Chính sách quốc phòng Việt Nam dựa trên sức mạng tổng hợp toàn dân tộc, hòa bình và tự vệ trong bối cảnh mới ( Phần I)

Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Hồng Quân

Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng

 

1. Bối cảnh mới tác động trực tiếp đến quốc phòng Việt Nam

Nhân loại bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với môi trường an ninh, chính trị, kinh tế,... diễn biến phức tạp: xâm phạm chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ, xung đột sắc tộc, tôn giáo. Cục diện thế giới đang chuyển từ đơn cực sang đa cực, đa trung tâm. Vì lợi ích quốc gia - dân tộc, các cường quốc chủ động điều chỉnh chiến lược[1], đẩy mạnh cạnh tranh địa chiến lược, thu hút sự quan tâm của nhiều nước và cộng đồng quốc tế. Tuy có những khó khăn, phức tạp mới nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo.

Khu vực Đông Nam Á là một trong các khu vực có nền kinh tế năng động, phát triển, có tầm ảnh hưởng rộng, trở thành đối tác quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới. ASEAN nỗ lực giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực, nhưng gặp không ít thách thức trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

Khu vực Biển Đông vốn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, gần đây nổi lên là các hành động đơn phương, áp đặt dựa trên sức mạnh, bất chấp luật pháp quốc tế và quân sự hóa các đảo, đá bồi đắp trái phép, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam.

Sau 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế - xã hội đạt và vượt chỉ tiêu, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, tạo thuận lợi cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước.

[1] Trong đó nổi lên là: Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của Mỹ; Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc; …

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ nhất khóa XI (2021)

Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được củng cố, tăng cường; khối đại đoàn kết các dân tộc được giữ vững. Quân đội nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng và lực lượng được ưu tiên tiến thẳng lên hiện đại. Việt Nam tích cực và chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn, bạn bè truyền thống tiếp tục được củng cố, phát triển và mở rộng. Bên cạnh đó, nước ta cũng gặp không ít khó khăn: các thế lực thù địch quyết liệt chống phá Đảng, Nhà nước; cách mạng công nghệ quân sự trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0 tạo ra cơ hội mới đi cùng những thách thức mới đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế chưa thực sự bền vững; biến đổi khí hậu đã có những tác động không nhỏ đến quốc phòng, nhất là gần đây đại dịch Covid-19 xuất hiện, Việt Nam là nước có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh rất cao, vì có đường biên giới dài với Trung Quốc (quốc gia đầu tiên xuất hiện dịch bệnh), nhưng với sự vào cuộc quyết liệt và sự đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, hiện nay về cơ bản chúng ta đã kiểm soát và dập dịch tốt. Bên cạnh đó, chúng ta đã nhận được sự đồng lòng, chung sức, đồng thuận cao của người dân, vì quyết tâm “chống dịch như chống giặc”, đặt sức khỏe của người dân lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Những thành công lớn bước đầu trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 chứng tỏ “sức mạnh mềm” của đất nước đã được phát huy đúng mức và đúng lúc.

Những năm qua, Việt Nam xây dựng và hoàn thiện Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể hóa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 về Chiến lược quốc phòng Việt Nam. Chiến lược quốc phòng Việt Nam là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược; mang tính chất hòa bình tự vệ, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; trong đó, đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố quyết định, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các nước, nhất là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra.

Bộ Chính trị (khóa XII) đã thông qua và ban hành Kết luận số 31-KL/TW, ngày 16/4/2018 về Chiến lược quân sự Việt Nam, nhằm tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về nguyên tắc Ðảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là bước phát triển mới về tư duy, nhận thức của Ðảng đối với công cuộc bảo vệ đất nước. Chiến lược quân sự Việt Nam là nội dung nòng cốt, cụ thể hóa Chiến lược quốc phòng Việt Nam, là nghệ thuật sử dụng sức mạnh quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; bộ phận chủ đạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam; chỉ đạo nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật; là tổng thể phương châm, chính sách và mưu lược hoạch định trên nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân...

Ngày 25/7/2018, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 29 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” và Nghị quyết số 30 về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”. Đây là hai Nghị quyết quan trọng để Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên một vùng lãnh thổ mới - không gian mạng và cũng là triển khai tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm xây dựng không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp; xác lập và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng; tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn, làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, sẵn sàng đối phó hiệu quả với mọi tình huống trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tại Lễ công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng (2018)

Đây là lần đầu tiên Đảng thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản, đảm bảo cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, có tính khả thi cao. Các văn kiện trên không chỉ quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, mà còn cập nhật những vấn đề mới của pháp luật hiện hành về quốc phòng, an ninh và thực tiễn đất nước, tạo nên hệ thống chiến lược quốc gia về lĩnh vực quốc phòng khá hoàn chỉnh, đồng bộ. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng; tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là bước tiến lớn, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy nhạy bén, đột phá về nhận thức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực quốc phòng của Đảng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, chúng ta phát triển một số lực lượng và mua sắm trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

2. Chính sách quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, hòa bình, tự vệ, công khai, minh bạch

           Sách trắng Quốc phòng 2019 một lần nữa thể hiện chính sách quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, hòa bình, tự vệ, công khai, minh bạch của Việt Nam.

2.1. Chính sách quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc

Chính sách quốc phòng Việt Nam dựa trên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, thể hiện ở chiến lược xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đây là luận điểm cách mạng, khoa học quan trọng, xuyên suốt trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Ngay từ tháng 9/1945, khi chính quyền cách mạng vừa được thiết lập, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Nước ta mới tranh lại quyền độc lập tự do, nhưng còn phải trải qua nhiều bước khó khăn, để củng cố quyền tự do độc lập đó. Vậy nên quốc dân ta, bất kỳ già trẻ, đều phải ra sức gánh vác một vai”[1]. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Người thường xuyên nhắc nhở: “Phải củng cố lực lượng quốc phòng, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi hoạt động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng”[2].

Hồ Chí Minh chỉ rõ: chỉ có dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, chúng ta mới xây dựng được nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận quốc phòng. Không những thế, đó phải là nền quốc phòng độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, ngày càng hiện đại, gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa - xã hội. Đây vừa là mục tiêu, vừa là phương châm xây dựng nền quốc phòng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta.

Xây dựng nền quốc phòng là sự nghiệp cao cả của toàn Đảng, toàn dân; trong đó, lực lượng vũ trang đóng vai trò nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Hồ Chí Minh chỉ rõ: nền quốc phòng của nước ta mang tính chất hòa bình, tự vệ và mang bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; nhiệm vụ của nó không chỉ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mà còn bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cũng không chỉ chống giặc ngoài, mà còn chống cả thù trong. Vì vậy, Người nhấn mạnh: phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện; nghĩa là nhân dân phải là chủ thể của nền quốc phòng, mọi người dân đều có trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia xây dựng nền quốc phòng vững mạnh toàn diện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân được hình thành trên cơ sở tiếp thu nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng; đồng thời, kế thừa và phát triển lên tầm cao mới truyền thống toàn dân đánh giặc, “trăm họ là binh” của dân tộc ta. Tư tưởng cơ bản này được Người nêu rõ trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân: “phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”[3]. “Toàn dân” theo tư tưởng của Người là toàn dân tộc, được thể hiện rất rõ trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (ngày 19/12/1946): “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”[4].

Thực tiễn cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân luôn thống nhất với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và là cơ sở để Đảng ta hoạch định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây. Nội hàm tư tưởng đó của Người gồm những quan điểm cơ bản, đó là: kháng chiến toàn dân (toàn thể nhân dân tham gia kháng chiến), kháng chiến toàn diện (đấu tranh trên tất cả các mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao, binh địch vận,…), trường kỳ kháng chiến (đánh lâu dài, thắng địch từng bước, tiến tới giành thắng lợi quyết định), tự lực cánh sinh (dựa vào sức mình là chính). Nhấn mạnh tầm quan trọng của “tự lực cánh sinh”, Hồ Chí Minh viết: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”[5].

Đồng thời, Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu phải xây dựng thực lực cách mạng. Trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các lực lượng vũ trang cách mạng ở nước ta từng bước ra đời, được tổ chức, xây dựng và không ngừng phát triển, lớn mạnh. Đây chính là lực lượng nòng cốt cho toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám, tiếp đó là nòng cốt cho toàn dân đánh giặc trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Cuộc chiến tranh do nhân dân ta tiến hành, dù là chiến tranh giải phóng hay chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống lại các cuộc chiến tranh phi nghĩa của các thế lực thù địch là những cuộc đọ sức rất quyết liệt trên tất cả các mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, đối ngoại…; trong đó, đấu tranh vũ trang (quân sự) là đặc trưng, giữ vai trò trực tiếp quyết định. Theo Hồ Chí Minh, quy luật của chiến tranh là mạnh được yếu thua, vì thế để giành thắng lợi, xét về tổng thể thì ta phải mạnh hơn địch. Do đó, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Cần xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; có sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao; cơ cấu tổ chức đồng bộ, tinh, gọn, mạnh, đáp ứng nhiệm vụ tác chiến.  Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có trọng tâm, trọng điểm, chất lượng cao, hiệu quả, thiết thực, phù hợp với từng địa bàn, loại hình tổ chức kinh tế - xã hội. Khi chiến tranh xảy ra, dân quân tự vệ là lực lượng đầu tiên chiến đấu để bảo vệ địa phương và tạo thế cho lực lượng chủ lực tác chiến. Trong thời bình, dân quân tự vệ cũng là lực lượng đầu tiên được huy động phối hợp với bộ đội chủ lực tham gia các nhiệm vụ như khắc phục hậu quả thiên tai, giữ vững an ninh chính trị, trật tự trên địa bàn hoặc tham gia phát triển kinh tế.

2.2. Chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ

Xuất phát từ truyền thống hòa hiếu, Hồ Chí Minh chỉ rõ: nền quốc phòng của nước ta mang tính chất hòa bình, tự vệ và mang bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, không gây chiến với ai, không xâm lược nước nào, nhưng giữ quyền tự vệ, giáng trả mạnh mẽ khi bị tấn công để bảo vệ cuộc sống hòa bình.

Chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ Việt Nam thể hiện qua mức đầu tư cho quốc phòng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước. Ngân sách quốc phòng Việt Nam trong vòng 10 năm qua chưa khi nào đạt mức 3% GDP, cao nhất là 2,88% năm 2012. Năm 2018 là 2,36% (khoảng 5,8 tỷ USD). Với ngân sách ấy, chúng ta tập trung đảm bảo vũ khí trang bị cho bộ đội, huấn luyện cũng như chăm lo đời sống vật chất và tinh thần tối thiểu cho người lính... Ngân sách ấy là sự cố gắng, chắt chiu của toàn dân, toàn Đảng, góp phần cải thiện cho người cầm súng so với thập kỷ trước.

Chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ còn thể hiện ở chỗ chúng ta không chủ trương xây dựng lực lượng tiến công bằng vũ khí chiến lược, không tổ chức lực lượng tác chiến vũ trụ, không mua sắm hay nghiên cứu vũ khí tiến công chiến lược (tên lửa, máy bay, tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân).

Chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ Việt Nam còn thể hiện kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa"[6]. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”[7].

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được coi là lợi ích cốt lõi và sống còn của toàn Đảng, toàn dân ta. Quyết tâm bảo vệ đến cùng, trong đó khẳng định “kiên quyết, kiên trì” bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc; không để mất đất, mất đảo, mất dân, mất chế độ xã hội chủ nghĩa. “Kiên quyết”, tức là không loại trừ bất kỳ biện pháp, phương cách nào để bảo vệ đến cùng các lợi ích trên. Điều này thể hiện quyết tâm dứt khoát, sự đồng thuận cao hơn, mạnh mẽ hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích của đất nước; kiên quyết giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia - dân tộc.

Cụm từ “kiên trì” cho thấy cuộc đấu tranh của chúng ta không phải là cuộc đấu tranh ngắn ngày, mà là một sự nghiệp lâu dài, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không lơi lỏng, không được mất cảnh giác, không nản lòng, phải nuôi dưỡng ý chí quyết tâm thật cao. Trong quá trình kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, không được nóng vội, manh động, mà phải tận dụng mọi biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế; phải tận dụng mọi kênh, mọi phương thức có thể, không để ảnh hưởng đến nhiệm vụ quan trọng nhất là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.

Phải kiên trì giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận, dù đó là trên bàn đàm phán, đối thoại, trên các diễn đàn ngoại giao, đấu tranh pháp lý, hay trên mặt trận quốc phòng, an ninh, hoặc trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá… Dù ở mặt trận nào, lĩnh vực nào, bất kỳ ở đâu, bất cứ lúc nào cũng phải luôn luôn quan tâm, chú trọng bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này thể hiện nhận thức rõ hơn của Đảng ta về thực tiễn quan hệ quốc tế, trong đó không tranh chấp biên giới, lãnh thổ nào có thể được giải quyết thỏa đáng bằng những biện pháp nhanh chóng.

