Thiết lập cơ chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Nghị định 323/2026/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp và quy trình giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, từ tiếp nhận ý định khởi kiện đến thực hiện phán quyết, bảo vệ quyền lợi quốc gia.

Chính phủ ban hành Nghị định số 323/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Nghị định quy định rõ cơ chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài

Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài, Nghị định quy định, trường hợp là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 20/2026/QH16 (Nghị quyết) và Điều 9 của Nghị định này, chủ động thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 13 của Nghị quyết và Điều 10 của Nghị định này; đồng thời thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đại diện pháp lý trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.

Trường hợp không phải là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì hoặc Cơ quan đại diện pháp lý (trong trường hợp không xác định được Cơ quan chủ trì) trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.

Trách nhiệm của Cơ quan đại diện pháp lý nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài, Nghị định quy định, trường hợp xác định được Cơ quan chủ trì theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.

Báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.

Cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ động, kịp thời tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài theo quy định tại Nghị quyết và Nghị định này nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế được thực hiện thống nhất, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế phát sinh vấn đề phức tạp, bất lợi trong vụ việc tranh chấp.

Trong quá trình xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện quy định ở trên, Cơ quan chủ trì có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tiến hành thương lượng, tham vấn hoặc hòa giải với nguyên đơn theo quy định của pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan nhằm giải quyết tranh chấp và giảm thiểu nguy cơ phát sinh vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm chủ động, kịp thời phối hợp với Cơ quan chủ trì trong việc xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài; cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn thông tin, tài liệu; cử người tham gia phối hợp và thực hiện các yêu cầu của Cơ quan chủ trì bảo đảm bảo vệ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế phát sinh vấn đề phức tạp, bất lợi trong vụ việc tranh chấp.

Việc tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài theo quy định tại Điều này không được hiểu là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận thẩm quyền của cơ quan tài phán liên quan hay chấp nhận nội dung của văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài.

Xác định cơ quan chủ trì

Nghị định quy định trường hợp các biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện liên quan đến hai hoặc nhiều cơ quan theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết, Cơ quan đại diện pháp lý đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở tiêu chí theo thứ tự ưu tiên sau đây trong số các cơ quan liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện: Cơ quan trực tiếp có hoặc đề xuất biện pháp có liên quan nhiều nhất đến nội dung khởi kiện của nguyên đơn; cơ quan đã chủ trì đàm phán, ký hoặc thay mặt Nhà nước, Chính phủ Việt Nam ký hợp đồng, thỏa thuận với nguyên đơn; cơ quan có đội ngũ nhân sự có chuyên môn phù hợp nhất với lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện tại thời điểm đề xuất.

Trường hợp cơ quan trực tiếp có hoặc đề xuất biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện là cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan đại diện pháp lý đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở tiêu chí theo thứ tự ưu tiên sau đây: Cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn liên quan nhiều nhất đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện; cơ quan có đội ngũ nhân sự có chuyên môn phù hợp nhất với lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện tại thời điểm đề xuất.

Ban Chỉ đạo liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế (Ban Chỉ đạo liên ngành) theo quy định của Nghị quyết và Nghị định này.

Trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành là Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị kiện tại thời điểm Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành. Phó Trưởng ban là lãnh đạo Cơ quan chủ trì. Thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành gồm đại diện của Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Cơ quan chủ trì là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo liên ngành. Cơ quan thường trực tổ chức thực hiện các ý kiến của Ban Chỉ đạo liên ngành và giúp việc Ban Chỉ đạo liên ngành thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Căn cứ tính chất và quy mô của từng vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, Cơ quan chủ trì quyết định thành lập Tổ công tác liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế (Tổ công tác liên ngành) theo quy định của Nghị quyết và Nghị định này.

Tổ trưởng Tổ công tác liên ngành là lãnh đạo của Cơ quan chủ trì. Phó Tổ trưởng Tổ công tác liên ngành gồm các đại diện của Bộ Tài chính, Cơ quan đại diện pháp lý và cơ quan tiến hành tố tụng có biện pháp bị kiện (nếu có).

Thành viên Tổ công tác liên ngành gồm đại diện của Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có biện pháp bị kiện (nếu có), Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Tổ công tác liên ngành phối hợp với Cơ quan chủ trì thực hiện các công việc quy định tại khoản 4 Điều 10 của Nghị định này.

Chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế

Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành (nếu có), luật sư (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, xây dựng bản đánh giá ban đầu về vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Đơn khởi kiện của nguyên đơn, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành (nếu có), luật sư (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, xây dựng chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, báo cáo Ban Chỉ đạo liên ngành (nếu có), trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất của Cơ quan chủ trì.

Cơ quan chủ trì, phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành (nếu có), luật sư (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có thể đề xuất sửa đổi, bổ sung chiến lược giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế khi cần thiết, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, nếu xét thấy phù hợp, Cơ quan chủ trì đề xuất thực hiện hòa giải theo quy định tại Điều 16 của Nghị quyết.

Khi thực hiện hòa giải theo quy định tại Điều 16 của Nghị quyết, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan xây dựng phương án hòa giải.

Thực hiện bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán

Nghị định quy định trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành, luật sư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định phương án tổ chức thực hiện, bao gồm thời điểm, nội dung và cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện.

Cơ quan chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện pháp lý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, luật sư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc nước ngoài bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trường hợp bản án, phán quyết, quyết định của cơ quan tài phán xác định cơ quan Việt Nam có nghĩa vụ tài chính đối với nguyên đơn, Cơ quan chủ trì phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp xây dựng phương án chi trả, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm thực hiện đúng bản án, phán quyết, quyết định.

Sau khi vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế kết thúc, Cơ quan chủ trì phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý, Tổ công tác liên ngành, luật sư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tổ chức tổng kết, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm từ vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 17/8/2026./.

(Vietnam+)