Chính sách quốc phòng Việt Nam dựa trên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, hòa bình và tự vệ trong bối cảnh mới (Phần II)
Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Hồng Quân
Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
(Tiếp theo phần I)
2.3. Thực hiện “bốn không”
Trong ba lần công bố chính sách quốc phòng trước đây, chúng ta nhấn mạnh chính sách “ba không”. Lần gần đây nhất, chúng ta kế thừa và phát triển chính sách “ba không” thành “bốn không”, cụ thể: Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; đồng thời bổ sung chính sách “không” thứ tư là: không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Không tham gia liên minh quân sự
Trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước bè bạn, nhưng không tham gia liên minh quân sự Warszawa (Vác-sa-va) của Liên Xô và Đông Âu. Chúng ta chủ trương nhất quán “thêm bạn, bớt thù”. Một khi tham gia liên minh quân sự, Việt Nam sẽ phải gắn với một bên, sẽ phải san sẻ trách nhiệm tài chính, nhân lực; có thể phải nhân nhượng một số lợi ích, sẽ phải hy sinh một phần nhất định chủ quyền quốc gia, có thể phải đối đầu với bên khác, tức là “chuốc” thêm kẻ thù. Do đó, Việt Nam không đứng về bên nào, chỉ đứng về hòa bình, lẽ phải, công lý, luật pháp quốc tế. Sau Chiến tranh lạnh, các nước đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, mỗi nước phải tự bảo vệ lấy lợi ích quốc gia mình, không thể trông chờ và sẽ không có quốc gia nào bảo vệ lợi ích thay cho nước khác. Lịch sử Việt Nam chứng minh rõ nét: khi có chính nghĩa, chúng ta được bạn bè ủng hộ, lúc đó chúng ta mới giành được thắng lợi; muốn có chính nghĩa, phải giữ cho được độc lập, tự chủ.
Việt Nam đã thiết lập các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác hợp tác toàn diện, trong đó cao nhất là quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện[1]. Bên cạnh đó, Việt Nam cố gắng duy trì thế cân bằng giữa các nước lớn, đặc biệt trong bối cảnh diễn ra cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn tại Biển Đông. Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Mỹ được điều chỉnh để tập trung phát triển các khía cạnh khác trong quan hệ song phương, nhất là về kinh tế. Quan hệ Việt Nam - Mỹ mới chỉ là đối tác toàn diện (năm 2013). Đã có các cuộc thảo luận nghiêm túc về việc nâng quan hệ với Mỹ lên thành đối tác chiến lược. Tuy nhiên, mọi cụm từ này đều bao hàm trao đổi, hợp tác về quân sự, không nên hiểu là “liên minh” quân sự. Hai bên ngầm thừa nhận chú trọng phát triển quan hệ thực chất.
Không liên kết với nước này để chống nước kia
Tuy tham gia diễn tập trên Biển Đông với một số nước (như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản…), nhưng không có nghĩa là Việt Nam đi với đối tác nào đó để chống lại nước thứ ba. Trong những năm qua, Việt Nam đón hàng chục tàu chiến nước ngoài, thậm chí đón hàng không mẫu hạm Mỹ vào thăm (tại Đà Nẵng), tuy nhiên không phải là Việt Nam dùng các chiến hạm nước ngoài này để đối phó với các hành động đe dọa chủ quyền của mình ở Biển Đông.
Việc thực hiện nguyên tắc “không liên kết với bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác” trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hợp tác khu vực. Nếu Việt Nam chủ trương liên minh với bên ngoài để bảo vệ Tổ quốc, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ.
Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác.
Trong Chiến tranh Lạnh, Việt Nam đồng ý cho Liên Xô (trước đây) và Nga sử dụng căn cứ hải quân chiến lược ở Vịnh Cam Ranh từ năm 1978. Nga muốn tái thiết lập hiện diện ở Việt Nam để gia tăng sự hiện diện quân sự ở Thái Bình Dương, nhưng do áp dụng nguyên tắc này từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã từ chối gia hạn cho Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh. Nga rời khỏi Cam Ranh năm 2002, sớm hơn 2 năm so với thỏa thuận Xô - Việt ký năm 1978.
Trước việc không ít quốc gia muốn cho tàu chiến của họ được ghé vào quân cảng Cam Ranh, Việt Nam đã cho xây dựng cảng quốc tế Cam Ranh để thỏa mãn yêu cầu này mà vẫn giữ nguyên Cam Ranh là căn cứ của riêng hải quân Việt Nam. Đây là tín hiệu rõ ràng rằng hoạt động của tàu chiến nước ngoài tại cảng quốc tế Cam Ranh không vi phạm nguyên tắc “không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác”. Từ đó, Việt Nam đã đón tiếp nhiều chuyến viếng thăm của hải quân nước ngoài, bao gồm các tàu chiến của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Anh, Canada, New Zealand, Nga, Trung Quốc và các nước khác. Điều đó thể hiện sự kiên định về nguyên tắc và uyển chuyển trong cách thực hiện của Việt Nam.
Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam công bố lần thứ tư (ngày 25/11/2019) tái khẳng định: “Việt Nam chủ trương…không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”[2]. Việc bổ sung “không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực” làm nổi bật bản chất phòng thủ và hòa bình của chính sách quốc phòng Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam liên tục nỗ lực nâng cao năng lực quân sự của mình. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nguyên tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi, được ghi nhận trong Hiến chương của Liên Hợp quốc[3] và Hiến chương ASEAN[4]. Do đó, lần này Việt Nam chỉ nhắc lại một nguyên tắc đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi, thể hiện chính sách quốc phòng Việt Nam tôn trọng nguyên tắc cơ bản của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh và của tổ chức khu vực, đồng thời góp phần nhấn mạnh tính phi pháp của các hành vi gây hấn ở Biển Đông. Nhắc lại nguyên tắc “không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”, Việt Nam muốn nhắn nhủ các quốc gia thành viên Liên Hợp quốc, các thành viên ASEAN cần hành xử có trách nhiệm tương xứng với trách nhiệm và vị thế quốc tế của mình. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích chương trình hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ bao trùm của các lực lượng quốc phòng Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng để bảo vệ Tổ quốc, giữ lấy hòa bình.
Việt Nam không liên minh quân sự, nhưng tăng cường hợp tác quốc phòng để mở rộng sự ủng hộ quốc tế, giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn. Việt Nam có thể tranh thủ và tận dụng các hình thức hợp tác, như hỗ trợ phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết về biển hoặc bổ sung khả năng tuần tra biển (tiếp nhận tàu tuần duyên ngoài biên chế, tập trận chung, phối hợp tuần tra…)[5]. Với tình hình quốc tế, khu vực, khả năng của đất nước và cách xử trí đối với các thách thức quốc phòng hiện nay, chúng ta có thể không để phát sinh xung đột, không để xảy ra chiến tranh. Việt Nam không liên minh quân sự, nhưng mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nỗ lực tham gia vào các vấn đề chung của thế giới, đóng góp trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 viết : “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”[6]. Điểm này tạo cho ta linh hoạt, chủ động, không bị gò bó, dễ dàng ứng phó trong những tình huống phức tạp hoặc khi có yêu cầu cấp thiết để bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước có chiến tranh, chúng ta phải hoạch định những chiến lược mới phù hợp thời chiến. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 mang lại sự rõ ràng và minh bạch hơn cho chính sách quốc phòng của Việt Nam.
2.4. Kiên định mục tiêu chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo
Chính sách quốc phòng Việt Nam kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt, chủ động ứng phó với sự biến động phức tạp của tình hình.
Xác định rõ đối tượng, đối tác: Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) xác định rõ đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 cụ thể hơn: “bất kỳ thế lực nào có âm mưu, hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam”[7] đều là đối tượng của cách mạng Việt Nam. Đại hội Đảng lần thứ XIII nhấn mạnh: “Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”[8].
Thể hiện trách nhiệm với cộng đồng quốc tế: Đối với cộng đồng quốc tế, Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ; chính sách quốc phòng Việt Nam xác định tích cực hợp tác cùng các quốc gia giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam đánh giá cao vai trò của Liên Hợp quốc trong hoạt động gìn giữ hòa bình, ngăn ngừa xung đột chiến tranh, thực thi những chuẩn mực cốt lõi của quan hệ quốc tế trong Hiến chương Liên Hợp quốc.
Ủng hộ giải trừ quân bị, chạy đua vũ trang: Xuất phát từ chủ trương ủng hộ và tích cực đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị, Việt Nam cam kết thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của nước thành viên công ước, hiệp định, nghị định thư về cấm phổ biến các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (ASEANWFZ), các công ước quốc tế về giải trừ quân bị và tích cực xem xét, chuẩn bị điều kiện cần thiết để tham gia các công ước, điều ước quốc tế trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, dự báo có nhiều diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến Việt Nam, nên chúng ta ưu tiên giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống trong hợp tác quốc phòng với các nước trong khu vực và trên thế giới; mở rộng và nâng cao chất lượng hợp tác song phương và đa phương để phòng ngừa, đối phó hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống và khắc phục hậu quả chiến tranh[9].
2.5. Xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Đại hội Đảng lần thứ XIII yêu cầu: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”[10].
Sách trằng Quốc phòng Việt Nam 2019 nêu rõ chính sách một mặt phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang, mặt khác chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao; tổ chức tinh, gọn, mạnh, linh hoạt, hiệu quả cao; cơ cấu tổ chức đồng bộ; điều chỉnh, mở rộng, phát triển lực lượng hợp lý, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ tác chiến. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, chất lượng cao, hiệu quả thiết thực, phù hợp với từng địa bàn, loại hình tổ chức kinh tế, xã hội[1].
Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam phấn đấu từ năm 2030, xây dựng Quân đội hiện đại; không ngừng nâng cao trình độ quân sự, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, nghệ thuật quân sự, phương thức tác chiến, vũ khí, trang bị kỹ thuật và công tác bảo đảm.
[1] Bộ Quốc phòng (2019), Tài liệu đã dẫn, tr.48-49;
Vấn đề đặt ra trước hết là tập trung xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, cơ sở để nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của Quân đội. Đây là nguyên tắc trong tổ chức hoạt động của Quân đội, thể hiện quan điểm coi con người là yếu tố quyết định thắng lợi trên chiến trường. Trong điều kiện các thế lực thù địch đang chống phá quyết liệt, đòi “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội, càng cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của Quân đội. Trên cơ sở đó, làm cho Quân đội trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vững tin vào sự nghiệp đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam chú trọng xây dựng Quân đội về tổ chức, biên chế và nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm phù hợp với quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; đồng bộ, cân đối giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên; lực lượng chiến đấu và bảo đảm chiến đấu; lục quân với các quân chủng, binh chủng; tổng quân số với khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị. Cùng với đó, bảo đảm nguồn lực thực hiện mục tiêu xây dựng Quân đội, các chương trình, dự án trọng điểm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng cơ sở, vật chất kỹ thuật; nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến; làm chủ công nghệ chế tạo một số loại vũ khí, trang bị hiện đại cho lục quân, các quân chủng, binh chủng; tiến tới thiết kế, sản xuất một số vũ khí, trang bị quốc phòng có ý nghĩa chiến lược, v.v…
Đi đôi với công tác tổ chức, biên chế và xây dựng nguồn nhân lực, Quân đội nhân dân Việt Nam còn coi trọng công tác đào tạo, huấn luyện, diễn tập; thường xuyên đổi mới toàn diện công tác này phù hợp với tổ chức, biên chế, trang bị và sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Cùng với đó, tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, nhất là cán bộ chiến dịch, chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, phấm chất đạo đức tốt, nắm chắc nghệ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến quân chủng, binh chủng, ngành, tác chiến của các binh đoàn chủ lực và của chiến tranh nhân dân địa phương trong các loại hình tác chiến của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng huấn luyện kỹ năng chiến đấu cá nhân, tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng; khai thác và làm chủ vũ khí, khí tài, trang bị hiện có, bằng nghệ thuật quân sự Việt Nam theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Thường xuyên tổ chức diễn tập nhằm rèn luyện năng lực toàn diện về lãnh đạo, chỉ huy, điều hành của chỉ huy, cơ quan đối với các lực lượng; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng bảo đảm tác chiến, xử trí tình huống chiến lược; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án tác chiến, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Để sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, Quân đội nhân dân Việt Nam chủ động huấn luyện, diễn tập với các tình huống: tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hỗ trợ nhân đạo, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc. Đồng thời, tham gia huấn luyện, diễn tập các nội dung này với một số nước, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc của các nước; phù hợp luật pháp quốc tế, pháp luật và điều kiện, khả năng của Việt Nam, góp phần duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.
Kết luận
Chính sách quốc phòng Việt Nam quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhất quán xây dựng sức mạnh quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm ngăn ngừa xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.
Chính sách quốc phòng Việt Nam góp phần tăng cường sự hiểu biết và củng cố lòng tin giữa Việt Nam với các quốc gia trong cộng đồng quốc tế; nâng cao sự hiểu biết của cả hệ thống chính trị và toàn dân về quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ; từ đó, xác định ý thức, trách nhiệm công dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc./.