Thuật ngữ “kiên quyết, kiên trì” vừa thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá, bản lĩnh trước sau như một của toàn Đảng, của Nhà nước, của nhân dân và quân đội ta; đồng thời vừa thể hiện tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh; đây cũng là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, không chủ quan, manh động trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Cụm từ "kiên quyết, kiên trì" thể hiện rõ ý chí quyết tâm chiến lược, sự kiên định, nhất quán, trước sau như một, trước mắt cũng như lâu dài, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, là bằng mọi cách phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây cũng thể hiện mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ “giữ vững môi trường hòa bình” và “bảo vệ vững chắc Tổ quốc”. Nếu giữ vững được môi trường hòa bình, thì chúng ta có thêm bạn, bớt đi kẻ thù, đóng góp trực tiếp vào việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; đồng thời đất nước có thêm cơ hội, thời gian để tăng cường tiềm lực mọi mặt, nhất là tiềm lực quốc phòng để giữ nước từ khi nước chưa nguy. Đây cũng là tín hiệu về trách nhiệm của Việt Nam giữ môi trường khu vực hòa bình, ổn định. Chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững, vận dụng đúng luật pháp quốc tế, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra xung đột, chiến tranh; không để mất ổn định nội bộ; không sử dụng lực lượng vũ trang giải quyết mâu thuẫn nội bộ nhân dân; không mắc mưu khiêu khích, tạo cớ cho thế lực thù địch can thiệp quân sự; không để thế lực có tham vọng lãnh thổ lợi dụng hoặc thỏa hiệp với thế lực thù địch.

Thực hiện phương châm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột để thiết thực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Phát huy truyền thống "giữ nước từ khi nước chưa nguy", quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: "Bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, thấy trước, chuẩn bị trước"[8]. Quan điểm này góp phần thống nhất nhận thức tư tưởng và hành động chủ động giữ nước trong thời bình.

Hòa bình và an ninh thế giới luôn là khát vọng của mọi dân tộc, nhưng hiện nay, thế giới vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh mới, đan xen giữa thách thức an ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống. Nhiều vấn đề vượt ra ngoài dự báo thông thường. Không phải lúc nào Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế cũng được tôn trọng đầy đủ, nghiêm túc. Khi lợi ích cục bộ, chủ nghĩa đơn phương được đẩy cao; khi lòng tin và sự thuận hòa giữa các nước lớn bị đóng băng sẽ xuất hiện những cơn “sóng ngầm” đe dọa an ninh, lợi ích, gây quan ngại cho các quốc gia nhỏ, yếu hơn. Những khác biệt lớn về lợi ích, toan tính chính trị là rào cản quá lớn để có thể tháo gỡ những nút thắt cho nền hòa bình bền vững của nhân loại. Cuộc tranh giành hay thỏa hiệp về quyền lực, uy thế và lợi ích chiến lược giữa các cường quốc lúc nào cũng xảy ra, chỉ có phương tiện, phương thức chiến tranh, xung đột là thay đổi theo tình hình. Do đó, cần xây dựng tổ chức biên chế quân đội, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và mua sắm vũ khí, trang bị, bảo đảm theo tinh thần tinh, gọn, mạnh, đáp ứng với chiến tranh hiện đại trong điều kiện mới.

Tư tưởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh cần được vận dụng linh hoạt, sáng tạo. Cái “bất biến” là lợi ích chính đáng của chúng ta được lịch sử, luật pháp quốc tế và cộng đồng quốc tế thừa nhận. Lấy cái “bất biến” đó để xử lý muôn vạn tình huống của diễn biến tình hình khu vực, quan hệ của ta với các nước. Trong cuộc cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn hiện nay, cũng như trong quan hệ với các nước lớn khác, các nước láng giềng, chúng ta phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lợi ích quốc gia dân tộc, điều gì có lợi và điều gì bất lợi cho ta. Nắm chắc điều “bất biến”, chúng ta tự tin lựa chọn những giải pháp để đảm bảo lợi ích của mình. Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại của dân tộc ta. Quy luật đó ngày nay được thể hiện ở hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhận thức rõ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, các hoạt động của Đảng, Nhà nước, nhân dân, của các lực lượng vũ trang, trong đó bao hàm hoạt động chuẩn bị lực lượng, huấn luyện sẵn sàng các phương án và chiến đấu thắng lợi; sớm phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hoá mọi âm mưu, hoạt động chống phá của thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Bên cạnh đó, chủ động các chiến lược bảo vệ bên trong; phòng chống, ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố phá hoại, gây mất ổn định.

Luôn chủ động hành động bảo vệ từ trước, từ sớm chủ quyền biên giới, vùng trời, biển, đảo, lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia. Chú ý các biện pháp ngăn ngừa, phát hiện từ sớm, hạn chế từ trước, giảm thiểu các nguy cơ gây tổn hại đến lợi ích đất nước. Cần nghiên cứu, hoàn thiện các chiến lược tự bảo vệ; khai thác, tận dụng mọi lợi thế, làm cho mình mạnh lên toàn diện. Luôn tạo ra ưu thế chiến lược cho phát triển kinh tế, giữ vững chủ quyền, bảo vệ hoà bình, ổn định của đất nước.

Thực hành "thêm bạn bớt thù”, quán triệt phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước, phấn đấu vì hoà bình, ổn định, phát triển”, vì lợi ích chung của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời, lợi ích quốc gia, xâm hại tính mạng, tài sản của nhân dân, doanh nghiệp, đối tác.

Trên cơ sở mục tiêu tối cao, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; góp phần bảo đảm không dẫn đến đối đầu, cô lập, không dẫn đến xung đột vũ trang, chiến tranh. Đồng thời khéo kết hợp phương thức song phương và đa phương nhằm giải quyết các bất đồng, tranh chấp.

Nâng cao nhận thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, đó là sự kế thừa và phát huy truyền thống chủ động giữ nước trong thời bình của cha ông. Chủ động giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, phát triển; không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trước mọi hành động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo, vùng trời, lợi ích quốc gia, dân tộc. Có phương án sẵn sàng, nguồn lực đủ mạnh để ứng phó chủ động, vững vàng trước các tình huống khó khăn, phức tạp; giảm thiểu thấp nhất thiệt hại; nhanh chóng ổn định phát triển ngành, lĩnh vực, đất nước.

Ưu tiên bảo vệ các nhiệm vụ trọng yếu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước tiên, giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đảng, bộ máy chính quyền Nhà nước các cấp trong sạch, vững mạnh; không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gắn phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng an ninh, đối ngoại.

Chủ động, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng và hành động sai trái, thù địch hạ thấp, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tố quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh là yếu tố then chốt, là cơ sở chính trị - pháp lý của công cuộc giữ nước hiện nay. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động xâm phạm chủ quyền, biển, đảo, vùng trời, lợi ích quốc gia, các hoạt động chống phá chế độ.

Mọi ngành, mọi lĩnh vực, địa phương đều phải đề ra phương châm và chủ động đấu tranh với nhiều hình thức, nội dung sáng tạo, linh hoạt, cụ thể. Bất cứ ở đâu, khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia, độc lập, thống nhất dân tộc, lợi ích của Tổ quốc, nhân dân bị xâm phạm đều phải tổ chức đấu tranh. Phải chủ động xây dựng “…vững mạnh toàn diện cả về tiềm lực, lực lượng, thế trận, trên các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế…, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; trong đó, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên: lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, xây dựng xã, phường, thị trấn vững mạnh toàn diện làm nền tảng, gắn bó chặt chẽ, liên hoàn với các thành phần, thế trận của khu vực phòng thủ cấp huyện, tỉnh”[9].

Cơ quan quân sự các cấp cần chủ động nghiên cứu chuẩn bị phương án, kế hoạch xây dựng ngay từ thời bình một số công trình cơ bản trên các vùng chiến lược trong quá trình thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng  đầu tư xây dựng một số công trình phòng thủ, phòng ngự kiên cố, hệ thống hầm ngầm, công sự chiến đấu, hào cơ động, hệ thống vật cản, khu hậu cần - kỹ thuật…Khi xảy ra chiến tranh, nhanh chóng huy động các nguồn lực tại chỗ, xây dựng, bổ sung hoàn chỉnh, đap ứng yêu cầu, nhiệm vụ chiến đấu.

Bên cạnh đó, sớm phòng ngừa, phát hiện, triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong, các biểu hiện “cách mạng sắc màu” có thể gây ra đột biến. Đi liền với các chiến lược xây dựng, phát triển của mọi lĩnh vực, ngành, vùng, tổ chức, con người là các chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong; phòng chống, ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài. Luôn chủ động hành động bảo vệ từ trước, từ sớm chủ quyền biên giới, vùng trời, biển, đảo, lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - các nhân tố quyết định bản chất của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, các mục tiêu trọng tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.

(xem tiếp phần II)

[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 23.

[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 14, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 285;

[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 13, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 539;

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 445;

[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 6, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 522;

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội, tr. 145-146.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội, tr.157.

[8] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 317.

[9] Bộ Chính trị (2008), Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới.