UOB: Fed tăng lãi suất, tỷ giá và lãi suất của Việt Nam vẫn ổn định

Chuyên gia ngân hàng UOB dự báo tăng trưởng Việt Nam 8,5% năm 2026, thị trường ngoại hối và lãi suất vẫn ổn định dù Fed tăng lãi suất toàn cầu.

Liên quan đến tác động của quyết định tăng lãi suất của Fed lên thị trường tài chính Việt Nam, các chuyên gia của ngân hàng UOB Việt Nam nhận định kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì động lực tăng trưởng, thị trường ngoại hối và lãi suất Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định.

Động lực tăng trưởng tiếp tục được duy trì

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore cho biết các dữ liệu gần đây cho thấy đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý 3/2026. Sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ cùng tăng 14,5% so với cùng kỳ trong tháng 7. Chỉ số PMI ngành sản xuất tăng từ 51,8 điểm tháng 6 lên 52,9 điểm, cao nhất kể từ tháng 2. Đơn hàng xuất khẩu cũng tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 7/2024.

Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu tăng 21,7% so với cùng kỳ, đạt 319,5 tỷ USD. Riêng nhóm điện tử, máy tính và linh kiện đóng góp hơn 85 tỷ USD, cho thấy mức độ tham gia ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào làn sóng đầu tư và phát triển hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu.

Tuy nhiên, cùng với đà tăng trưởng, cán cân ngoại thương đang trở thành một thách thức đáng lưu ý. Trong 7 tháng qua, nhập khẩu tăng 34,8%, đạt 340,1 tỷ USD. Cán cân thương mại vì vậy chuyển từ mức thặng dư 10,4 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang thâm hụt 20,5 tỷ USD.

Năng lượng là một trong những nguyên nhân quan trọng. Trong 7 tháng, khối lượng nhập khẩu nhiên liệu tinh chế chỉ tăng 6%, nhưng giá trị nhập khẩu tăng tới 67,6%. Bên cạnh đó, nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ đầu tư hạ tầng cũng góp phần đáng kể vào mức tăng nhập khẩu.

Theo chuyên gia UOB, ngay cả khi giá dầu giảm và giúp thu hẹp mức thâm hụt thương mại, thặng dư tài khoản vãng lai của Việt Nam nhiều khả năng vẫn thấp hơn đáng kể so với năm 2025.

Ở góc độ chính sách, Việt Nam đang chuyển hướng sang các mục tiêu mang tính cấu trúc dài hạn, trong đó Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 28/7 định hình mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất và công nghệ làm động lực cốt lõi, với mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% giai đoạn 2026-2030 và GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD vào năm 2030.

Việc thực thi chính sách vẫn là thách thức đáng chú ý. Sau 7 tháng đầu năm, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư mới đạt 39% trong tổng kế hoạch vốn 1,08 triệu tỷ đồng.

“Dự báo tăng trưởng năm 2026 của chúng tôi đã được điều chỉnh tăng lên 8,5%, hàm ý nền kinh tế sẽ tăng trưởng khoảng 8,8% trong nửa cuối năm 2026,” chuyên gia UOB chia sẻ.

Nguồn vốn dài hạn cần được đa dạng hóa

Chuyên gia UOB dẫn số liệu từ Bộ Tài chính, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 để duy trì tăng trưởng hai chữ số. Riêng năm tài khóa gần nhất, nhu cầu vốn khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, tương đương 200 tỷ USD. Trong khi đó, ngân sách Nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu.

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB. (Ảnh: Vietnam+)

Nguồn vốn cần được sử dụng cho nâng cấp cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xanh và bền vững, nâng cao hàm lượng công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất công nghiệp, cũng như đầu tư cho giáo dục và y tế. Vì vậy, vốn Chính phủ nên đóng vai trò “vốn mồi” thay vì là động lực duy nhất cho tăng trưởng.

Với 80% nhu cầu vốn còn lại, hệ thống ngân hàng đang dần tiến tới giới hạn. Tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện ở mức khoảng 138%, trong khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đạt 98,7%, cho thấy dư địa mở rộng tín dụng không còn nhiều.

Năng lực vốn của hệ thống ngân hàng cũng là một vấn đề. Theo dữ liệu Chỉ số An toàn tài chính của IMF, tỷ lệ vốn cấp 1 của ngành ngân hàng Việt Nam cuối năm 2025 ước khoảng 10,59%, trong khi Philippines khoảng 13% và Malaysia khoảng 15%.

Do đó, dù hệ thống ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu 15% trong năm 2026, việc tài trợ cho các dự án dài hạn không nên tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào ngân hàng.

Trong bối cảnh này, FDI, thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các dòng vốn tổ chức dài hạn được kỳ vọng đóng vai trò lớn hơn.

Đối với FDI, Việt Nam cần chuyển sang giai đoạn “FDI 2.0”, tập trung thu hút các hoạt động có giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ và đổi mới sáng tạo cao hơn, đồng thời tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).

Trên thị trường cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE đã tăng khoảng 5,5 lần trong 10 năm, từ 61 tỷ USD tháng 8/2016 lên 339 tỷ USD tháng 8/2026. Quy mô này vượt thị trường chứng khoán Philippines và đứng thứ năm trong ASEAN-6.

Việc FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9 và đưa Việt Nam dần vào các bộ chỉ số trong năm 2027 được kỳ vọng thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Quá trình này cũng được kỳ vọng cải thiện tiêu chuẩn công bố thông tin và khả năng tiếp cận thị trường.

Lợi suất trái phiếu Mỹ dài hạn là yếu tố cần theo dõi

Theo ông Suan Teck Kin, với các thị trường mới nổi như Việt Nam, tác động từ việc Fed tăng lãi suất không chỉ nằm ở mức tăng 25 hay 50 điểm cơ bản mà còn được truyền dẫn qua đồng USD, phần bù lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn dài và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư toàn cầu.

Thị trường ngoại hối và lãi suất Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. (Ảnh: Vietnam+)

Việc chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ thu hẹp có thể gây áp lực lên tỷ giá VND, làm tăng chi phí huy động vốn bằng USD của ngân hàng và doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư gián tiếp.

Tuy nhiên, UOB cho rằng những áp lực này có thể kiểm soát được. Việt Nam vẫn có các yếu tố hỗ trợ như dòng vốn FDI ổn định, nền tảng cán cân đối ngoại và dự trữ ngoại hối ở mức phù hợp.

Đáng chú ý, bên cạnh lãi suất chính sách của Fed, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn dài được đánh giá là yếu tố quan trọng hơn đối với Việt Nam. Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm và 30 năm là mức tham chiếu của thị trường toàn cầu, tác động đến chi phí tài trợ dự án, định giá trái phiếu Chính phủ, doanh nghiệp và cổ phiếu tại các thị trường mới nổi.

Theo chuyên gia UOB, Việt Nam đang là quốc gia nhập khẩu vốn và trong giai đoạn cần đầu tư mạnh cho tăng trưởng. Vì vậy, bài toán quan trọng không chỉ là nguồn vốn ngắn hạn mà còn là nguồn vốn dài hạn.

Trong nước, lạm phát đã hạ nhiệt khi CPI toàn phần giảm từ 4,69% tháng 6 xuống 4,45% tháng 7. Bình quân 7 tháng đầu năm, lạm phát đạt 4,4%, xấp xỉ mức trần 4,5% của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trong khi đó, tổng dư nợ tín dụng đến ngày 26/6 vượt 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với đầu năm và 18,1% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% cả năm. Tốc độ tăng tiền gửi chậm hơn, trong khi lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng tăng lên 6,5-7,8%.

Theo UOB, dư địa nới lỏng tiền tệ khá hạn chế khi lạm phát tiệm cận ngưỡng mục tiêu, tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ huy động vốn và cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt. Ngân hàng này dự báo lãi suất tái cấp vốn được duy trì ở mức 4,5% trong phần còn lại của năm 2026 và sang năm 2027.

Trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa, đặc biệt là đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, được đánh giá là công cụ phù hợp hơn để hỗ trợ tăng trưởng.

Về tỷ giá, đồng VND tăng 0,8% trong tháng 8, lên 26.073 VND/USD. Tuy nhiên, Việt Nam đã ghi nhận tháng thâm hụt thương mại thứ tám liên tiếp trong tháng 7, với mức thâm hụt 3,59 tỷ USD. Nhập khẩu tăng 41,4%, cao hơn mức tăng 25% của xuất khẩu, tạo thêm áp lực đối với đồng VND.

Triển vọng ổn định của đồng VND vẫn được hỗ trợ bởi tăng trưởng kinh tế. (Ảnh: Vietnam+)

Ở trung và dài hạn, triển vọng ổn định của đồng VND vẫn được hỗ trợ bởi tăng trưởng kinh tế, dòng vốn FDI và điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước. UOB dự báo tỷ giá USD/VND ở mức 26.200 đồng trong quý 4/2026, quý 1/2027 là 26.100 đồng, quý 2/2027 là 26.000 đồng và quý 3/2027 đạt 25.900 đồng/USD.

Theo ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, dù Fed tăng lãi suất, thị trường ngoại hối và lãi suất Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định. Tuy nhiên, tác động đầy đủ của quyết định này cần thêm thời gian để đánh giá, trong đó đáng chú ý không chỉ là mức tăng lãi suất hiện tại mà còn là khả năng Fed tiếp tục điều chỉnh chính sách trong thời gian tới.

“Từ đầu năm đến nay, VND tăng khoảng 1% so với USD trên thị trường giao dịch thực tế. UOB dự báo tỷ giá USD/VND trong thời gian còn lại của năm 2026 và năm 2027 chỉ biến động khoảng 1-2%, dựa trên các yếu tố như dòng vốn FDI, khả năng thu hút vốn ngoại và cách điều hành tỷ giá của cơ quan quản lý,” ông Quang nhận định./.

(Vietnam+)