố lớn, mang lại sự tiện lợi và thoải mái cho hành khách. Tạo điều kiện cho người dân ở các khu vực xa xôi có thể di chuyển dễ dàng hơn đến các thành phố lớn để tìm kiếm việc làm, học tập và cơ hội phát triển, từ đó giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Đồng thời, ĐSCT được đánh giá an toàn cao nhờ sử dụng các công nghệ điều khiển và giám sát tiên tiến, đảm bảo vận hành chính xác và an toàn, giảm thiểu rủi ro giao thông. Do đó, tỷ lệ tai nạn của đường sắt cao tốc thường thấp hơn nhiều so với các phương tiện giao thông khác.
2. Phát triển của ĐSCT thế giới và phương án đang thảo luận hiện nay
Theo thống kê của Hiệp hội Đường sắt quốc tế (UIC), chiều dài ĐSCT đang khai thác trên thế giới tính đến năm 2023 là khoảng 62 nghìn km, vận chuyển hơn 3 tỷ lượt hành khách mỗi năm và dự kiến tăng gấp đôi chiều dài ĐSCT trong vòng 30 năm tới. Hiện nay, có 22 quốc gia, vùng lãnh thổ đã có các tuyến ĐSCT đưa vào khai thác thương mại[2].
Sự phát triển ĐSCT đóng góp khá tốt vào phát triển kinh tế toàn cầu, phát triển hạ tầng, tạo việc làm, tỷ lệ tai nạn giao thông thấp,…Với tốc độ vận hành trung bình từ 250 km/h đến 350 km/h,một số tàu đạt tốc độ tối đa lên tới 400 km/h, ĐSCT có khả năng vận chuyển từ 500 đến 1.200 hành khách mỗi chuyến tàu, giúp giảm tải cho các phương tiện giao thông khác như máy bay và ô tô. Lượng hành khách sử dụng hệ thống ĐSCT Trung Quốc tăng trưởng hằng năm, năm 2022, hệ thống ĐSCT Trung Quốc đã vận chuyển được hơn 2,3 tỷ hành khách. Hệ thống Shinkansen của Nhật Bản vận chuyển hơn 150 triệu hành khách mỗi năm. Hệ thống đường sắt cao tốc châu Âu, đặc biệt là ở Pháp và Tây Ban Nha, vận chuyển hơn 100 triệu hành khách mỗi năm. Bên cạnh đó, ĐSCT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là các tuyến đường xuyên lục địa. Các tàu chở hàng lớn kết nối châu Âu và châu Á, vận chuyển các sản phẩm như điện tử, ô tô và hàng tiêu dùng với tốc độ và chi phí hợp lý hơn so với vận chuyển đường biển hay hàng không. Tuyến đường sắt China-Europe Railway Express đã trở thành một phương thức vận chuyển quan trọng giữa Trung Quốc và châu Âu, giảm thời gian giao hàng từ nhiều tuần xuống còn khoảng 10 - 14 ngày.
Sự phát triển của ngành đường sắt trên thế giới đang diễn ra trên nhiều mặt, từ tăng cường kết nối quốc tế, hiện đại hóa công nghệ, đến việc sử dụng các nguồn năng lượng sạch. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc giải quyết các thách thức về giao thông, phát triển bền vững, và bảo vệ môi trường trong tương lai.
Các nước được đánh giá có hệ thống ĐSCT hiện đại và phát triển có thể kể đến như các nước châu Âu: Đức, Pháp, Tây Ban Nha,…, các nước châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản,… đều cho thấy việc xây dựng hệ thống ĐSCT là một bước ngoặt quan trọng trong phát triển kinh tế,đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế của cácquốc gia này, tạo ra không gian phát triển kinh tế mới, phân bố các đô thị, phân bố dân cư, giao thông thuận tiện, đem lại việc làm và phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Nhiều hệ thống ĐSCT đã trở thành là biểu tượng, “niềm tự hào dân tộc”.
Về cơ bản, quá trình phát triển đường sắt của các nước đều trải qua một số giai đoạn. Qua đó, đường sắt truyền thống phát triển mạnh mẽ sau đó thoái trào giảm thị phần khi không cạnh tranh đượccác phương thức đường bộ, hàng không phát triểnkhác. Đồng thời, trước yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường..., hệ thống ĐSCT sẽ ra đời thay thế cho đường sắt truyền thống đáp ứng yêu cầu thời cuộc.
3. Ngành đường sắt Việt Nam hiện nay
Đường sắt Việt Nam có một lịch sử khá lâu đời và rất đáng tự hào. Năm 1881, tuyến đường sắt đầu tiên tại Việt Nam và Đông Dương có chiều dài 71 km nối Sài Gòn với Mỹ Tho được khởi công xây dựng. Sau 50 năm, đến năm 1936, chiều dài đường sắt đã gấp gần 37 lần, với tổng chiều dài 2.600 km xuyên suốt ba miền đất nước. Đây là hệ thống đường sắt sớm nhất khu vực Đông Nam Á, chiếm đến 30% tổng thị phần của ngành giao thông, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước. Tuy nhiên, đến nay đường sắt truyền thống hiện đã không còn giữ được vị thế của mình, sản lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày càng giảm và chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng khối lượng vận tải của toàn ngành. Mạng lưới đường sắt quốc gia đến năm 2022 có tổng chiều dài 3.315 km. Hạ tầng đường sắt Việt Nam đã lạc hậu, nhiều tuyến đường sắt được xây dựng từ 50 đến trên 100 năm và hầu hết chưa được vào cấp kỹ thuật; khổ 1.000 mm vẫn chiếm hơn 80% tổng chiều dài trong khi hầu hết các nước trên thế giới không còn sử dụng. Tốc độ tàu trên các tuyến đang khai thác lớn nhất đạt 100 km/h, nhỏ nhất là 20 km/h (vận tốc tàu hàng khoảng 50 - 60km/giờ và tàu khách 80 - 90km/giờ).
Hình 1. Số lượng luân chuyển hành khách đường sắt giai đoạn 2010 - 2022
Vận tải hàng hóa đường sắt mặc dù đạt được một số kết quả tích cực hơn nhưng có xu hướng ngày càng sụt giảm. Trong khi các ngành vận tải khác ghi nhận sự phát triển nhanh chóng trong nửa thế kỷ qua thì đường sắt lại sụt giảm nghiêm trọng. Đến năm 2019, số lượt hành khách vận chuyển của ngành đường sắt chỉ còn 4,7 triệu lượt khách, chiếm 0,2% tổng số lượt khách do ngành vận tải phục vụ. Từ năm 2020 đến nay, vận chuyển hành khách đường sắt chỉ chiếm 0,1% về vận chuyển và từ 0,7-1% về luân chuyển. Sản lượng vận chuyển hàng hóa của ngành đường sắt bình quân mỗi năm giai đoạn 1991 - 2000 tăng 10,3%/năm, giai đoạn 2001 - 2010 chỉ tăng 2,3%/năm và giai đoạn 2011 - 2019 giảm 4,7%/năm. Năm 2020 - 2021, sản lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tăng nhẹ tương ứng 0,2 và 0,6% so với năm trước. Tuy nhiên trong 6 tháng đầu năm 2023, vận chuyển hàng hóa đường sắt giảm mạnh 26,4% về vận chuyển và giảm 23,9% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước do các đơn hàng xuất, nhập khẩu giảm và phải cạnh tranh với vận tải đường thủy khi chi phí cao hơn.
Với việc hạ tầng đường sắt đã lạc hậu, hiệu quả sử dụng đang ngày càng giảm sút, việc nâng cấp đổi mới đường sắt Việt Nam nói chung và việc xây dựng hệ thống ĐSCT đã trở nên cấp thiết đối với phát triển kinh tế đất nước.
Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dự kiến có tổng chiều dài 1.541km, có hơn 900km cầu cạn, 133km hầm, áp dụng công nghệ tiên tiến nhất để đảm bảo an toàn và hiệu quả. Tuyến sẽ bắt đầu từ ga Ngọc Hồi (Hà Nội), qua 20 tỉnh, thành phố và kết thúc tại ga Thủ Thiêm (Thành phố Hồ Chí Minh), kết nối trực tiếp hai đô thị loại đặc biệt với quy mô dân số lên đến khoảng 10 triệu người, 17 đô thị loại 1 có quy mô dân số từ 500 nghìn người trở lên, chưa kể các đô thị nhỏ hơn. Toàn tuyến sẽ được bố trí 23 ga khách với cự ly trung bình từ 50 - 70 km, 5 ga hàng gắn với các đầu mối hàng hoá, phục vụ tốt hậu cần quốc phòng khi có nhu cầu. Tổng mức đầu tư dự án khoảng hơn 67 tỷ USD, dự kiến sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn. Thời gian bố trí vốn trong khoảng 12 năm, mỗi năm bình quân khoảng 5,6 tỷ USD. Quá trình xây dựng và vận hành, sẽ kêu gọi doanh nghiệp tham gia đầu tư các khu dịch vụ, thương mại tại các ga; đầu tư thêm phương tiện để khai thác khi có nhu cầu. Phương án tổ chức khai thác sẽ được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu vận tải từng thời điểm, đối tượng phục vụ, bảo đảm khai thác hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng. Trong Dự án, đề xuất tổ chức khai thác chủ yếu với 2 loại tàu: tàu dừng ở một số ga chính (dự kiến 5 ga: Ngọc Hồi, Vinh, Đà Nẵng, Nha Trang, Thủ Thiêm) và tàu dừng đan xen ở tất cả các ga. Khi có nhu cầu sẽ điều chỉnh biểu đồ chạy tàu để vận tải hàng hóa, phục vụ quốc phòng an ninh.
Mặc dù có sự đồng thuận về nhu cầu phát triển hệ thống Đường sắt tốc độ cao để giải quyết nhu cầu giao thông, nhưng có nhiều ý kiến trái chiều về hiệu quả kinh tế, tập trung chủ yếu về chi phí đầu tư và tính hiệu quả. Nhiều chuyên gia cho rằng số tiền đầu tư khổng lồ cho Đường sắt tốc độ cao sẽ là gánh nặng cho ngân sách nhà nước và thế hệ tương lai, trong khi một số ý kiến khác lại khẳng định khoản đầu tư cho Đường sắt tốc độ cao là cần thiết cho sự phát triển dài hạn của đất nước.
Với chi phí đầu tư rất lớn, việc huy động nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các nguồn đầu tư nước ngoài là một thách thức đáng kể. Cần có sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức tài chính quốc tế và các nhà đầu tư tư nhân để đảm bảo dự án khả thi. Vấn đề giải phóng mặt bằng là một khó khăn lớn đối với việc xây dựng các tuyến đường sắt tại Việt Nam, đặc biệt ở các khu vực đông dân cư, như: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, về công nghệ và nhân lực, Việt Nam cần phải học hỏi và tiếp cận các công nghệ đường sắt tiên tiến từ các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, và châu Âu để đảm bảo vận hành hiệu quả và an toàn./.
ThS. Phó Thị Kim Chi
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
[1]Hệ thống ĐSCT Shinkansen (Nhật Bản), được xem là hệ thống đường sắt cao tốc đầu tiên trên thế giới, ra mắt vào năm 1964, với tốc độ khai thác ban đầu khoảng 210 km/h và hiện đã nâng lên hơn 300 km/h. ĐSCTTGV (Pháp) là hệ thống đường sắt cao tốc nổi tiếng ở châu Âu, với các chuyến tàu có thể di chuyển ở tốc độ 320 km/h. ĐSCTCRH (Trung Quốc) với tốc độ các tàu đạt tới 350 km/h.
[2]Gồm: Nhật Bản, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Phần Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả-rập Xê-út, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ma Rốc, Thụy Sỹ, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Mỹ, Xéc-bi-a. 6 quốc gia đang xây dựng gồm: Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Iraq, Iran.
