Dân số Việt Nam: Nguồn nhân lực cho thời kỳ phát triển mới, nhanh và bền vững

Quy mô dân số Việt Nam đã đạt mốc 100 triệu người, xếp thứ 15 trong số các quốc gia đông dân nhất thế giới, thứ 8 ở châu Á và thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines). Với cơ cấu dân số vàng gần 60 triệu người trong độ tuổi lao động, Việt Nam trở thành một “cường quốc dân số” xét theo cả quy mô và thứ bậc. Trong bối cảnh các nước đều coi nguồn nhân lực là một lợi thế quốc gia, Việt Nam có những cơ hội to lớn cho thời kỳ phát triển mới, nhanh và bền vững của đất nước.

Việt Nam có nhiều khả năng thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với nguồn lao động khỏe mạnh, có trình độ học vấn và tay nghề cao, tư duy đổi mới sáng tạo. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

1. Dân số nước ta đã tăng hơn gấp đôi, từ 48 triệu dân năm 1976 lên 100 triệu dân vào tháng 4/2023. Có thể thấy Việt Nam đã trở thành một cường quốc về dân số theo cả quy mô và thứ bậc. Không chỉ trở thành nước có quy mô dân số lớn, từ năm 2007, với tỷ số phụ thuộc chung dưới 50%, nghĩa là cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi) thì có hai người hoặc hơn trong độ tuổi lao động (từ 15 - 60 tuổi), Việt Nam cũng chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”.

Lực lượng lao động cả nước có 52,2 triệu người, tăng hơn một triệu người so với cùng kỳ năm trước (theo số liệu đầu năm 2023). Những điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam có một thị trường nội địa rộng lớn, khả năng thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn với nguồn lao động khỏe mạnh, có trình độ học vấn và tay nghề cao, tư duy đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, các nước đều coi nguồn nhân lực là lợi thế quốc gia thì những yếu tố này là cơ hội và động lực để Việt Nam bứt phá.

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, đường lối của Đảng và Nhà nước đặc biệt nhấn mạnh về nguồn lực con người, coi đó là động lực cốt yếu, là nội dung đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhiều năm qua, nhờ chính sách dân số hợp lý, Việt Nam hiện có tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử với trên 20% dân số là thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10 đến 24. Hơn một nửa số người trong độ tuổi lao động dưới 34 tuổi. Đây là thế hệ thanh niên trẻ, vừa là nguyên khí quốc gia, vừa là lực lượng xung kích tham gia vào quá trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước tiến nhanh với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Các chuyên gia về nhân khẩu học cho rằng, cơ cấu “dân số vàng” thường kéo dài từ 30 - 35 năm, thậm chí là 40 - 45 năm. Như vậy, số dân đạt 100 triệu người và cơ cấu “dân số vàng” của Việt Nam hiện nay sẽ còn kéo dài trong khoảng 15 - 25 năm nữa. Việt Nam hiện được đánh giá là quốc gia đang phát triển năng động, giàu tiềm năng, và đang tham gia mạnh mẽ vào thị trường thế giới thông qua việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do. Kết hợp với nguồn lực con người dồi dào và lực lượng lao động trẻ hùng hậu, có khả năng xoay chuyển nền kinh tế, hứa hẹn sẽ đem lại những cú bật nhanh và mạnh cho tăng trưởng kinh tế-xã hội đất nước.

Bên cạnh nguồn lực về lao động, 54 dân tộc với bản sắc văn hóa đa dạng, đậm nét truyền thống còn đại diện cho nguồn lực văn hóa mạnh mẽ, là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để ghi dấu ấn văn hóa Việt Nam trên bản đồ thế giới trong thời kỳ hội nhập.

Tuy nhiên, 100 triệu dân cũng đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Quy mô dân số lớn, tiếp tục tăng dẫn tới tổng cầu về lương thực ngày càng tăng, trong khi đó tổng cung bị đe dọa chững lại hoặc giảm. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Nhiều năm nay, an ninh lương thực của nước ta được giữ vững. Việt Nam luôn thuộc nhóm nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu lương thực. Song cũng phải lường đến những thách thức trong tương lai: Một là, diện tích đất trồng lúa bình quân đầu người thấp nhưng quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ sẽ yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp. Riêng giai đoạn (2000 - 2020), diện tích đất trồng lúa giảm gần 327,3 nghìn ha. Hai là, Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về tác động của biến đổi khí hậu đối với các nước đang phát triển từ năm 2007 đã đưa ra dự báo cho thấy Việt Nam là nước chịu thiệt hại nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Theo đó, 7,14 % diện tích đất nông nghiệp bị tác động của việc dâng mực nước biển dâng. Ba là, quy mô dân số lớn, tiếp tục tăng dẫn tới tổng cầu về lương thực ngày càng tăng, trong khi đó tổng cung bị đe dọa chững lại hoặc giảm bởi diện tích bị thu hẹp, biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh,... Vì vậy, làm thế nào để đảm bảo an ninh lương thực cho 100 triệu dân, vẫn là một câu hỏi có ý nghĩa. Câu hỏi tương tự cũng đặt ra đối với an ninh năng lượng trong bối cảnh các nguồn lợi tự nhiên (than đá, dầu, khí) cạn dần, nhưng nhu cầu năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng rất lớn và tăng nhanh.

Nhiều nước quy mô dân số lớn nhưng mật độ dân số không cao. Chẳng hạn, năm 2020, mật độ dân số của Nga là 8,8 người/km2, Brazin: 25 người/km2, Mỹ: 36 người/km2,… Ngay Trung Quốc, với hơn 1,4 tỷ dân nhưng mật độ dân số cũng chỉ có 149 người/km2. Trong khi đó, mật độ dân số của Việt Nam lên đến 295 người/km2, gấp khoảng 5 lần mật độ chung của thế giới. Mật độ dân số cao phản ánh sự mất cân đối giữa số dân và tài nguyên đất, đất đai càng trở nên quý hiếm, đắt đỏ. Việc tranh chấp, tranh giành, đầu cơ, “sốt giá” đất diễn ra thường xuyên và phức tạp. “Giải phóng mặt bằng” ở những nơi mật độ dân số cao ảnh hưởng đến nhiều người dân hơn, khó khăn hơn, làm chậm quá trình xây dựng, phát triển.

Với 100 triệu dân, tất yếu dẫn đến quy mô sản xuất và tiêu dùng lớn. Do đó, chất thải trong quá trình sản xuất và tiêu dùng cũng rất lớn và tăng nhanh. Chẳng hạn, giai đoạn (1989 - 2015), dân số tăng lên 1,42 lần; sản lượng lương thực tăng 2,55 lần nhưng phân hóa học tăng 29 lần và thuốc trừ sâu tăng 24,2 lần! Rõ ràng, ô nhiễm đất, nước, không khí là thách thức lớn đối với phát triển bền vững của nước ta.

Chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta tăng lên nhưng chưa cao. Năm 2021, chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam thấp hơn mức bình quân chung của các quốc gia Đông Nam Á và xếp thứ 115 trong tổng số 191 nước so sánh trên thế giới. Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật thấp và tập trung nhiều trong khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Để đứng vững trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, tận dụng được thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển nhanh, bền vững ngay cả khi thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” trôi qua thì chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực cao mang tính quyết định. Nhưng nâng cao chất lượng hàng chục triệu lao động, hàng trăm triệu dân lại là thách thức vô cùng to lớn.

Một hiện tượng xã hội đặc sắc của thế giới trong thế kỷ 21 là già hóa dân số. Cùng với xu hướng chung này của thế giới, số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam không ngừng tăng lên. Điều khác biệt ở đây là Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số tăng nhanh nhất thế giới. Nếu như tỷ lệ người cao tuổi từ 10% (bắt đầu bước vào quá trình già hóa) tăng lên 20% (dân số già), nước Pháp mất 115 năm, Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Mỹ: 69 năm,… thì nước ta chỉ cần 25 năm (2011 - 2036)! Già hóa là thành tựu của phát triển. Người cao tuổi là kho tàng tri thức, kinh nghiệm trong sản xuất và bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu người cao tuổi ở nước ta vẫn tiếp tục làm việc tạo thu nhập và cống hiến cho gia đình, xã hội. Bên cạnh đó, già hóa cũng đặt ra những thách thức, như: Làm thế nào để đảm bảo cho hàng chục triệu người cao tuổi có an sinh thu nhập, khỏe mạnh, phát huy được khả năng, kể cả đáp ứng nhu cầu làm việc có thu nhập và được sống trong môi trường xã hội thân thiện, hòa thuận giữa các thế hệ?

Rõ ràng, quy mô dân số lớn, cơ cấu dân số biến đổi nhanh vừa mang lại những cơ hội lớn và những thách thức gay gắt trong quá trình phát triển của nước ta. Để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức, Nghị quyết số 21/NQ-TW của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, tháng 10 năm 2017, đã chỉ rõ: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”. Sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-TW cho thấy, việc quán triệt sâu sắc quan điểm nói trên, cụ thể hoá từng bước đưa Nghị quyết vào cuộc sống cần được Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp chú trọng, quan tâm hơn nữa.

2. Để tận dụng trọn vẹn lợi ích mà dân số mang lại, Việt Nam còn rất nhiều trở ngại và thách thức cần vượt qua.

Dự báo đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già với khoảng 15 triệu người trên 60 tuổi. Ảnh minh họa: Báo Nhân dân.

Việc đầu tiên cần làm là cải thiện chất lượng lao động, góp phần cải thiện khu vực sản xuất của nền kinh tế. Cần nâng cao trình độ, kỹ năng và kỷ luật lao động của người lao động; đào tạo lao động theo nhu cầu và đáp ứng được nhu cầu thị trường, hướng tới những công việc có giá trị tăng thêm cao, trọng dụng nhân tài. Cần tiếp tục đầu tư vào thanh thiếu niên thông qua các chính sách về y tế, giáo dục, cơ hội việc làm và thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo. Do sự chênh lệch và phân hóa mạnh về dân số - phát triển giữa thành thị với nông thôn, cần đa dạng hóa ngành nghề ở nông thôn để tạo thêm cơ hội cho lực lượng lao động trẻ.

Cơ cấu dân số vàng cũng sẽ không kéo dài lâu, trong khi Việt Nam được đánh giá có tốc độ già hóa dân số nhanh trên thế giới. Dự báo đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già với khoảng 15 triệu người trên 60 tuổi (chiếm 14% tổng số dân). Già hóa dân số nhanh chóng có thể dẫn đến tình trạng thiếu lao động trong tương lai cũng như nhu cầu an sinh xã hội ngày càng tăng ở người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi, đặt ra những cơ hội và thách thức về mặt kinh tế - xã hội, đồng thời đòi hỏi quốc gia thực hiện những thay đổi trong nền kinh tế. Hiện nay Việt Nam đã có lộ trình kéo dài độ tuổi về hưu, giữ thêm người cao tuổi tiếp tục ở lại lực lượng lao động, nhằm bù đắp sự thiếu hụt nhân công vì già hóa dân số trong tương lai. Đây cũng là chính sách được nhiều quốc gia tiến bộ trên thế giới áp dụng để cân bằng phát triển dân số và kinh tế - xã hội.

Với việc đối mặt với những thời cơ và thách thức lớn, trong Chiến lược Dân số đến năm 2030, Việt Nam tập trung chuyển trọng tâm chính sách dân số, từ kế hoạch hóa gia đình sang thực hiện và đạt được các mục tiêu toàn diện cả về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số, trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Theo đó đặt ra mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), giữ quy mô dân số ở mức 104 triệu người. Đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, duy trì cơ cấu tuổi ở mức hợp lý với tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%. Tập trung nâng cao chất lượng dân số thông qua tăng cường chăm sóc y tế, nâng cao mức sống người dân. Thúc đẩy phân bố dân số hợp lý và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện quá trình chuyển đổi số quốc gia cũng sẽ hoàn thành xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đẩy mạnh lồng ghép các yếu tố dân số vào xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Với các lợi thế về dân số và những chủ trương, chính sách đúng đắn, tin tưởng rằng, Việt Nam sẽ phát huy mạnh mẽ nguồn lực hùng hậu, xây dựng và phát triển đất nước hùng cường, tạo vị thế vững chắc trên bản đồ thế giới./.

(Bài đăng trên Bản tin Thông tin Báo cáo viên số tháng 8/2023)

ThS. Cấn Văn Long

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội