Một số điểm mới nổi bật trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân
Thực hiện các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ về tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), thời gian qua, các cơ quan Trung ương, Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đã triển khai nhiệm vụ này một cách nghiêm túc, đồng bộ, dân chủ, khoa học, công khai, minh bạch, chuyên sâu, bảo đảm thực chất và hiệu quả với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.
Tính đến hết ngày 02/4/2023, đã có 11.685.461 lượt ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý vào dự thảo Luật được tập hợp gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường, tập trung vào các nhóm vấn đề sau: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Tài chính đất đai, giá đất; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Chế độ sử dụng đất; Thu hồi đất, trưng dụng đất; Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận; Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Đa số ý kiến Nhân dân đánh giá: (i) Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) đã được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, có nhiều điểm đổi mới; (ii) Phù hợp với các quan điểm, định hướng đổi mới chính sách pháp luật về đất đai theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Hội nghị Trung ương 5 - khoá XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao; (iii) Phù hợp với quy định của Hiến pháp, các điều ước quốc tế và các Luật có liên quan, kể cả những dự thảo Luật đang trong quá trình sửa đổi; (iv) Đã cơ bản giải quyết được các tồn tại, vướng mắc hiện nay; (v) Đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước; (vi) Góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai.
Các ý kiến góp ý đã được nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu để hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Bố cục của Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân gồm 16 chương, 246 điều, trong đó tăng 3 mục (Mục 1, Chương VII và Mục 1, 2 chương XVI), bổ sung mới 22 điều, bỏ 12 điều. Những điểm mới nổi bật của Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân như sau:
(1). Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhấn mạnh yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đảm bảo sự phù hợp, thống nhất, đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa các quy hoạch quốc gia cũng như quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất thúc đẩy lẫn nhau để phát triển.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được lập ở 3 cấp (quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện) phải đáp ứng yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tăng cường công khai, minh bạch, sự tham gia của người dân trong công tác lập quy hoạch sử dụng; bổ sung, hoàn thiện các quy định về việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối trong các khu vực quy hoạch; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong rà soát, xử lý và công bố công khai việc hủy bỏ, thu hồi đất, chuyển mục đích đối với đất đã được ghi trong kế hoạch sử dụng đất. Bổ sung quy định về tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
(2). Về các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Tiếp thu các ý kiến góp ý, cơ quan soạn thảo sửa đổi toàn bộ nội dung của Điều 75 theo hướng Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nhằm phát huy nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn di sản văn hóa. Quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất đối với các loại công trình công cộng từng lĩnh vực; thu hồi đất để xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, công trình sự nghiệp và một số trường hợp thật cần thiết khác như: dự án nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư; dự án tái định cư; khu công nghiệp, cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án thăm dò, khai thác khoáng sản; dự án lấn biển; thu hồi đất để giao tổ chức phát triển quỹ đất,… nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng, cơ sở lưu trữ tro cốt, xây dựng cơ sở tôn giáo…
Về thẩm quyền thu hồi đất quốc phòng, an ninh
Tiếp thu ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án:
- Phương án 01: Giữ nguyên thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp thu hồi đất quốc phòng, an ninh thì phải có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
- Phương án 02: Thủ tướng Chính phủ quyết định thu hồi đất quốc phòng, an ninh để thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và văn bản chấp thuận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an.
(3). Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đây là nội dung quan trọng nhận được nhiều ý kiến góp ý. Cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, rà soát tiếp thu để quy định trong dự thảo Luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất thu hồi, tạo sự đồng thuận, giảm khiếu nại, khiếu kiện, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương dễ áp dụng, đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Cụ thể như sau:
- Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Người có đất bị thu hồi được bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, cây trồng, vật nuôi, chi phí đầu tư vào đất, thiệt hại do ngừng sản xuất, kinh doanh; được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở; giá đất bồi thường là giá đất cụ thể của loại đất thu hồi tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Khu tái định cư phải hoàn thiện các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; phải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất bị thu hồi.
- Đa dạng hóa hình thức bồi thường, quy định trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư và trách nhiệm của các cấp chính quyền, cơ quan ở từng bước công việc, quy định về việc phối hợp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và đơn vị, tổ chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Về hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm
Trong quá trình lấy ý kiến, một số ý kiến cho rằng quy định đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm là chưa phù hợp, công bằng với đối tượng không trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án như sau:
- Phương án 01: giữ nguyên như quy định pháp luật về đất đai hiện hành, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm chỉ áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
- Phương án 02: mở rộng đối tượng được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm là hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường và đã được bồi thường bằng tiền.
(4). Về giá đất
Liên quan đến nội dung này, cơ quan soạn thảo đã tiếp thu làm rõ nguyên tắc định giá đất, giá đất thị trường, căn cứ định giá đất, thông tin đầu vào để xác định giá đất theo các phương pháp. Theo đó, việc định giá đất phải bảo đảm các nguyên tắc: phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường; tuân thủ đúng phương pháp, trình tự, thủ tục định giá đất; bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch; bảo đảm tính độc lập trong việc xác định giá đất, thẩm định giá đất, quyết định giá đất. Căn cứ xác định giá đất bao gồm: mục đích sử dụng đất; thời hạn sử dụng đất; thông tin đầu vào để xác định giá đất theo các phương pháp; các yếu tố khác ảnh hưởng đến giá đất.
Thông tin đầu vào để xác định giá đất theo các phương pháp phải đảm bảo: giá đất được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đã được công chứng, chứng thực; giá đất trúng đấu giá quyền sử dụng đất mà không chịu tác động của các yếu tố gây tăng hoặc giảm giá đột biến, giao dịch có quan hệ huyết thống hoặc có những ưu đãi khác được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Đối với trường hợp chưa có thông tin giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai thì thu thập thông tin giá đất qua điều tra, khảo sát, thông tin về doanh thu, chi phí, thu nhập từ việc sử dụng đất theo thị trường.
Về bảng giá đất, cơ quan soạn thảo đã bổ sung quy định về chuyển tiếp thực hiện theo hướng tiếp tục sử dụng bảng giá đất hiện hành đến hết 31/12/2025. Các địa phương có thời gian từ khi Luật có hiệu lực thi hành đến ngày 31/12/2025, đủ thời gian để xây dựng, ban hành bảng giá đất mới theo yêu cầu của Luật; đồng thời, việc ban hành bảng giá đất các năm tiếp theo được hướng dẫn cụ thể theo hướng những khu vực, loại đất có biến động thì mới phải cập nhật giá đất cho phù hợp với thị trường.
Đồng thời, Dự thảo Luật cũng sửa đổi quy định các nguồn thu ngân sách từ đất đai, quy định việc điều tiết nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giữa Trung ương và địa phương thực hiện. Sửa đổi và quy định chi tiết việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Quy định Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phải phê duyệt quyết định giá đất trong thời gian không quá 180 ngày kể từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, điều chỉnh quy hoạch chi tiết.
(5). Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Dự thảo Luật hoàn thiện các quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Trong đó chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; các trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất, được quy định chặt chẽ cụ thể.
Về trường hợp cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần
Dự thảo Luật lấy ý kiến Nhân dân quy định hình thức cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê chỉ áp dụng đối với các trường hợp gồm: (1) Sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; (2) sử dụng đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Đối với các trường hợp còn lại thì Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm....
Có ý kiến đề nghị bổ sung các dự án sử dụng đất thương mại dịch vụ có nhà nghỉ dưỡng và đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch, đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh vào trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án:
- Phương án 01: Giữ nguyên 02 trường hợp cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê như quy định của dự thảo Luật xin ý kiến Nhân dân.
- Phương án 02: Bổ sung trường hợp sử dụng đất thương mại dịch vụ có nhà nghỉ dưỡng và đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch, đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh vào trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
Về hình thức giao đất, cho thuê đất cho đơn vị sự nghiệp công lập
Một số ý kiến đề nghị cho đơn vị sự nghiệp công lập được giao đất không thu tiền sử dụng đất mà không phân biệt tự chủ hay chưa tự chủ tài chính; đối với tổ chức sự nghiệp công lập được lựa chọn hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm để linh hoạt trong quá trình sử dụng đất. Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án như sau:
- Phương án 01: sửa đổi Điều 114 theo hướng không phân biệt đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hay chưa tự chủ tài chính; sửa đổi Điều 32, Điều 115 và Điều 116 của Dự thảo Luật theo hướng, quy định tổ chức sự nghiệp công lập được lựa chọn hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm. Đối với trường hợp trả tiền thuê đất hàng năm thì có quyền như của tổ chức kinh tế thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm.
- Phương án 02: giữ như quy định tại dự thảo lấy ý kiến Nhân dân.
Về trường hợp giao đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất liên quan đến các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đề nghị bổ sung một số đối tượng thuộc lực lượng quốc phòng, an ninh được giao đất ở không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án:
- Phương án 01: giữ như quy định của dự thảo lấy ý kiến Nhân dân.
- Phương án 02: bổ sung các đối tượng như: cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan tại ngũ, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng; sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân công an; người làm công tác cơ yếu và người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách mà chưa được giao đất ở, nhà ở; xây dựng nhà ở cho lực lượng vũ trang, người lao động tại các khu công nghiệp, nhà ở xã hội và nhà ở công vụ.
Về sử dụng đất để thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc thỏa thuận về quyền sử dụng đất
Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm các loại đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để thực hiện dự án thực hiện dự án đô thị, nhà ở thương mại, khu dân cư nông thôn. Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án như sau:
- Phương án 01: giữ như quy định dự thảo lấy ý kiến Nhân dân. Theo đó đối với trường hợp sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở thương mại thì được thỏa thuận về quyền sử dụng đất ở hoặc đất ở và đất khác không phải là đất ở.
- Phương án 02: bổ sung thêm trường hợp đất phi nông nghiệp không phải là đất ở đã nộp tiền sử dụng đất hoặc hoặc nộp tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án nhà ở thương mại.
(6). Về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận và các thủ tục hành chính, dữ liệu, thông tin đất đai
Với mục tiêu nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công về đất đai và chia sẻ thông tin đất đai với các bộ, ngành, tổ chức, cá nhân; đồng thời tạo nền tảng dữ liệu phục vụ triển khai, vận hành Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số thì quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được thiết lập ở Bộ Tài nguyên và Môi trường và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành một hệ thống thống nhất, liên thông. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm thiết lập hạ tầng kỹ thuật số để vận hành nền tảng dữ liệu; xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai do trung ương quản lý. Ủy ban nhân dân các tỉnh chịu trách nhiệm xây dựng, cập nhật dữ liệu do địa phương quản lý.
Về cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 2 phương án:
- Phương án 01: Quy định thay đổi mốc thời gian sử dụng đất để xem xét cấp Giấy chứng nhận cho các trường hợp đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất đến trước ngày 01/7/2014.
- Phương án 02: Quy định thay đổi mốc thời gian sử dụng đất để xem xét cấp Giấy chứng nhận cho các trường hợp đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Cơ quan soạn thảo cho rằng, việc mở rộng thêm thời hạn sẽ giải quyết được các tồn tại hiện nay, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Tuy nhiên, việc mở thêm thời hạn để công nhận cho các trường hợp này có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa các sai phạm trong việc sử dụng đất.
(7). Về chế độ sử dụng các loại đất
Các ý kiến góp ý tập trung vào thời hạn sử dụng đất, chế độ sử dụng đất nông nghiệp, đất cho hoạt động khoáng sản, đất lâm nghiệp, đất chăn nuôi tập trung, đất sử dụng cho khu công nghệ cao, đất có mặt nước ven biển, đất tôn giáo; đất sử dụng đa mục đích, việc tách thửa, hợp thửa; việc xử lý đất do các công ty nông, lâm nghiệp quản lý, sử dụng…, Cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo cụ thể như sau:
- Bổ sung đất sử dụng ổn định lâu dài đối với đất ở do người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở.
- Bổ sung thời hạn sử dụng đối với đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; Đối với dự án kinh doanh nhà ở thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài.
- Sửa đổi thời hạn cho thuê đất công ích thành 10 năm bằng kỳ quy hoạch sử dụng đất; quy định người sử dụng đất trồng lúa được sử dụng một phần diện tích đất để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, trách nhiệm của các công ty nông, lâm nghiệp trong việc quản lý đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường. Quy định thứ tự ưu tiên được giao đất đối với phần diện tích đất có nguồn gốc từ nông lâm trường đã thu hồi, diện tích đất đã bàn giao về địa phương.
- Bổ sung quy định đối với trường hợp sử dụng đất có mặt nước ven biển để giao vào mục đích sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp, thực hiện dự án lấn biển theo quy hoạch; đồng thời quy định rõ các yêu cầu, điều kiện để thực hiện việc sử dụng đất có mặt nước ven biển để thực hiện dự án lấn biển, trách nhiệm của chủ đầu tư dự án lấn biển, việc thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với dự án lấn biển.
- Quy định rõ các loại đất được sử dụng đa mục đích gồm: (1) Đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và xây dựng kinh tế; (2) Đất nông nghiệp kết hợp với thương mại, dịch vụ, chăn nuôi, sản xuất nông, lâm nghiệp kết hợp trồng cây dược liệu; (3) Đất sử dụng vào mục đích công cộng kết hợp với thương mại, dịch vụ; (4) Đất ở kết hợp với thương mại, dịch vụ và các mục đích khác; (5) Đất có mặt nước kết hợp với sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, thương mại, dịch vụ và các mục đích phi nông nghiệp khác; (6) Đất tôn giáo, đất tín ngưỡng kết hợp với thương mại dịch vụ. Đối với đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất và xây dựng kinh tế; đất nông nghiệp kết hợp với thương mại, dịch vụ; đất có mặt nước kết hợp thương mại, dịch vụ và các mục đích phi nông nghiệp khác thì phải lập phương án sử dụng đất trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Hoàn thiện quy định về chế độ sử dụng đối với đất sử dụng cho khu công nghệ cao, đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất cảng hàng không, sân bay dân dụng, đất dành cho đường sắt và một số loại đất khác cho phù hợp.
(9). Về quyền thuê trong hợp đồng thuê đất hàng năm
Một số ý kiến cho rằng quyền thuê trong hợp đồng thuê đất là một quyền mới trong Luật Đất đai lần này, nếu không có đánh giá kỹ lưỡng có thể dẫn đến nguy cơ bị lợi dụng chính sách để đầu cơ, “chạy” dự án sau đó chuyển nhượng kiếm lợi mà không đầu tư. Tuy nhiên, có ý kiến đồng tình việc mở rộng quyền này để khuyến khích các nhà đầu tư thuê đất trả tiền hằng năm. Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án:
- Phương án 01: Về quyền thuê trong hợp đồng thuê đất hàng năm được thể hiện tại tại Điều 35, Điều 38 và Điều 42 dự thảo lấy ý kiến Nhân dân, cơ quan soạn thảo đã hoàn thiện quy định theo hướng quy định về điều kiện mua bán tài sản gắn liền với đất và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm tại các Điều nêu trên. Đồng thời, đối với từng loại dự án phải phù hợp với pháp luật chuyên ngành như Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản….
- Phương án 02: không quy định quyền thuê trong hợp đồng thuê đất hàng năm.
(10). Về hộ gia đình sử dụng đất
Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân quy định theo hướng bỏ đối tượng là hộ gia đình sử dụng đất vì hiện nay việc xác định các thành viên trong hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, ảnh hưởng đến việc thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất mà trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên của chủ hộ gia đình.
(11). Về quy định chuyển tiếp, điều khoản thi hành
Nhiều ý kiến đề nghị cần rà soát, bổ sung một số quy định chuyển tiếp để giải quyết tồn đọng về quy hoạch sử dụng đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất… Dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến Nhân dân để 02 phương án:
- Phương án 01: Tiếp thu bổ sung một mục (Mục 1 chương XVI gồm 09 Điều từ Điều 235 đến Điều 243), để xử lý chuyển tiếp đối với các trường hợp khi Luật này có hiệu lực thi hành, gồm: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận; tài chính đất đai, giá đất; về thời hạn sử dụng đất; đất quốc phòng, đất an ninh kết hợp với lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; xử lý quyền sử dụng đất của hộ gia đình có trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành...
- Phương án 02: giữ như quy định tại dự thảo lấy ý kiến Nhân dân.
--------------------
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, các ý kiến phù hợp với Hiến pháp, nghị quyết của Đảng, nội dung đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, có đầy đủ cơ sở để thể chế hóa và thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của đa số người dân, tạo nguồn lực cho sự phát triển của đất nước đều đã được tiếp thu thành điều, khoản chi tiết trong Dự thảo Luật. Những ý kiến chưa phù hợp với Hiến pháp, chủ trương chính sách của Đảng, chưa có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thì được giải trình trong Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân./.
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường
