Đánh giá giữa nhiệm kỳ tình hình phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025

Sau nửa nhiệm kỳ, nước ta cơ bản đã vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện, tạo nền tảng phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong trung và dài hạn; là điểm sáng trong nền kinh tế toàn cầu.

Sau nửa nhiệm kỳ, nhiều công trình giao thông quan trọng đã được đưa vào khai thác sử dụng, góp phần tăng tính liên kết vùng, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

1. Về bối cảnh chung

Kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến, thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường và không thể dự báo; dịch COVID-19, xung đột Nga - Ukraine, mới đây là xung đột giữa Israel và lực lượng Hamas, cùng với thiên tai, khí hậu thất thường, khắc nghiệt... đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế toàn cầu. Trong nước, Việt Nam phải thực hiện đa mục tiêu, vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh quốc phòng và tự chủ, tự cường gắn với hội nhập quốc tế…

Với chủ trương nhất quán không đánh đổi môi trường, sức khỏe và tính mạng của người dân lấy tăng trưởng kinh tế, nhiều chính sách, giải pháp được ban hành cả trong ngắn hạn và dài hạn; công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật phục vụ cho phòng, chống dịch COVID-19 cũng như phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ triển khai quyết liệt và linh hoạt. Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và nhiều nghị quyết khác đã được ban hành kịp thời với quy mô lớn và nhiều cơ chế, chính sách chưa có tiền lệ để hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

2. Đánh giá giữa kỳ kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025

Nhìn lại nửa nhiệm kỳ vừa qua, Việt Nam cơ bản vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện, được quốc tế và trong nước ghi nhận. Năm 2021, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 2,56% khi nhiều nền kinh tế có mức tăng trưởng âm; năm 2022 phục hồi mạnh mẽ, đạt 8,02%.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng; lạm phát được kiểm soát; cơ cấu thu ngân sách tiếp tục được củng cố; bội chi giai đoạn 03 năm ước ở mức 3,6% GDP; các chỉ tiêu an toàn nợ công đều trong giới hạn cho phép.

Giải ngân vốn đầu tư công được thúc đẩy; các chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp đạt kết quả tích cực. Chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô được điều hành linh hoạt; cán cân thương mại tiếp tục duy trì xuất siêu. Môi trường đầu tư kinh doanh thay đổi tích cực; năng lực cạnh tranh được cải thiện. Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kết quả tốt. Nhiều công trình, dự án hạ tầng quan trọng quốc gia được đẩy nhanh tiến độ.

Công tác hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật được đẩy mạnh. Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện tốt. Vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường. Hoạt động đối ngoại tiếp tục được nâng cao.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, còn bộc lộ hạn chế, khó khăn như sau:

- Cơ cấu kinh tế chưa có nhiều thay đổi; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, năng suất lao động bình quân 3 năm 2021 - 2023 tăng 4,36 - 4,69%, thấp hơn mức 6,26% của 3 năm 2016 - 2018; năng lực tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế còn hạn chế. Sản xuất công nghiệp tiếp tục gặp khó.

- Chất lượng thu ngân sách nhà nước còn yếu tố chưa bền vững, vượt thu chủ yếu từ tiền sử dụng đất, dầu thô (thu từ dầu thô năm 2021 vượt 21,4 nghìn tỷ đồng, năm 2022 vượt 49,8 nghìn tỷ đồng; thu tiền sử dụng đất năm 2021 và năm 2022 đều vượt khoảng 74 nghìn tỷ đồng). Thu hút FDI mới, công nghệ cao, công nghệ nguồn và chuyển giao công nghệ gặp nhiều khó khăn. Giải ngân đầu tư công không đạt kế hoạch.

- Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế vẫn còn hạn chế, tình trạng nợ văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh vẫn chưa được khắc phục triệt để.

- Công tác quy hoạch không đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra. Việc triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có nơi còn lúng túng, vướng mắc; một số địa phương phản ánh việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho khu, cụm công nghiệp chưa phù hợp.

- Hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn cả về pháp lý, vốn, chi phí đầu vào; việc thiếu đơn hàng diễn ra phổ biến, người lao động mất việc làm tại nhiều khu công nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó khăn trong tiếp cận tín dụng do khó đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về điều kiện vay vốn. Các doanh nghiệp sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi năng lượng xanh - sạch, các-bon thấp, vật liệu bền vững, sản xuất thân thiện môi trường… từ thị trường nhập khẩu; trong khi yêu cầu từ các thị trường truyền thống ngày càng được nâng lên.

- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại còn chậm, nhất là giải quyết những điểm nghẽn trong phát triển hạ tầng tại các đô thị lớn. Triển khai các dự án quan trọng quốc gia còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ, khó hoàn thành kế hoạch. Quá trình triển khai, chuẩn bị đầu tư mạng lưới đường sắt đô thị rất chậm.

- Công tác phòng, chống dịch COVID-19 có thời điểm còn bị động, lúng túng, nhất là giai đoạn đầu khi biến chủng Delta bùng phát mạnh. Công tác quản lý, sử dụng nguồn lực cho phòng, chống dịch còn bất cập, còn tình trạng tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng, gây bức xúc, ảnh hưởng đến lòng tin trong Nhân dân. Kết quả thực hiện một số chính sách Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu đề ra.

- Chưa có nhiệm vụ, sản phẩm khoa học, công nghệ có tính đột phá, tính liên vùng để có thể triển khai ở quy mô lớn. Hoạt động kết nối cung cầu, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ tại các địa phương vẫn chưa được thể hiện rõ nét. Việc xử lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước còn khó khăn, nhất là việc xác định phạm vi tài sản trang bị cần xử lý.

- Việc triển khai thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) còn rất chậm. Kết quả xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, chưa thực sự bền vững, còn nợ đọng xây dựng cơ bản; cơ chế lồng ghép nguồn vốn giữa các Chương trình còn rất hạn chế, huy động nguồn vốn xã hội khó khăn. Kết quả thực hiện giảm nghèo chưa đạt được mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa được giải quyết hiệu quả, đời sống Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn khó khăn.

- Ngành giáo dục bị ảnh hưởng nặng nề từ dịch COVID-19, từ chất lượng đến tâm lý, sức khỏe, kiến thức của học sinh; nhiều sinh viên không thể ra trường đúng hạn. Công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho trẻ em, học sinh; công tác hỗ trợ, tư vấn tâm lý, kỹ năng phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em, học sinh còn chưa thực sự hiệu quả.

- Nhiều khu công nghiệp vẫn chưa có công trình xử lý nước thải tập trung, thiếu hệ thống quan trắc nước thải tự động...; một số lưu vực sông còn ô nhiễm nặng. Công tác quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính nói chung và kiểm kê khí nhà kính nói riêng còn tồn tại một số hạn chế.

3. Đánh giá giữa kỳ kết quả thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025

Chính phủ đã nỗ lực trong chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025; dự kiến hoàn thành 10/27 mục tiêu, chỉ tiêu (chiếm 37%). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân hai năm 2021 - 2022 vượt mục tiêu đề ra; khoảng cách về năng lực cạnh tranh quốc gia so với bình quân các nước ASEAN-4 có bước thu hẹp. Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đã vượt mục tiêu đề ra. Các nỗ lực bước đầu thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, số hóa, xanh hóa. Một số nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế được tích cực triển khai.

Bên cạnh kết quả nêu trên, còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như sau:

- Nhiệm vụ, giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế được triển khai chưa nhiều, chưa mang lại những thay đổi đáng kể, có nguy cơ bỏ lỡ các cơ hội phát triển; trong đó còn 36,3% số nhiệm vụ chưa hoàn thành việc ban hành văn bản, chương trình, đề án triển khai thực hiện. Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện một số nhiệm vụ được giao còn bất cập; có nhiệm vụ tuy đã được triển khai, nhưng kết quả khó đo lường, chưa thấy rõ như phát triển nguồn nhân lực, phát triển và thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập.

- Việc cơ cấu lại đầu tư công cũng bộc lộ một số bất cập, tiến độ giải ngân chậm, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, ảnh hưởng đến tính bền vững của kế hoạch tài chính quốc gia, vay, trả nợ công đến năm 2025.

- Năng lực, hiệu quả quản lý đối với các tổ chức tín dụng còn hạn chế; tình trạng “sở hữu chéo”, tài sản bảo đảm được định giá không đúng giá trị, cho vay các doanh nghiệp “nội bộ”, “sân sau” còn phức tạp. Quá trình triển khai xử lý các ngân hàng yếu kém, cơ cấu lại các ngân hàng “mua bắt buộc” gặp nhiều khó khăn về hành lang pháp lý và cơ chế hỗ trợ.

- Cơ chế, chính sách và các quy định pháp luật đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được ban hành đầy đủ, đồng bộ, dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý trong việc sắp xếp, tổ chức lại và thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

- Một số quy định về quản lý kinh tế - xã hội còn sơ hở, chồng chéo, dễ bị lợi dụng, dễ làm nảy sinh tham nhũng, tiêu cực nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, nhất là trên các lĩnh vực như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đấu thầu, đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

- Nhiệm vụ phát triển các loại thị trường, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực còn hạn chế, phần lớn có nguyên nhân từ việc chậm hoàn thiện thể chế đối với thị trường các yếu tố sản xuất, chưa là tín hiệu cho phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

- Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn tại DNNN vẫn chậm và chưa đạt được kế hoạch đề ra, khó hoàn thành được mục tiêu đề ra.

- Thủ tục hành chính của nhiều ngành, lĩnh vực hiện nay còn rườm rà, phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo, còn nhiều giấy phép con liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, phát sinh một số thủ tục hành chính mới.

- Cơ chế liên kết vùng chưa đi vào thực chất để hình thành không gian phát triển, phân bố hiệu quả nguồn lực trong vùng trên cơ sở phát huy lợi thế của từng địa phương. Một phần nguyên nhân là do chất lượng thể chế liên kết vùng kinh tế - xã hội còn bất cập; các cơ quan trung ương chưa liên kết chặt chẽ trong công tác tổ chức và quản lý các hoạt động liên kết vùng, đặc biệt là trong phân bổ và điều phối nguồn lực phát triển giữa các địa phương.

- Cơ cấu lại các ngành kinh tế chưa phục hồi được tình trạng như trước dịch COVID-19; kết quả đạt được trong cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực chưa thật rõ nét, chưa có sự chuyển dịch về năng suất, chất lượng. Các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong thực hành xanh vẫn chưa đi vào thực tiễn một cách rõ nét, đặc biệt là việc chi tiêu công xanh. Tỷ lệ doanh nghiệp được tiếp cận cụ thể, chi tiết về sử dụng năng lượng tái tạo, giảm thiểu sử dụng nhựa hay quản lý chất thải rắn vẫn còn rất hạn chế.

4. Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH và Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế 5 năm 2021 – 2025

Tăng trưởng kinh tế thời gian tới có thể được phục hồi tốt hơn nhờ tác động của các giải pháp từ chính sách hỗ trợ nền kinh tế được triển khai liên tục từ đầu năm 2023.

Với tác động mang tính độ trễ của các giải pháp từ chính sách hỗ trợ nền kinh tế được triển khai liên tục từ đầu năm 2022, tăng trưởng kinh tế năm 2024 - 2025 có thể được phục hồi tốt hơn so với năm 2023, tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,5% - 7% và cao hơn mức bình quân của 5 năm 2016 - 2020 (6,25%) là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp, không thể lường trước. Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu sẽ rất khó hoàn thành nếu không có giải pháp đột phá, như chỉ tiêu GDP bình quân đầu người; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân; tỷ lệ đô thị hóa; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế...

Trong các năm còn lại của nhiệm kỳ 2021 - 2025, cần tập trung khắc phục những tồn tại, bất cập, vướng mắc như đã nêu ở trên; đồng thời thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

(1) Bám sát tình hình kinh tế, tài chính quốc tế; chủ động phân tích, dự báo diễn biến các thị trường quốc tế để có kịch bản chủ động ứng phó phù hợp. Tập trung, đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện thể chế, bao gồm cả tháo gỡ rào cản, chú trọng khâu thực thi và phối hợp chính sách; tổ chức triển khai nhanh, hiệu quả các luật, nghị quyết, cơ chế, chính sách sau khi được ban hành.

(2) Triển khai quyết liệt các giải pháp phù hợp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, 03 CTMTQG, các dự án quan trọng quốc gia, các công trình trọng điểm. Đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng số gắn với nâng cao năng lực nội tại. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, khuyến khích phát triển lưới điện thông minh, năng lượng tái tạo và sự tham gia mạnh mẽ của khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

(3) Thực hiện hiệu quả, thực chất cơ cấu lại nền kinh tế theo các nhiệm vụ trọng tâm đề ra tại Nghị quyết số 31/2021/QH15, ngày 12/11/2021 của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025, trong đó quyết liệt hoàn thành dứt điểm cơ cấu lại 04 lĩnh vực trọng tâm gồm cơ cấu lại đầu tư công, ngân sách nhà nước, các tổ chức tín dụng và các đơn vị sự nghiệp công lập. Nâng cao hiệu quả hoạt động gắn với cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp. Tăng cường liên kết vùng. Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu vực tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Triển khai quyết liệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 – 2025. Tập trung thực hiện phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém; các dự án, doanh nghiệp thua lỗ, kém hiệu quả.

(4) Khẩn trương hoàn thành việc ban hành văn bản, chương trình, đề án triển khai việc cơ cấu lại nền kinh tế. Tăng cường tính trách nhiệm và giải trình của các bộ, ngành, địa phương, nhất là người đứng đầu. Rà soát, sửa đổi kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính thống nhất, tháo gỡ các rào cản trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

(5) Nghiên cứu, đánh giá kết quả và đề xuất ban hành mới hoặc kéo dài các chính sách tiền tệ, chính sách thuế, phí, lệ phí... để hỗ trợ, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Hỗ trợ doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực từ suy giảm xuất khẩu, đầu tư; triển khai hiệu quả các giải pháp kích cầu thương mại và du lịch trong nước; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về quy định phòng cháy, chữa cháy, cung ứng điện; đẩy lùi tình trạng sợ sai, sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức.

(6) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về phát triển đội ngũ trí thức giai đoạn 2021 - 2030; đẩy mạnh hợp tác giữa các doanh nghiệp FDI và các trường đại học của Việt Nam để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và phù hợp với yêu cầu của thị trường. Đẩy mạnh hợp tác giữa các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp tư nhân để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, công nghệ; thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Ưu tiên bố trí nguồn lực triển khai các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước và ngăn chặn suy giảm tài nguyên nước, ô nhiễm nguồn nước; sớm ban hành và tổ chức thực hiện Đề án phát triển thị trường các-bon trong nước.

(7) Chú trọng phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa, xã hội. Khẩn trương trình Quốc hội xem xét, thông qua CTMTQG về chấn hưng và phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam. Có các giải pháp phù hợp và thực hiện hiệu quả để ổn định việc làm cho người lao động, hỗ trợ kịp thời cho người lao động thất nghiệp, mất việc làm. Xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và quan tâm hơn nữa đến việc phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và tệ nạn xã hội.

(8) Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, phát huy sự chủ động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; đẩy mạnh hơn nữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.