Đảm bảo an sinh xã hội trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19
I. VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CÁC GÓI HỖ TRỢ CHO ĐỐI TƯỢNG BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI DỊCH COVID-19
1. Tình hình chung
Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), làn sóng đại dịch COVID-19 từ một cuộc khủng hoảng y tế cộng đồng trở thành cuộc khủng hoảng xã hội và việc làm, tình trạng thâm hụt việc làm và bất bình đẳng đã khiến sinh kế của hàng trăm triệu người lao động bị đảo lộn, hầu hết các quốc gia đều phải gánh chịu mức sụt giảm việc làm và thu nhập ở mức “nghiêm trọng, làm gia tăng bất bình đẳng hiện hữu và tạo nguy cơ để lại “vết sẹo” lâu dài đối với người lao động và doanh nghiệp”. Mức thiếu hụt thời giờ làm việc của Quý II năm 2021 là 4,4%, được đánh giá là tương đương với số giờ làm việc tương ứng theo từng quý “của 140 triệu và 127 triệu lao động toàn thời gian” và tại các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch thì mức độ ảnh hưởng về lao động, việc làm thậm chí sẽ còn cao hơn nhiều so với mức chung toàn cầu. Bên cạnh đó, đại dịch làm cho “thu nhập của người lao động giảm mạnh và tỷ lệ nghèo gia tăng”. Cùng với đó, hệ quả là những tiến bộ đạt được trong 5 năm vừa qua hướng tới xoá bỏ tình trạng có việc làm nhưng vẫn nghèo đã trở lại điểm xuất phát khi tỷ lệ có việc làm vẫn nghèo quay lại mức của năm 2015.
Việt Nam đã trải qua 04 đợt bùng phát dịch COVID-19, nhất là đợt thứ 4 từ ngày 27/4/2021, là đợt dịch diễn biến phức tạp nhất từ trước đến nay, đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, việc làm và đời sống của người lao động.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong quý II năm 2021, cả nước có 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực[1] bởi dịch COVID-19, tăng 40,6% so với quý I năm 2021 (9,1 triệu người), trong đó có 557 nghìn người bị mất việc làm, tăng 3,1% so với quý I năm 2021 (540 nghìn người), 4,1 triệu người phải tạm nghỉ/tạm ngừng sản xuất kinh doanh, tăng 53,5% so với quý I (2,8 triệu người); 4,3 triệu người bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, tăng 38,7% so với quý I (3,1 triệu người) và 8,5 triệu lao động bị giảm thu nhập, tăng 30,7% so với quý I (6,5 triệu người). Số người thất nghiệp trong quý II/2021 là 1,2 triệu người (2,62%), tăng so với quý I là 0,2% và 0,46% so với cùng kỳ năm 2019. Trong 7 tháng đầu năm, trung bình mỗi tháng có 11,38 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường, chủ yếu trong các ngành bán buôn, bán lẻ, xây dựng, lưu trú, ăn uống, giáo dục, đào tạo[2].
Đặc biệt đợt dịch thứ 4 đã xâm nhập và tác động trực tiếp vào các đô thị lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp, nơi sử dụng nhiều lao động, đóng góp nhiều cho phát triển kinh tế, thu ngân sách và liên kết chặt chẽ với chuỗi giá trị toàn cầu. Tại 23 tỉnh, thành phố đã phải áp dụng giãn cách xã hội và tăng cường giãn cách theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý III năm 2021 ở mức 3,98% là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, khiến cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động càng khó khăn hơn[3].
2. Việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các gói hỗ trợ
Năm 2021, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm ứng phó với dịch bệnh, phát triển kinh tế đi đôi với chăm lo phúc lợi, an sinh xã hội.
- Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 30/2021/QH15 ngày 28/7/2021, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 268/NQ-UBTVQH15 ngày 06/8/2021 về việc cho phép Chính phủ ban hành Nghị quyết có một số nội dung khác với quy định của luật để đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch COVID-19. Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2021/QH15 ngày 28/7/2021 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025[4]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 406/NQ- UBTVQH15 ngày 19/10/2021 về ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19.
- Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, có hiệu lực từ ngày 01/7/2021[5].
- Quốc hội, Chính phủ và các địa phương đã ban hành nhiều chính sách khác nhằm hỗ trợ người dân, người lao đông và doanh nghiệp như: Cho phép tính vào chi phí các khoản chi ủng hộ, tài trợ (tiền, hiện vật) cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp (Nghị định số 44/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 của Chính phủ); gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất (Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 của Chính phủ); tiếp tục miễn giảm 30 loại phí, lệ phí trong năm 2021; Nghị quyết của Chính phủ về hỗ trợ giảm tiền điện; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch COVID-19 (Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 09/9/2021 của Chính phủ); một số địa phương thực hiện hỗ trợ giá nhà trọ và giảm giá tiền nước sinh hoạt cho các hộ gia đình;...
- Được sự đồng ý về chủ trương của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 68) và Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị quyết 116). Những chính sách ban hành nhằm hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động, nhất là các đối tượng bị ảnh hưởng, tác động sâu bởi đại dịch, bao gồm cả người dân, người lao động có giao kết hợp đồng lao động và không có giao kết hợp đồng lao động, những đối tượng yếu thế, phụ nữ mang thai, trẻ em mồ côi cha, mẹ vì đại dịch... cũng như những ngành, nghề bị ảnh hưởng nặng nề trong đại dịch như vận tải, hàng không, dịch vụ lưu trú, du lịch...
3. Về việc thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP
3.1. Kết quả thực hiện
Theo báo cáo của Sở LĐTBXH của 63 tỉnh, thành phố đến ngày 07/11/2021, tổng kinh phí phê duyệt thực hiện Nghị quyết 68, Quyết định 23 toàn quốc là 26,39 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ 26,98 triệu lượt đối tượng (gồm
377.225 lượt đơn vị sử dụng lao động, 26,6 triệu lượt người lao động và các đối tượng khác). Trong đó:
a) Nhóm chính sách về bảo hiểm
Tổng kinh phí hỗ trợ 3 chính sách về bảo hiểm là 5,36 nghìn tỷ đồng hỗ trợ cho 375.792 đơn vị sử dụng lao động và gần 11,39 triệu người lao động. Cơ quan bảo hiểm xã hội đã rà soát và thông báo cho 375.000 đơn vị sử dụng lao động với người lao động được giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ tháng 7/2021 đến hết tháng 6/2022 với tổng số tiền (tạm tính) khoảng 4.322 tỷ đồng.
Chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đã được thực hiện tại 57/63 tỉnh, thành phố ở 787 đơn vị sử dụng lao động với 149.285 người lao động, tổng kinh phí 1.039,9 tỷ đồng.
Cơ quan bảo hiểm xã hội đã xác nhận cho 3.077 lao động tại 28 đơn vị để làm hồ sơ đề nghị hỗ trợ đào tạo nghề.
b) Nhóm chính sách hỗ trợ bằng tiền
Tổng kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ bằng tiền là 20,28 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ 15,01 triệu đối tượng, (trong đó 89,4% số đối tượng và 90,5% tổng kinh phí được hỗ trợ tại 23 tỉnh, thành phố miền Nam[6]).
720.260 người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương tại 60/63 tỉnh, thành phố7 được hỗ trợ với tổng số tiền 2.254 tỷ đồng.
251.480 người lao động ngừng việc tại 55/63 tỉnh[7], thành phố được hỗ trợ 321,3 tỷ đồng.
1.375 người lao động chấm dứt hợp đồng lao động tại 45/63 tỉnh, thành phố được hỗ trợ 5,28 tỷ đồng.
685.210 đối tượng F0, F1 đã được hỗ trợ tiền ăn với tổng kinh phí 358 tỷ đồng và 23.130 trẻ em là đối tượng F0, F1 được hỗ trợ bổ sung với mức 01 triệu đồng/trẻ em. Ngoài ra, 7.080 người lao động mang thai và 151.640 trẻ em dưới 6 tuổi là con của người lao động cũng đã nhận được hỗ trợ bổ sung với mức 01 triệu đồng/người.
1.490 đạo diễn nghệ thuật, diễn viên, họa sĩ giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV tại 52/63 tỉnh, thành phố được hỗ trợ kinh phí 5,53 tỷ đồng.
8.690 hướng dẫn viên du lịch tại 54/63 tỉnh, thành phố được hỗ trợ kinh phí 33,6 tỷ đồng.
176.970 hộ kinh doanh tại 59/63 tỉnh, thành phố được hỗ trợ với kinh phí 488,7 tỷ đồng.
Trên 12,99 triệu người lao động tự do và các đối tượng đặc thù tại 56/63 tỉnh, thành phố đã được hỗ trợ với tổng kinh phí 16,69 nghìn tỷ đồng từ các nguồn ngân sách nhà nước, nguồn vận động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các công ty xổ số kiến thiết…
c) Nhóm chính sách cho vay vốn
Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, đã phê duyệt hồ sơ cho 1.456 lượt người sử dụng lao động vay vốn 756 tỷ đồng để trả lương cho 211.280 lượt người lao động. Đã giải ngân 745,9 tỷ đồng hỗ trợ 1.433 lượt người sử dụng lao động để trả lương cho 208.352 lượt người lao động. Một số địa phương có tổng kinh phí giải ngân cao là Bắc Giang (327,6 tỷ đồng), Bắc Ninh (83,6 tỷ đồng), Thành phố Hồ Chí Minh (55,8 tỷ đồng), Hà Nội (47,4 tỷ đồng), Cần Thơ (46,8 tỷ đồng), Hưng Yên (11,7 tỷ đồng), Đồng Nai (10,9 tỷ đồng), Bình Định (9,1 tỷ đồng).
3.2. Đánh giá kết quả đạt được của Nghị quyết số 68/NQ-CP
a) Mặt được
- Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mà trực tiếp là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo sát sao; các ngành, các địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt. Việc hỗ trợ nhìn chung được triển khai nhanh chóng, kịp thời, công khai, minh bạch, đúng đối tượng.
- Trên cơ sở rút kinh nghiệm từ việc triển khai các chính sách đã ban hành trước, chính sách hỗ trợ đã giảm tối đa các điều kiện, thủ tục, rút ngắn về thời gian hỗ trợ, tạo điều kiện để người sử dụng lao động và người lao động dễ dàng tiếp cận chính sách. Đặc biệt là đối với nhóm lao động tự do và đối tượng đặc thù bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch, Chính phủ quy định mức sàn tối thiểu và giao các địa phương chủ động quy định tiêu chí, tạo sự linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của địa phương, do vậy đã hỗ trợ được số lượng lớn các đối tượng thụ hưởng.
Nhiều địa phương đã chủ động sáng tạo và mở rộng các đối tượng như Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Nam, Cần Thơ... Đặc biệt, Thành phố Hồ Chí Minh chủ động triển khai 3 gói hỗ trợ thiết thực cho người dân thành nhiều đợt với tổng kinh phí khoảng 11,89 nghìn tỷ đồng, triển khai hàng triệu "túi an sinh xã hội", nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo người dân có mức sống tối thiểu, không bị thiếu đói, qua đó giúp người dân yên tâm thực hiện nguyên tắc “ai ở đâu, ở yên ở đó”. Tỉnh Bình Dương đã hỗ trợ tiền thuê nhà trọ, lương thực, thực phẩm cho người lao động, mở rộng đối tượng người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng nhưng chưa tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng chính sách hỗ trợ.
- Các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ và các địa phương tích cực, chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết số 68, Quyết định số 23; ban hành các Kế hoạch/Quyết định và văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện.
- Công tác thông tin, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát được chú trọng và triển khai rộng rãi.
- Trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhất là các địa phương giãn cách xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên môn và các xã, phường, tổ dân phố,... đã nêu cao tinh thần trách nhiệm chủ động, tích cực trong công tác rà soát, lập danh sách và triển khai hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động, góp phần khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống.
b) Một số tồn tại, hạn chế
- Một bộ phận người dân, người lao động và người sử dụng lao động thuộc đối tượng thụ hưởng chưa được hưởng hoặc chậm được thụ hưởng.
Nhìn chung, mức hỗ trợ còn thấp. Một số chính sách có tỷ lệ đạt thấp, như chính sách đối với đối tượng là người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, chính sách cho người sử dụng lao động vay tiền để trả lương ngừng việc và phục hồi sản xuất đạt thấp so với dự tính ban đầu.
- Việc triển khai thực hiện công tác xác lập hồ sơ, công tác hỗ trợ tại một số địa phương vẫn còn chậm. Một số địa phương gặp khó khăn về kinh phí, sợ sai, sợ trách nhiệm nên chậm hoặc chưa hỗ trợ đối tượng; cá biệt có nơi vẫn còn tình trạng lợi dụng dịch bệnh COVID-19 để trục lợi, bị xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.
c) Nguyên nhân
- Diễn biến của dịch bệnh rất phức tạp, nhất là các địa phương thực hiện giãn cách xã hội và tăng cường giãn cách xã hội, số đối tượng hỗ trợ quá lớn, đến hàng chục triệu người cùng một thời điểm, nên việc triển khai gặp rất nhiều khó khăn.
- Vẫn còn tình trạng cứng nhắc, thủ tục rườm rà trong triển khai ở một số đơn vị.
- Công tác hỗ trợ ở nhiều địa phương vẫn chủ yếu tiến hành thủ công, chưa quan tâm đúng mức sử dụng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin vào chi trả hỗ trợ, nên tình trạng “phát nhầm”, “nhận nhầm” xảy ra ở một số địa phương.
- Việc làm thủ tục hồ sơ khó khăn, người lao động cũng không đi lại được để hoàn thiện thủ tục, điều này ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thực hiện các chính sách hỗ trợ.
- Một bộ phận người lao động và người sử dụng lao động chưa được phổ biến, thông tin đầy đủ, kịp thời nên hiểu về các chính sách chưa thật sâu, thật cặn kẽ, vì vậy, chưa chủ động lập hồ sơ để được hỗ trợ.
- Một số chính sách được quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg vẫn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn (do quy định pháp luật), không hấp dẫn và người sử dụng lao động khó tiếp cận, hiệu quả hỗ trợ thấp như chính sách cho doanh nghiệp vay trả lương và phục hồi sản xuất từ nguồn tái cấp vốn qua Ngân hàng Chính sách xã hội, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo và đào tạo lại từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
d) Giải pháp
- Trên cơ sở kết quả triển khai vừa qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 08/10/2021 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 68/NQ-CP và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, mở rộng đối tượng thụ hưởng, tiếp tục đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục xác nhận, phê duyệt để người sử dụng lao động và người lao động được hỗ trợ kịp thời, đặc biệt là chính sách cho vay trả lương từ Ngân hàng Chính sách xã hội.
- Tiếp tục đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, kịp thời trả lời, hướng dẫn giải đáp các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 68, Quyết định số 23.
- Rà soát, nắm chắc tình hình đời sống người dân, người lao động có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn. Giao trách nhiệm cho người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương trực tiếp chỉ đạo, chăm lo công tác bảo đảm an sinh xã hội. Bảo đảm không để người dân nào thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các nhu yếu phẩm thiết yếu. Rà soát người lang thang, cơ nhỡ và các đối tượng yếu thế chưa có chính sách quy định để có biện pháp hỗ trợ kịp thời, phù hợp.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai, trước mắt lập 12 đoàn kiểm tra do Lãnh đạo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội làm trưởng đoàn đi kiểm tra tại 33 tỉnh, thành phố từ ngày 21/10 đến ngày 07/11/2021 (thành phần có đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội…), đôn đốc triển khai giám sát, đánh giá việc rà soát, lập danh sách, phê duyệt và hỗ trợ; kiến nghị, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
- Các địa phương khẩn trương lập danh sách, phê duyệt và hỗ trợ, nhất là hỗ trợ tiền mặt cho các nhóm đối tượng chưa được hưởng, trong đó cần đẩy mạnh việc tiếp nhận hồ sơ của người lao động đề nghị hỗ trợ hàng ngày bằng các hình thức thuận lợi nhất (qua dịch vụ bưu chính, Cổng dịch vụ công quốc gia, trực tiếp, trực tuyến, email,…) để đảm bảo các yêu cầu phòng, chống dịch COVID- 19, đồng thời linh hoạt trong việc giảm thời gian giải quyết hồ sơ đề nghị hỗ trợ của người lao động.
- Bộ Tài chính cấp kinh phí kịp thời và hướng dẫn các địa phương bố trí kinh phí để thực hiện chi trả sớm cho các đối tượng đã được phê duyệt danh sách hỗ trợ, tránh tình trạng người dân chờ đợi, dẫn tới bức xúc, phản ánh thông tin trên báo chí, mạng xã hội,...
4. Về kết quả triển khai Nghị quyết 116/NQ-CP
Với tổng kinh phí là 38.000 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ người lao động là 30 nghìn tỷ đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; giảm đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người sử dụng lao động khoảng 8.000 tỷ đồng. Kết quả đến nay như sau:
4.1. Điều chỉnh giảm đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
Cơ quan bảo hiểm xã hội đã thực hiện xong việc gửi thông báo điều chỉnh mức đóng vào quỹ BHTN cho 363.600 đơn vị sử dụng lao động, tương ứng 9,68 triệu lao động với số tiền tạm tính được điều chỉnh giảm vào quỹ BHTN (từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2022) khoảng 7.595 tỷ đồng.
4.2. Về hỗ trực tiếp bằng tiền cho người lao động
Đến ngày 07/11/2021, đã giải quyết hưởng hỗ trợ cho trên 9,41 triệu lao động thuộc đối tượng đang tham gia BHTN và trên 654.600 người đã dừng tham gia (bằng 87,43% số đề nghị hưởng) với tổng số tiền hỗ trợ là hơn 23.965 tỷ đồng[8].
- Đây là chính sách chưa có tiền lệ nhằm hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong phòng, chống dịch, qua triển khai nhận được sự quan tâm, ủng hộ lớn của đối tượng và dư luận xã hội. Đây là chính sách vừa đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng; vừa có sự chia sẻ rủi ro; thể hiện vai trò “giá đỡ” của quỹ BHTN cho chủ sử dụng lao động và người lao động. Thủ tục đơn giản, thuận tiện, người lao động và người sử dụng lao động nhận được sự hỗ trợ nanh chóng, kịp thời, chủ yếu hỗ trợ qua tài khoản và trên cơ sở dữ liệu đã có.
- Việc hỗ trợ đang được tiến hành khẩn trương, tuy nhiên hiện nay còn một số lượng nhỏ đơn vị đang rà soát danh sách lao động thuộc đối tượng hưởng hỗ trợ do khó khăn trong việc xác định các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg. Để đảm bảo việc giải quyết và chi trả hỗ trợ đúng đối tượng, hạn chế tối đa các nguy cơ trục lợi, cơ quan BHXH cần có thời gian nhất định để kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ các điều kiện về thông tin cá nhân với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; thông tin về tài khoản ngân hàng của người lao động.
II. VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM VÀ CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
1. Về vấn đề dịch chuyển lao động
Do tác động của đại dịch COVID-19 lần thứ 4, tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và việc triển khai các giải pháp mạnh phòng, chống dịch nhằm bảo vệ tính mạng và sức khỏe của người dân,… thời gian qua, theo thống kê từ báo cáo của các địa phương, đã có khoảng 1,3 triệu lao động từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trọng điểm phía Nam về các địa phương (chiếm khoảng 60% số người dân di chuyển, trong đó khoảng 292 nghìn người về từ Thành phố Hồ Chí Minh và 450 nghìn người trở về từ một số tỉnh trọng điểm phía Nam).
Theo báo cáo của các địa phương, một số tỉnh có số lao động lớn trở về là Thanh Hóa (160 nghìn người), Sóc Trăng (99,7 nghìn người), Nghệ An (75,8 nghìn người); Đắc Lắc (75 nghìn người), Cà Mau (58,7 nghìn người), An Giang (52 nghìn người), Sóc Trăng (50,7 nghìn người), Hà Tĩnh (36 nghìn người), Kiên Giang (32 nghìn người), Hậu Giang (20 nghìn người)...
Xét theo yếu tố thời gian, các dòng dịch chuyển ở đợt bùng dịch lần thứ 4 diễn ra mạnh mẽ và tập trung ở 2 thời điểm:
(i) Trước khi và ngay cả trong thời điểm các tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội theo nguyên tắc của Chỉ thị 16/CT-TTg (chủ yếu trong tháng 7 và 8 năm 2021);
(ii) Sau khi thực hiện các biện pháp nới lỏng giãn cách về đi lại nhưng chưa mở cửa lại các hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường (cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 2021).
Xét theo đặc điểm dịch chuyển, có các đặc điểm chính như sau:
(iii) Tính chất công việc một bộ phận từ chính thức sang phi chính thức, từ ổn định sang ít ổn định: số lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp và lao động có giao kết hợp đồng lao động ngoài khu công nghiệp thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trọng điểm phía Nam sau khi di chuyển về các địa phương có xu hướng tìm, tự tạo việc làm tạm thời, các công việc này chủ yếu ở khu vực phi chính thức và có tính chất ít ổn định hơn.
(iv) Theo khu vực, vùng miền: các dòng dịch chuyển lao động theo địa giới hành chính từ Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một bộ phận trong khu công nghiệp, còn lại chủ yếu là lực lượng lao động làm việc ở các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp và chủ yếu là lao động tự do về các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền Trung và các tỉnh phía Bắc. Nhìn chung, người lao động trong khu vực FDI, khu công nghiệp, khu chế xuất cơ bản ít di chuyển hơn, do các doanh nghiệp đã được cảnh báo sớm, hầu hết các doanh nghiệp đã chủ động lựa chọn phương án của mình, có chính sách giữ chân người lao động, giữ liên lạc, giữ quan hệ và hỗ trợ một phần với những lao động tạm ngừng việc, để giữ chân lao động.
(v) Theo ngành, lĩnh vực: Lao động làm việc tại các ngành du lịch, vận tải, khách sạn,… có xu hướng chuyển dịch sang các ngành khác, xu hướng này xuất hiện từ các đợt dịch năm 2020.
Từ ngày 01/10/2021 đến nay, theo báo cáo của Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố trọng điểm phía Nam, hiện các doanh nghiệp phục hồi sản xuất khoảng 50 - 80% công suất, lực lượng lao động phục hồi khoảng 75% so với trước dịch, có địa phương trên 90%[9]. Các địa phương đã rất khẩn trương để triển khai, thích ứng với tình hình mới, người lao động và doanh nghiệp đã từng bước trở lại hoạt động. Với thời gian 1 tháng sau giãn cách, trong trạng thái bình thường mới, thích ứng linh hoạt, an toàn, hiệu quả, có thể thấy tiến độ phục hồi rất khả quan. Qua kiểm tra, nắm bắt và trực tiếp làm việc với Ban quan lý các khu công nghiệp của Thành phồ Hồ Chí Minh và 8 tỉnh có đông lao động tại miền Nam và miền Trung, cũng như nhận định chung của các địa phương, đó là tình trạng thiếu lao động ở nhiều doanh nghiệp so với nhu cầu và để đáp ứng đơn hàng là có, tuy nhiên mức độ thiếu hiện nay nhìn chung không trầm trọng do các doanh nghiệp cũng từng bước phục hồi, vừa triển khai sản xuất, vừa phải phòng, chống dịch, đảm bảo an toàn theo quy định. Đồng thời cho thấy khả năng phải hết Quý I và đầu Quý II năm 2022, thì cơ bản các địa phương, nếu tình hình dịch bệnh diễn ra như hiện tại và việc tiêm vắc xin được triển khai nhanh hơn, diện bao phủ lớn hơn, kịp thời hơn, thì có khả năng phục hồi lại bình thường.
Ngay cả khi không có dịch bệnh COVID-19, việc thiếu lao động cục bộ vào thời điểm cuối năm vẫn xảy ra; nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp thâm dụng lao động vẫn chiếm khoảng 20 - 30% số lao động do phải thay thế lao động “nhảy việc” và đặc biệt cao vào cuối quý IV hàng năm do phải hoàn thành các đơn hàng và vào dịp sau Tết do lao động ngoại tỉnh về quê chưa quay trở lại làm việc như thông thường hàng năm. Theo đó, nhu cầu lao động ở các doanh nghiệp khoảng 17,8% số lao động[10], trong đó, tập trung cao nhất ở Bình Dương (36,9%); Bình Phước (34,4%) và Thành phố Hồ Chí Minh (31,8%) trong quý IV năm 2021 nếu phục hồi sản xuất như trước khi có dịch.
2. Nguyên nhân của dịch chuyển lao động
Việc dịch chuyển lao động trong thời gian qua tại các địa phương do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại có một số nguyên nhân chính như sau:
- Tâm lý lo ngại về dịch bệnh, về sức khỏe, tính mạng bản thân và gia đình do hầu hết chưa được tiêm vắc xin, trong khi dịch bệnh bùng phát và diễn biến phức tạp.
- Đời sống khó khăn do thực hiện các biện pháp giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội để phòng chống dịch, hầu hết doanh nghiệp, người sử dụng lao động phải dừng hoạt động, dẫn đến hầu hết người lao động không có việc làm, giảm việc làm, giảm giờ làm, việc làm bị ngắt quãng, không ổn định do đó không có thu nhập hoặc tiền lương, thu nhập giảm sút; trong đó lao động ngoại tỉnh chiếm tỷ lệ lớn (60 - 70% lực lượng lao động làm việc tại các khu công nghiệp và ngoài doanh nghiệp, lao động tự do thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam), điều này làm cho cuộc sống của người lao động, đặc biệt lao động ngoại tỉnh càng khó khăn thiếu thốn do ngoài chi phí sinh hoạt thì chi phí thuê nhà, điện, nước, sinh hoạt phí; thời gian giãn cách xã hội kéo dài, đời sống người lao động khó khăn, tích lũy không còn, gây áp lực lớn lên người lao động.
- Sau thời gian dài giãn cách, tâm lý căng thẳng, đời sống thiếu thốn nên mong muốn về quê, có thời gian để ổn định lại tâm lý, mong muốn về quê có cảm giác yên bình và gần gũi với người thân trong gia đình.
- Sự biến đổi nhu cầu lao động ở một số ngành nghề do tác động dài của dịch: Do các biện pháp hạn chế đi lại, giãn cách xã hội để phòng, chống dịch COVID-19 dẫn đến một số lĩnh vực như du lịch, vận tải, khách sạn, nhà hàng… phải giảm hoặc dừng các hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian dài dẫn đến không duy trì việc làm, nhu cầu lao động, cầu lao động những này giảm dẫn đến chuyển dịch lao động sang các ngành nghề khác.
3. Một số giải pháp triển khai để hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp
Việc phục hồi thị trường lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trong nước, diễn biến dịch bệnh và việc phục hồi nền kinh tế thế giới liên quan tới chuỗi sản xuất toàn cầu, các giải pháp tài chính, tiền tệ, tài khóa kích thích nền kinh tế cùng nhiều giải pháp về lao động, việc làm và cần phải xác định là phục hồi dần dần, không phải ngay lập tức trở lại trạng thái như trước dịch, trọng tâm là các nhóm giải pháp chính sau:
- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình tổng thể về phòng, chống dịch COVID-19; bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân; khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Các địa phương ưu tiên bao phủ vắc xin 2 mũi cho người lao động nhanh nhất, sớm nhất có thể.
- Tiếp tục tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ phục hồi sản xuất đối với doanh nghiệp, để phục hồi việc làm cho người lao động (chính sách hỗ trợ tài khóa, tín dụng,..). Triển khai Chương trình phục hồi và phát triển thị trường lao động và an sinh xã hội trong một bộ phận cấu thành của Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, trong các chính sách đó đặc biệt quan tâm đào tạo, nâng cao kỹ năng chuyên môn và các chính sách an sinh xã hội, vấn đề nhà ở, nhà lưu trú cho công nhân, người lao động.
- Hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất thông qua những giải pháp kết nối, bảo đảm nguồn cung lao động phù hợp. Thu thập thông tin để điều tiết, hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động. Cung cấp thông tin thị trường lao động, xây dựng kế hoạch, chương trình phối hợp giữa các địa phương trong việc cung ứng và tuyển dụng lao động để tạo sự kết nối, liên thông trong chuỗi cung ứng lao động giữa các địa phương.
- Doanh nghiệp cần chuẩn bị cơ sở vật chất và làm sạch môi trường, khử khuẩn và chuẩn bị điều kiện làm việc an toàn trong điều kiện chung sống an toàn với COVID-19, tức là doanh nghiệp và người lao động chủ động kiểm soát dịch chứ không để dịch kiểm soát; doanh nghiệp cần phải có các chính sách thu hút người lao động như là: miễn hoặc giảm chi phí tuyển dụng, đào tạo tay nghề hoặc đào tạo lại cho người lao động, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ, chính sách hỗ trợ nhà ở, điện nước, giữ trẻ và phương tiện đi lại bảo đảm an toàn phòng dịch. Đây là các biện pháp tích cực thu hút lao động nhưng doanh nghiệp phải tăng chi phí, giảm lợi nhuận, thậm chí chịu lỗ để bảo đảm duy trì sản xuất, khoan sức lao động chuẩn bị cho sự phuc hồi, ổn định và tăng tốc phát triển trong tương lai. Đây có thể như là giải pháp đi trước đón đầu, cho phát triển.
- Đối với người lao động, việc làm và thu nhập đã bị suy giảm mạnh, thậm chí một bộ phận suy kiệt trong thời gian qua. Chưa nói đến khía cạnh an sinh, ổn định chính trị - xã hội, nếu không vực được sức cầu của thị trường lao động khu vực này, sẽ không thể phục hồi kinh tế. Vừa qua, Chính phủ đã tích cực đưa ra các gói hỗ trợ, cứu trợ, song vấn đề lớn nằm ở tổ chức thực thi, để tiền đến tay người lao động; tiếp tục ưu tiên mang tính trọng điểm rõ ràng hơn và người lao động cần được hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ nhà nước để phục hồi sản xuất. Do đó, tiếp tục triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 và Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 08/10/2021 của Chính phủ và ban hành các chính sách phù hợp khác.
- Đối với những người lao động phải di chuyển để tìm việc, động lực lớn nhất để họ quay trở lại nơi làm việc là khả năng tìm được công việc bằng/ hoặc tốt hơn công việc cũ trong môi trường an toàn. Song song với những động thái quyết liệt về kiểm soát dịch bệnh, nhanh chóng đưa cuộc sống ở các vùng bị ảnh hưởng trở lại bình thường sớm nhất. Các địa phương có phương án hỗ trợ người lao động quay lại nơi làm việc, bao gồm không chỉ nỗ lực kết nối cung - cầu lao động, mà còn là việc kiến tạo các động lực về cơ hội, hỗ trợ tài chính, ổn định cuộc sống tại các địa bàn có nhu cầu lao động lớn, tạo sinh kế cho người lao động tìm việc làm tăng thu nhập bảo đảm cuộc sống, cũng như một số các biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn về bảo vệ sức khỏe phù hợp, giúp tạo tâm lý yên tâm quay trở lại làm việc cho người lao động.
- Bài học qua đại dịch COVID-19 cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống an sinh xã hội là bảo đảm an toàn cho người dân trong điều kiện biến động về kinh tế - xã hội. Do đó, phải tiếp tục các giải pháp lâu dài về nguồn lực để bảo đảm một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm tránh rủi ro và tạo cơ hội công bằng cho toàn dân. Thúc đẩy các chính sách hỗ trợ nhà ở và đẩy mạnh xã hội hóa để đảm bảo nhà ở cho người dân, đặc biệt là người di cư, người dân vùng chịu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu; đầu tư, xây dựng nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, đô thi và người có thu nhập thấp, nhằm ổn định đời sống, yên tâm cho người lao động, từ đó thu hút lao động đến làm việc.
- Kinh nghiệm các quốc gia có thị trường lao động ổn định và phát triển cho thấy cần phải chú trọng vấn đề đào tạo, đào tạo lại, nâng cao tay nghề, chuyển đổi nghề nghiệp, tháo gỡ rào cản và tạo cơ chế thông thoáng tối đa trong khuôn khổ pháp lý hiện hành để doanh nghiệp có thể tổ chức đào tạo, đào lại cho người lao động; sử dụng nguồn kinh phí bảo hiểm thất nghiệp như một công cụ “giá đỡ” hỗ trợ phát triển thị trường lao động. Chúng ta phải thật sự có các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ đầu tư cho lĩnh vực này.
Đồng thời lưu ý thêm một số vấn đề sau:
a) Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất và việc làm
- Chính sách tài khóa: giảm thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế, giảm thu một số khoản phí, lệ phí;
- Chính sách hỗ trợ tín dụng: hỗ trợ giải ngân, giãn nợ, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp vay để phát triển sản xuất; các gói tín dụng cho vay ưu đãi;
- Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc chính sách an sinh xã hội để giúp doanh nghiệp duy trì việc làm cho người lao động như: (i) giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, giảm các khoản đóng quỹ công đoàn; (ii) tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; (iii) hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề để duy trì việc làm cho người lao động; (iv) vay vốn không lãi suất để trả lương ngừng việc, phục hồi sản xuất.
b) Giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện duy trì việc làm, “giữ chân người lao động”
- Nỗ lực phòng chống, dịch, bảo đảm an toàn, bảo đảm duy trì việc làm với chính sách “tại chỗ” và di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc, cùng các hình thức khác phù hợp với từng doanh nghiệp để duy trì việc làm.
- Thực hiện các chế độ bảo đảm an toàn phòng, chống dịch cho người lao động để người lao động yên tâm sản xuất, kinh doanh.
- Đối với lao động ngừng việc do doanh nghiệp phải tạm dừng sản xuất hoặc người lao động không thực hiện làm việc mà về quê, các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp nhằm giữ chân lao động như: (i) chủ động giữ thông tin, liên lạc để sẵn sàng kêu gọi người lao động quay trở lại sản xuất khi tình hình dịch được kiểm soát thông qua lập các nhóm trên mạng xã hội, internet với người lao động; (ii) thực hiện các chế độ hỗ trợ người lao động (trả lương ngừng việc, hỗ trợ bằng tiền đối với một số ngày nhất định khi tạm hoãn, nghỉ việc không lương), nhiều doanh nghiệp đảm bảo chế độ cao hơn pháp luật quy định và (iii) cố gắng tìm các giải pháp để không chấm dứt quan hệ lao động như dùng biện pháp ngừng việc có trả lương, hoặc nếu thời gian quá dài mà phải tạm hoãn/nghỉ việc không lương thì vẫn duy trì đóng BHXH để giữ chân lao động.
c) Giải pháp hỗ trợ người lao động, người dân đảm bảo an sinh xã hội, thu hút người lao động quay trở lại làm việc
- Điều tiết thị trường lao động ở cấp quốc gia và từng địa phương (sinh viên các trường nghề, thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự).
- Tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng các giải pháp, các chính sách hỗ trợ cho người dân, nhất là các gói hỗ trợ an sinh xã hội khẩn cấp với nhiều chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, người lao động, nhằm thực hiện “mục tiêu kép”: hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ; hỗ trợ theo Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ và hỗ trợ gạo cho người dân gặp khó khăn trong đợt dịch lần thứ tư.
- Các chính sách hỗ trợ giảm chi phí như: giảm giá điện, nước, cước viễn thông, giá nhà trọ, hỗ trợ tiền phòng, tiền quay trở lại nơi làm việc,…
- Hướng dẫn các địa phương, doanh nghiệp trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động, phương án sắp xếp và sử dụng lao động phát sinh do dịch.
- Về mặt thể chế: thực hiện rà soát, lắng nghe kiến nghị của người sử dụng lao động, xem xét nới lỏng các tiêu chuẩn lao động để thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, người lao động làm việc, điều chỉnh thời gian làm thêm giờ theo tháng nhằm đáp ứng yêu cầu các đơn hàng trong thời điểm nhất định.
d) Các địa phương có lao động dịch chuyển về quê cần:
- Ban hành các chủ trương, chính sách, giải pháp ổn định, giới thiệu, tạo việc làm cho người lao động đã về từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trọng điểm phía Nam,…; kết nối chặt chẽ với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong Chương trình phục hồi và phát triển thị trường lao động, kết nối cung – cầu lao động thông qua hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm, qua đó giới thiệu việc làm cho người lao động.
- Tuyên truyền, vận động người lao động chủ động quay trở lại các lĩnh vực cũ.
- Giới thiệu việc làm cho người lao động ở các địa bàn khác phù hợp.
- Tạo việc làm tại chỗ, chăm lo an sinh xã hội.
- Kịp thời xây dựng phương án bảo đảm an sinh xã hội đối với người trở về quê, người nghèo, người dân trên địa bàn phù hợp với tình hình thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ.
III. VIỆC CHỦ TRÌ VỚI CÁC BỘ NGÀNH LIÊN QUAN THEO DÕI, KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN CỨU TRỢ, THIỆN NGUYỆN BẢO ĐẢM ĐÚNG CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH
1. Về chính sách trợ giúp đột xuất và tổ chức thực hiện chính sách
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm bảo đảm đời sống người dân, nhất là đối với bộ phận dân cư do ảnh hưởng thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh và đối tượng yếu thế không có điều kiện bảo đảm cuộc sống. Chính sách cụ thể được quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 và từ ngày 01/7/2021 được thay thế bằng Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ. Trong đó có các quy định như: Hỗ trợ lương thực cho hộ gia đình thiếu đói tết âm lịch, thiếu đói do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa hoặc các nguyên nhân bất khả kháng; Hỗ trợ chi phí mai táng; Hỗ trợ người bị thương nặng; Hộ nghèo, cận nghèo hộ có hoàn cảnh khó khăn có nhà đổ sập trôi, cháy, hư hỏng được xem xét hỗ trợ làm mới, sửa chữa chỗ ở[11].
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các địa phương thực hiện việc hỗ trợ khẩn cấp nơi ở cho người lang thang, cơ nhỡ, người không có chỗ ở tạm thời trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 1105/CĐ-TTg ngày 27/8/2021 về việc thu dung, thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người “lang thang, cơ nhỡ”. Đến nay, các tỉnh, thành phố đã triển khai thu dung 1.500 người vào tạm thời ở các cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm công tác xã hội như: Thành phố Hồ Chí Minh thu dung hơn 1.039 người[12], thành phố Hà Nội thu dung 133 người[13]; tỉnh Khánh Hòa thu dung 80 người[14]; tỉnh Đồng Nai thu dung 40 người (ở thành phố Biên Hòa)…
Bên cạnh đó, để đạt được mục tiêu kiểm soát dịch bệnh trên địa bàn giãn cách xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương đã triển khai mô hình “túi an sinh xã hội” để hỗ trợ khẩn cấp cho người dân trong phòng, chống dịch, chỉ tính riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã cấp phát hơn 1,8 triệu túi an sinh xã hội, Thành đoàn Cần Thơ đã trao tặng gần 19.000 túi an sinh cho người dân và thanh thiếu nhi gặp nhiều khó khăn do dịch COVID-19 với tổng kinh phí gần 5,2 tỷ đồng; thành phố Hà Nội hỗ trợ cho 900.000 lượt người, hộ gia đình với tổng kinh phí đến thời điểm này là gần 272 tỷ đồng; tỉnh Thanh Hóa hỗ trợ 67.000 hộ gia đình mỗi hộ 1 túi an sinh xã hội trị giá lên tới 1,8 triệu đồng…
Cùng với tổ chức thực hiện đầy đủ chính sách theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, các địa phương cũng đã đẩy mạnh huy động các nguồn lực hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân cho công tác hỗ trợ khẩn cấp người dân khi có thiên tai, hỏa hoạn và dịch bệnh trên diện rộng. Các nước, tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, kiều bào đã có đóng góp lớn bằng tiền và hiện vật với tổng giá trị nhiều chục nghìn tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch. Xuất hiện nhiều tấm gương từ cộng đồng với cách làm sáng tạo, “tương thân, tương ái” với những nghĩa cử cao đẹp, lan tỏa yêu thương, “lay động lòng người”, thể hiện sâu đậm truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
2. Về theo dõi, kiểm tra về thực hiện cứu trợ, thiện nguyện bảo đảm đúng chế độ chính sách
Về vấn đề quản lý về các hoạt động cứu trợ, thiện nguyện nhân đạo, theo quy định tại Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/5/2008 của Chính phủ về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Trong đó, quy định chi tiết về nguyên tắc, mục đích, phạm vi, phương thức kêu gọi, phương thức tổ chức vận động, tiếp nhận phân phối, tổng hợp báo cáo, kiểm tra… Tuy nhiên, do thời gian qua chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể cách làm, nguyên tắc làm thiện nguyện, cứu trợ nhân đạo đối với các tổ chức, cá nhân, dẫn tới những bất cập, hạn chế nhất định, đặc biệt là khâu tổ chức phân phối, cấp phát, chưa tuân thủ quy định pháp luật dẫn đến cấp phát chậm, có chỗ nhiều, có chỗ ít, chưa thông tin kịp thời về kết quả hỗ trợ,... Điều này đã dẫn đến một số vụ việc gây dư luận xã hội không tốt, ảnh hưởng đến công tác huy động cứu trợ và hoạt động thiện nguyện.
Trên cơ sở đó, để khắc phục hạn chế về quản lý công tác huy động cứu trợ thiện nguyện, nhân đạo, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 93/2021/NĐ-CP ngày 27/10/2021 về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố, hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo thay thế Nghị định số 64/2008/NĐ-CP và có hiệu lực từ ngày 11 tháng 12 năm 2021.
Trong đó, tại khoản 1 Điều 25 giao Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng tiền, hiện vật đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân và các địa phương bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, sự cố. Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức giám sát việc thực hiện theo quy định của pháp luật.
Giao Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan quản lý đối với nguồn đóng góp tự nguyện được chuyển vào ngân sách trung ương theo quy định hiện hành của pháp luật về ngân sách nhà nước; tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác tiếp nhận, phân phối và sử dụng tiền, hiện vật đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố; hướng dẫn xử lý vướng mắc phát sinh (nếu có) trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định này.
Đồng thời, giao Bộ Lao động - Thương binh vã Xã hội chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện chính sách về trợ giúp xã hội, theo dõi, kiểm tra việc tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ Nhân dân và các địa phương bị thiệt hại do sự cố bảo đảm đúng chế độ, chính sách (Khoản 2 Điều 25). Thực hiện quy định này, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ xây dựng kế hoạch và tăng cường:
- Truyền thông, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân về chính sách trợ giúp xã hội quy định về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn thiên tai, dịch bệnh, sự cố; hỗ trợ bệnh nhân nghèo.
- Nâng cao năng lực, kiểm tra, giám sát về thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và quản lý vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn thiên tai, dịch bệnh.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý đối tượng, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội tại các địa phương.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin báo cáo và trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Ban Tuyên giáo Trung ương và của Hội nghị đối với lĩnh vực công tác của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội./.
Chú thích:
[1] Mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập…
[2] 79.700 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, 75.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới.
[3] Báo cáo ngày 12/10/2021 của Tổng cục Thống kê. Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh: chỉ có 827 doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động (chiếm 57,56%); Bình Dương: 14.399 doanh nghiệp từ 10 lao động trở lên (khoảng 80%) ngừng hoạt động với 303.721 lao động bị ngừng việc (chiếm 71,8% lao động); Đồng Nai: 586 doanh nghiệp ngừng hoạt động, 316.511 lao động bị ngừng việc; Tiền Giang: 3.799 doanh nghiệp ngừng hoạt động, 180.545 lao động bị ngừng việc; Đồng Tháp: 2.688 doanh nghiệp ngừng hoạt động, 54.863 lao động ngừng việc; Cần Thơ: 11.526 doanh nghiệp ngừng hoạt động, 114.572 lao động ngừng việc; Bà Rịa –Vũng Tàu: 4.500 doanh nghiệp ngừng hoạt động, 120.000 lao động ngừng việc…
[4] Ngân sách trung ương tiếp tục bố trí khoảng 20.000 tỷ đồng để thực hiện một số chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, trong đó hỗ trợ chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề; chính sách y tế (mua thẻ BHYT cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người thuộc hộ cận nghèo, hộ làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình,...) và các chính sách đảm bảo xã hội khác như hỗ trợ tiền điện, trợ giúp pháp lý cho người nghèo. Thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, đến ngày 30/6/2021 thực hiện cho vay trên 425 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn với doanh số cho vay đạt 20.485 tỷ đồng.
[5] Khoảng 3,25 triệu đối tượng (trong đó khoảng trên 51 ngàn trẻ em mồ côi, mất nguồn nuôi dưỡng; trên 1,8 triệu người cao tuổi; khoảng 1,1 triệu người khuyết tật đang hưởng trợ cấp và các đối tượng khác), ngân sách nhà nước chi khoảng 23.675 tỷ đồng/năm.
Đã hỗ trợ 165 trẻ em sơ sinh là con của sản phụ bị nhiễm COVID-19, mức 01 triệu đồng/trẻ em, tổng kinh phí hỗ trợ 165 triệu đồng tại 35 tỉnh, thành phố. Đã hỗ trợ 1.710 rẻ em mồ côi mất cha, mẹ do COVID-19, mức 05 triệu đồng/trẻ em, tổng kinh phí hỗ trợ 8,55 tỷ đồng tại 35 tỉnh, thành phố. Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam cũng đã kêu gọi các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi COVID-19 bao gồm hỗ trợ tiền mặt và hiện vật cho 12.800 trẻ em bị ảnh hưởng bởi COVID-19 với tổng kinh phí trên 7 tỷ đồng.
[6] Gồm các tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
[7] Các địa phương chưa có đối tượng hỗ trợ ở chính sách 4 là: Hà Giang, Cao Bằng, Phú Thọ.
[8] Tổng số tiền đã chi trả là 23.289,5 tỷ đồng (tương đương 97,18% tổng kinh phí được giải quyết).
[9] Tại TP Hồ Chí Minh, đến thời điểm tháng 10/2021, số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 1.430 doanh nghiệp, chiếm 95,33%, với số lao động làm việc là 256.356 người, chiếm 76,3%.
Tại Bình Dương, dự kiến tới giữa tháng 11, số doanh nghiệp trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt trên 80% (khoảng với trên 1,059 triệu lao động sẽ trở lại làm việc).
[10] Theo kết quả khảo sát đánh giá tác động của dịch COVID-19 trên phạm vi toàn quốc của Tổng cục Thống kê tại 22.764 doanh nghiệp.
[11] Trong 5 năm giai đoạn 2016- 2021, các địa phương đã hỗ trợ chi phí mai táng cho 1.364 người chết, hỗ trợ điều trị cho 2.360 người bị thương nặng và trên 21.000 hộ gia đình làm nhà mới hoặc sửa chữa nhà ở. Thủ tướng Chính phủ đã xuất cấp hơn 343.175 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia xuất cấp cho các địa phương hỗ trợ 20.708.106 lượt người thiếu lương thực dịp Tết Nguyên đán, thiếu đói giáp hạt, thiên tai và dịch bệnh. Nguồn hỗ trợ từ Trung ương, các địa phương đã huy động là 10.947 tỷ đồng từ nguồn ngân sách và vận động xã hội hỗ trợ cho hơn 6 triệu lượt đối tượng bảo trợ xã hội và 6 triệu lượt hộ nghèo trong dịp Tết Nguyên đán.
[12] Báo cáo của Sở Lao động - Thương và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/9/2021.
[13] Thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tính từ tháng 7/2021 đến ngày 09/9/2021.
[14] Thống kê Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa đến hết ngày 31/8/2021.
