Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) đến Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946) và buổi đầu phát triển đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhà hát Lớn Hà Nội - nơi diễn ra Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946

Tại Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng ngày 25/3/1943, Đảng đã ra nghị quyết riêng đầu tiên về văn hóa, văn nghệ, trong đó chủ trương “Đảng cần phải phái cán bộ chuyên môn về hoạt động về văn hóa, đặng gây ra một phong trào văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc, chống lại văn hóa phát xít thụt lùi… phải gây ra những tổ chức văn hóa cứu quốc và phải dùng những hình thức công khai hay bán công khai đặng đoàn kết các nhà văn hóa trí thức” (1).

Trong Hội nghị nói trên, Đề cương về văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo, được Thường vụ Trung ương Đảng thông qua, lưu hành trong hoàn cảnh bí mật.

Với Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943), lần đầu tiên Đảng tập trung trình bày những quan điểm mácxít - lêninnít cơ bản về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của việc phải cấp bách triển khai xây dựng và phát triển nền văn hóa mới do giai cấp vô sản lãnh đạo, trước mắt là đấu tranh chống lại những ảnh hưởng tai hại của văn hóa phát xít của Pháp - Nhật, từng bước xây dựng một nền văn hóa Việt Nam mới phù hợp với tiến trình của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, để trong điều kiện thuận lợi nhất, tiến lên xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô đã và đang thực hiện có kết quả.

Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) đã cắm một cái mốc khởi đầu có ý nghĩa trọng yếu, tiên quyết, thể hiện tầm nhìn chiến lược xa rộng của Đảng cấp bách trong tình hình hiện tại phải tích cực chuẩn bị cho việc kiến tạo, đi trước một bước, tiến hành một cuộc cách mạng về tư tưởng và văn hóa mới, bởi như Lênin đã dạy “Văn hóa một khi đã vào sâu đại chúng, cũng tác động như một sức mạnh vật chất”.

Quán triệt nguyên lý mácxít, Đảng ta khẳng định: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động. Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo”; đề ra ba nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học, đại chúng - tức những vấn đề thiết cốt văn hóa phải tập trung là: gần gũi và phát huy bản sắc dân tộc; thể hiện tư tưởng tiên tiến khoa học của nhân loại và hướng về quần chúng nhân dân lao động mà phục vụ, giúp họ nâng cao trình độ thưởng thức và hưởng thụ các giá trị văn hóa cao đẹp; xác định mục tiêu xây dựng nền văn hóa mới cần phải trải qua 2 bước nối tiếp nhau một cách vững chắc: văn hóa có tính chất dân chủ nhân dân (trước mắt) rồi tiến lên một bước cao hơn: văn hóa xã hội chủ nghĩa”(2)…

Triển khai thực hiện các nội dung cơ bản mà Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) đã nêu ra, ngay sau Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng nói trên, Đảng trên báo chí bí mật và công khai đã tiến hành những cuộc đấu tranh không khoan nhượng về tư tưởng và học thuật với những quan điểm phản động - lỗi thời của phát xít Pháp - Nhật và bè lũ tay sai lôi kéo, áp đặt; khéo léo tìm cách xuất bản qua mặt lưỡi kéo, kiểm duyệt của bọn thực dân những công trình lý luận văn học và mỹ học theo quan điểm mácxít - lêninnít (Văn học khái luận - 1944 của Đặng Thai Mai, trên tạp chí Văn mới của nhà xuất bản Hàn Thuyên), đồng thời bí mật phổ biến Đề cương về văn hóa Việt Nam trong các tổ chức, nhóm Văn hóa cứu quốc ở các thành phố, đô thị lớn, do các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ tiêu biểu, được giác ngộ làm nòng cốt.

Việc khẩn trương tổ chức các cấp của Hội Văn hóa cứu quốc từ các địa phương, cơ sở tỉnh thành, miền vùng, khu vực còn được tiếp tục mở rộng cả sang những năm đầu sau cách mạng tháng 8/1945.

Hội văn hóa cứu quốc mà nòng cốt là các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ giác ngộ sớm, tiến bộ, hướng về cách mạng và dân tộc đã xúc tiến xuất bản cơ quan ngôn luận của Hội là tạp chí Tiên Phong, ra được 24 số từ số 1 (10/11/1945) đến số 24 (01/12/1946), và sau Cách mạng tháng 8/1945 đã tổ chức được 2 lần Đại hội văn hóa cứu quốc (lần thứ nhất, Đại hội ra mắt tháng 9/1945; lần thứ 2 Đại hội trong 3 ngày 11, 12 và 13/10/1946 tại Hà Nội) để ủng hộ việc lập mặt trận văn hóa thống nhất toàn quốc để tập hợp rộng rãi hết thảy mọi lực lượng văn hóa của dân tộc, đoàn kết mọi tầng lớp nhà văn hóa, nhà khoa học - giáo dục và văn nghệ sĩ thành tâm “chống đế quốc, chống thực dân phản động, mở rộng văn hóa trong đại chúng và khơi ngòi cho một phong trào văn hóa mới, một văn nghệ tiên phong chân chính” (3).

Trước và trong Đại hội văn hóa cứu quốc lần thứ 2, Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam mà Ban chấp hành mới được Đại hội bầu ra gồm 14 người do nhà văn Đặng Thai Mai làm Chủ tịch, Hoài Thanh làm Tổng Thư ký, Phó Tổng Thư ký là Tố Hữu và Nguyễn Huy Tưởng(4), đã đóng vai trò là lực lượng tích cực vận động cho việc tổ chức Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, lúc đầu dự kiến Hội nghị này sẽ họp vào tháng 10/1946.

Chủ trương tiến hành Hội nghị văn hóa toàn quốc, với hoạt động không mệt mỏi của Ủy ban vận động Hội nghị, sau hơn 1 năm đã đi tới quyết định triệu tập cuộc họp lần thứ nhất tại Hà Nội vào tuần cuối của tháng 11/1946, tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội với một nội dung được chuẩn bị công phu, phân công chu đáo, thông báo trước khá tỉ mỉ, đáp ứng sự mong đợi của cả giới.

Có thể nói, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất này là một sự kiện quan trọng của đời sống văn hóa đất nước, vì được thực hiện theo chủ trương của Đảng, nhằm thành lập một tổ chức văn hóa mới là Hội Văn hóa Việt Nam dần dần thay thế cho Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam, để phù hợp với tình hình mới của đất nước Việt Nam độc lập với nhà nước dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, làm chủ mọi hoạt động của đất nước.

Hồ Chủ tịch và một số Bộ trưởng thành viên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đến dự Hội nghị rất quan trọng và có ý nghĩa lớn lao này.

Bác Hồ đã phát biểu tại phiên họp buổi sáng của Hội nghị trong thời gian 40 phút. Bài phát biểu của Bác tuy không ban hành thành văn bản, đã được tốc ký, rồi được báo Cứu quốc (số ra ngày 25/11/1946) - cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh tường thuật khá đầy đủ, sau này được in vào các sách tập hợp ý kiến của Hồ Chí Minh bàn về công tác văn hóa, văn nghệ, làm cơ sở cho công tác nghiên cứu. Nhưng do tình hình Pháp gây hấn với dã tâm chiếm lại đất nước ta một lần nữa, Hội nghị phải thay đổi chương trình: chỉ họp trong 1 ngày (chứ không phải 1 tuần lễ như dự kiến ban đầu) để sau đó hơn 200 đại biểu kịp trở về địa phương triển khai các công việc cấp bách về tổ chức kháng chiến.

Báo Cứu quốc số 416 ra ngày 25/11/1946 là một trong những tài liệu hiếm hoi viết về Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất còn lưu giữ được hiện

Trước nay chúng ta tập trung nghiên cứu về Đề cương về văn hóa Việt Nam - văn kiện mở đầu của đường lối văn hóa, văn nghệ Việt Nam, điều đó là đúng và cần thiết. Đến nay, chúng ta cần đồng thời nhận rõ tầm quan trọng của Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946) và sau đó là Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (Việt Bắc - 7/1948). Vì cả 2 hội nghị này đã thể hiện sự phát triển đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng được khởi thảo từ Đề cương về văn hóa Việt Nam, mà phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tại Hội nghị lần thứ nhất), thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh (gửi Hội nghị lần thứ 2) cũng như qua Bản báo cáo của đồng chí Trường Chinh - trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng - với nhan đề Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam(5) là rất quan trọng. Một số luận điểm mới về văn hóa văn nghệ Việt Nam trong bối cảnh của công cuộc kháng chiến kiến quốc, do Đảng lãnh đạo và Nhà nước và Chính phủ của nhân dân điều hành, được trình bày trong 2 Hội nghị này đã được phát triển sâu sắc thêm một bước so với Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943). Và có thể nói là những ý kiến đó góp phần hoàn thiện Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân khi chính quyền đã thuộc về nhân dân, do nhân dân làm chủ.

Các Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 1 và lần thứ 2 với sự ra đời của Hội Văn hóa Việt Nam và tiếp đó là Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng đã chứng tỏ về mặt tổ chức chúng ta đã đi đến một cách làm đúng và kịp thời đó là phải tổ chức các lực lượng văn hóa, văn nghệ của cả nước thành một tổ chức thống nhất, là thành viên của mặt trận dân tộc thống nhất. Có như thế, mới huy động được hết thảy trí tuệ, sức mạnh và đóng góp của toàn dân, toàn thể giới văn hóa, văn nghệ sĩ không phân biệt thế hệ, đảng phái, chính kiến học thuật, giới tính, dân tộc… để nhất quán định hướng về quan điểm, hành động cho văn hóa, văn nghệ kiên định thực hiện vẫn trên nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng mà nhằm vào mục tiêu thiết thực lúc này là phụng sự dân tộc, phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, thực hành khẩu hiệu Bác Hồ kêu gọi: “Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa”. Mặt khác, văn hóa văn nghệ Việt Nam cũng tích cực đóng góp và cống hiến xứng đáng vào mặt trận văn hóa dân chủ, chống đế quốc của toàn thế giới. Văn hóa Việt Nam không biệt lập mà từ nay bước vào quỹ đạo hội nhập với văn hóa của thế giới dân chủ, hòa bình, tiến bộ và văn minh.

Như vậy là, tiếp sau việc công bố Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) và sự thành lập Hội Văn hóa cứu quốc, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, thì với việc tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất và lần thứ hai liên tiếp trong các năm 1946, 1948 với sự thành lập Hội văn hóa toàn quốc Việt Nam và Hội Văn nghệ Việt Nam trong năm 1948 cùng với sự chỉ đạo qua những ý kiến của Hồ Chủ tịch và đồng chí Trường Chinh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến thêm một bước trong việc bước đầu phát triển và hoàn thiện quan điểm, đường lối về văn hóa văn nghệ cũng như tổ chức hoạt động văn hóa văn nghệ một cách công khai, rộng rãi, thống nhất quy về một mối đoàn kết chặt chẽ.

Dưới đây, trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi xin được phép tổng hợp những quan điểm cơ bản chỉ đạo sự phát triển của văn hóa, văn nghệ do Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung, hoàn thiện thực hiện trong buổi đầu của cách mạng và nền dân chủ mới được thiết lập. Đó là sự thấm nhuần những nguyên lý của mỹ học Mác - Lênin vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển, bổ sung phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội và hoạt động văn hóa của một đất nước đã bước sang một kỷ nguyên mới: độc lập, tự do, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

1. Văn hóa, văn nghệ là một trong những mặt trận quan trọng, không thể thiếu được của sự nghiệp cách mạng, có tầm quan trọng ngang nhau cùng với chính trị và kinh tế, góp phần xây dựng xã hội mới mà độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc là những quyền cơ bản nhất mà con người được hưởng.

Ở đây có điểm cần làm rõ: nói về vị trí thì văn nghệ, văn hóa ngang hàng, cùng có tầm quan trọng như chính trị, kinh tế, xã hội, nhưng về mặt quan hệ thì văn hóa, văn nghệ có mối liên hệ mật thiết với chính trị, kinh tế, “không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” như Bác Hồ đã chỉ ra. Nếu kinh tế và chính trị tạo ra nền tảng cơ sở vật chất và thiết chế nhà nước duy trì sự phát triển sống còn của xã hội, “có thực mới vực được đạo”, thì văn hóa, văn nghệ, ở một phương diện khác, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, tức một xã hội có đời sống văn hóa tinh thần phát triển cao, lành mạnh, con người phát triển toàn diện, phát huy vai trò làm chủ xã hội, đảm bảo được tôn trọng các quyền chính đáng của con người, trong đó có quyền sáng tạo các giá trị văn hóa và hưởng thụ các giá trị đó do mình làm ra.

Một xã hội hài hòa, một con người hài hòa, thì các phương diện vật chất và tinh thần cần được phát triển đồng bộ. Văn hóa, văn nghệ chính là đã góp phần quan trọng vào sự hài hòa ấy: nó làm cho con người, xã hội có một nền tảng tinh thần chắc chắn, lành mạnh, hòa nhịp phát triển với đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, giàu mạnh.

2. Văn hóa là mục đích, cũng là động lực của sự phát triển xã hội, chủ yếu nhằm vào xây dựng con người mới cho xã hội mới.

Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) chưa có điều kiện đề cập đến khía cạnh cải tạo tư tưởng, đào tạo con người mới phát triển toàn diện của văn hóa, văn nghệ.

Trong hoàn cảnh lịch sử mới, Đảng ta chỉ rõ, văn hóa, văn nghệ do đặc thù của tư duy về loại hình và phương tiện, ngôn ngữ biểu đạt, nó là một công cụ sắc bén, vũ khí lợi hại nhằm vào con người, vì con người.

Văn hóa, văn nghệ là sự nghiệp trồng người, mà sự nghiệp này là công việc lâu dài, đòi hỏi phải kiên trì, vượt khó “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người là kết quả của lao động sáng tạo, là sinh thể của tư duy, là chủ thể của hành động.

Qua các văn kiện ở các thời kỳ tiếp sau của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta tiếp tục hoàn thiện tư tưởng, xây dựng con người của văn hóa Việt Nam theo các tiêu chí hài hòa, toàn diện: kết hợp trí, đức, thể, mỹ; kế thừa tinh hoa truyền thống và ưu tú, tiên tiến của nhân loại; phát huy bản sắc dân tộc với giao lưu quốc tế rộng rãi, thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn có tính toàn nhân loại; thân thiện với đồng loại, “thương người như thể thương thân” mà không ích kỷ, vụ lợi, rơi vào chủ nghĩa sô-vanh biệt phái, hẹp hòi hoặc trịch thượng; thượng tôn những phẩm chất cao quý: yêu Tổ quốc, đồng bào, sống tình nghĩa chung thủy có trước có sau, yêu lao động, trọng danh dự, nhân cách trung thực “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hòa hợp với cộng đồng xã hội, với thiên nhiên và môi trường…(6).

3. Phải luôn luôn quán triệt quan điểm quần chúng, quan điểm nhân dân trong công cuộc xây dựng nền văn hóa, văn nghệ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở văn hóa, văn nghệ phải áp sát vào đời sống hiện thực của nhân dân, thể hiện tính thiết thực mà không vụ lợi, vị kỷ của nó. Người yêu cầu lúc này phải để tâm “xây dựng nền văn hóa kháng chiến kiến quốc thiết thực và rộng rãi”, phải chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa thực hiện phương châm “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”(7) - tức gắn bó sự nghiệp văn hóa và công cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, giúp vào sự thắng lợi của kháng chiến, đồng thời tỏ rõ kháng chiến không chỉ là sự nghiệp của kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội, mà cũng là sự nghiệp của văn hóa, trong đó có sự đóng góp của các giá trị văn hóa để đời cho hôm nay và mai sau trường tồn.

Bác Hồ với Đoàn Ca múa nhân dân. Ảnh tư liệu. Nguồn: baovanhoa.vn

Nền văn hóa mới phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, xây dựng những con người mới sống có lý tưởng vì độc lập, tự do, vì nước quên mình xả thân cho những điều thiêng liêng cao cả và tích cực tham gia vào công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, xa hoa, lãng phí. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận ra tác hại to lớn của tham nhũng và tiêu cực đối với sự phát triển của đất nước, nên Người ngay trong buổi đầu của nền dân chủ cộng hòa non trẻ đã nhắc nhở văn hóa phải góp phần tích cực của mình trong việc ngăn chặn các nguy cơ lớn nói trên đối với kiến thiết xã hội mới.

Và tiếp tục phát triển tư tưởng về đảm bảo dân quyền trong văn hóa, giúp nhân dân được hưởng những phúc lợi do văn hóa mang lại mà trong định nghĩa về văn hóa năm 1943 Người đã chỉ rõ, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, một lần nữa Người lại nhắc nhở những điều quan trọng thể hiện tầm nhìn khải thị, tư tưởng lấy lợi ích nhân dân làm lợi ích cao nhất để phục vụ. Người nói: “Văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng”(8).

Cho đến nay, những tư tưởng nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt sâu sắc tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và những phát biểu gần đây của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng cần đảm bảo dân quyền trong hưởng thụ các phúc lợi xã hội mà họ đã bỏ bao công sức đóng góp không nề hà, rằng không chỉ chống tham nhũng về kinh tế là đủ, mà còn phải chống tiêu cực về tư tưởng, đạo đức và lối sống nữa.

Ở đây, có thể nhận thấy thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những phát biểu của Người tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946) qua thư gửi Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (15/7/1948), bởi Người đã đặt ra những điều căn cốt nhất, nền tảng vững chắc để xây dựng văn hóa mới, văn hóa vị nhân sinh, phục vụ nhân dân lao động - chủ thể sáng tạo và chủ thể hưởng thụ, về tính chất dân tộc đặc thù, tiên tiến và nhân văn của nền văn hóa mới mà chúng ta phải dụng công xây dựng và phát triển (…)

Kết luận

Trên đây là một số nhận xét tóm tắt, tổng hợp, chưa được đầy đủ về những nội dung các quan điểm về văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ yếu từ văn kiện đầu tiên Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) đến những năm đầu sau Cách mạng tháng 8 với Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946) rồi lần thứ hai (7/1948) qua ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh lúc đó là Tổng Bí thư của Đảng.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946), trong đó Hồ Chủ tịch đến dự phát biểu khai mạc chỉ đạo với những quan điểm khải thị về văn hóa (“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, “văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, phải “đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”, “văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam… ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng”) (9), có thể nói, trong khoảng 5 năm đầu từ 1943 đến 1948, đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiến tạo được những nền tảng căn cốt nhất, những định hướng chính xác và đúng đắn, để những giai đoạn tiếp sau đó, đường lối ấy được không ngừng bổ sung, hoàn thiện đóng góp quý báu vào sự phong phú của mỹ học và lý luận văn nghệ mácxít - lêninnít trên thế giới, từ thực tiễn của đời sống đặc biệt của xã hội Việt Nam trong bối cảnh quốc tế phức tạp, hơn 70 năm qua./.

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC THIỆN

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

Chú thích:

(1) Văn kiện Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.397.

(2) Đề cương về văn hóa Việt Nam, Tạp chí Tiên Phong số 1 (tái bản). Trong: Sưu tập trọn bộ Tiên Phong (1945 - 1946), tập I, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996, tr.32 - 34.

(3) Đặng Thai Mai - Hiệu triệu các đồng chí Văn hóa cứu quốc. Tạp chí Tiên Phong, sách đã dẫn, tập II, tr.745-746.

(4) Tiên Phong, sách đã dẫn, tập II, tr.868.

(5) Năm 1974, Nxb. Sự thật, Hà Nội khi tái bản tác phẩm này đã được đồng chí Trường Chinh cho sửa lại tên gọi của bản Báo cáo là Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam. Theo nhà văn Hà Xuân Trường, bản báo cáo này trước khi trình bày tại Hội nghị, đã được Bác Hồ và Thường vụ Trung ương góp ý, thông qua.

(6) Nghị quyết TW 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (1998); Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị khóa X về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” (2008); Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành TW 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

(7) Hồ Chí Minh - sách đã dẫn, tr.17.

(8) Hồ Chí Minh - sách đã dẫn, tr.72.

(9) Hồ Chí Minh - sách đã dẫn, tr.72.