Tháo “điểm nghẽn” thị trường bất động sản và nhân lực công nghệ cao

Tại phiên thảo luận về phát triển kinh tế - xã hội, các đại biểu đã kiến nghị giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết khó khăn bất động sản và nâng cao nhân lực công nghệ cao.

Chiều ngày 20/4, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, Quốc hội tập trung thảo luận về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, nhiều ý kiến đại biểu bàn về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 -2030 với nhiều giải pháp cụ thể.

Tại Phiên thảo luận, đối với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2026-2030, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội bày tỏ tán thành cao với những đánh giá về tình hình, bối cảnh quốc tế của Chính phủ, đồng thời tán thành với các quan điểm, mục tiêu, các nhóm giải pháp và nhiệm vụ mà Chính phủ báo cáo trước Quốc hội. Các đại biểu kỳ vọng vào những cam kết mạnh mẽ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội và nhân dân cả nước ngay trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới, đặc biệt là mục tiêu phát triển “hai con số”.

Gỡ “nút thắt” nguồn lực và thị trường bất động sản

Góp ý hoàn thiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) đề nghị Chính phủ làm rõ nhiều vấn đề trọng tâm nhằm bảo đảm tăng trưởng gắn với ổn định vĩ mô và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Trước hết, theo đại biểu Trần Ngọc Sơn cần xác định rõ thứ tự ưu tiên chính sách trong trường hợp có xung đột giữa mục tiêu tăng trưởng cao với yêu cầu kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn nợ công và hệ thống tài chính. Đồng thời, cần làm rõ nguồn lực cho tăng trưởng, phân định nguồn vốn có thể huy động ngay trong năm 2026 và nguồn còn phụ thuộc vào thị trường, thủ tục hoặc khả năng hấp thụ của nền kinh tế.

Thực tế cho thấy, điểm nghẽn không chỉ nằm ở thiếu vốn mà còn ở giải ngân chậm, chuẩn bị đầu tư yếu, thủ tục kéo dài, phân bổ dàn trải, dự án thiếu tính lan tỏa và năng lực thực hiện không đồng đều giữa các địa phương. Vì vậy, cần có cơ chế cụ thể để khắc phục, biến nguồn lực thành kết quả thực chất, có thể đo đếm.

Liên quan đến thị trường bất động sản, đại biểu cho rằng khó khăn cốt lõi vẫn nằm ở thể chế, quy hoạch, thủ tục đầu tư, xác định giá đất, bồi thường, tái định cư và thời gian phê duyệt dự án. Khi nguồn cung hợp pháp còn ách tắc trong khi đầu cơ, tin đồn quy hoạch và đấu giá đất tạo hiệu ứng giá ảo, việc ổn định thị trường sẽ gặp nhiều thách thức. Do đó, cần làm rõ giải pháp hạ nhiệt mặt bằng giá bất hợp lý, đồng thời xử lý hài hòa giữa mục tiêu ổn định thị trường và thực tế nhiều địa phương còn phụ thuộc vào nguồn thu từ đất.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn thẳng thắn chỉ rõ, thực tế nhiều năm cho thấy "điểm nghẽn" không chỉ nằm ở thiếu vốn mà còn nằm ở giải ngân chậm, chuẩn bị đầu tư yếu, thủ tục kéo dài, phân bổ dàn trải, dự án thiếu tính lan tỏa, năng lực thực hiện ở địa phương không đồng đều. Vì vậy, Chính phủ cần đánh giá chỉ rõ hơn cơ chế khắc phục tình trạng nêu trên để "biến nguồn lực thành tăng trưởng thực, hiệu quả thực và kết quả phải đo đếm được."

Cho rằng, Chính phủ đã nhận diện đúng thực trạng thị trường bất động sản hiện nay, đại biểu nêu rõ, thực tiễn cho thấy, khó khăn lớn của thị trường vẫn nằm ở thể chế, quy hoạch, thủ tục đầu tư, xác định giá đất, bồi thường tái định cư và thời gian phê duyệt dự án.

Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng Nguyễn Ngọc Sơn phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Đại biểu Sơn cũng đề nghị rà soát toàn diện các dự án bất động sản, công khai thông tin và phân loại rõ: dự án đủ điều kiện thì cho tiếp tục triển khai với thời hạn cụ thể; dự án không còn năng lực hoặc chây ì cần kiên quyết thu hồi, đấu giá, đấu thầu lại hoặc chuyển mục đích sử dụng để tránh lãng phí.

Phát triển hạ tầng đồng bộ, ưu tiên năng lượng

Đối với phát triển kết cấu hạ tầng, đại biểu Sơn cho rằng cần làm rõ tiêu chí lựa chọn dự án ưu tiên nhằm mở rộng không gian phát triển, tăng liên kết vùng, giảm chi phí logistics và phát huy hiệu quả sớm trong giai đoạn 2026-2027. Đồng thời, phải siết chặt giám sát tiến độ, chất lượng, hiệu quả đầu tư và năng lực phối hợp liên ngành, liên vùng, tránh tình trạng chậm tiến độ, phân tán nguồn lực, thiếu kết nối và đội vốn.

Đặc biệt, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh hạ tầng năng lượng cần được xem là khâu then chốt. Việc bảo đảm đủ điện, hệ thống truyền tải và nguồn điện nền ổn định là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng. Do đó, Chính phủ cần làm rõ lộ trình tháo gỡ các vướng mắc trong thu hút đầu tư vào năng lượng tái tạo, LNG và điện gió ngoài khơi. Riêng với LNG, cần cụ thể hóa giải pháp cho chuỗi hạ tầng nhập khẩu, kho cảng, cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện dài hạn và sự đồng bộ giữa nhà máy và lưới truyền tải.

Cũng liên quan đến phát triển điện gió, điện Mặt Trời, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) cho rằng Việt Nam đã cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, nhưng đến nay, tỷ trọng năng lượng tái tạo mới đạt khoảng 16%, trong khi tiềm năng điện gió, điện mặt trời ở nước ta là rất lớn.

“Do vậy, để đạt mục tiêu đưa tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 30% trong tổng cung năng lượng vào năm 2030, đề nghị cần có cơ chế rõ ràng, thống nhất về giá mua điện tái tạo, có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào điện gió, điện Mặt Trời,” đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề xuất.

Thiếu chuyên gia làm chủ công nghệ lõi

Đại biểu Nguyễn Thị Lan (Đoàn Hà Nội) đánh giá cao Báo cáo đã nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc và Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, coi đây là định hướng đúng, có ý nghĩa quyết định trong nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tuy nhiên, từ thực tiễn, Đại biểu Lan cho rằng yếu tố then chốt vẫn là con người. Công nghệ không tự tạo ra đột phá, mà phụ thuộc vào năng lực làm chủ, phát triển và ứng dụng của con người. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia như Hàn Quốc, Israel hay Singapore đều đi trước trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ khoa học - công nghệ có khả năng gắn nghiên cứu với thị trường, từ đó tạo giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững.

Đại biểu đoàn Hà Nội cũng chỉ ra tại Việt Nam, điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở chủ trương hay tiềm năng mà chủ yếu là thiếu lực lượng nhân lực có khả năng tạo đột phá. Cụ thể, còn thiếu chuyên gia làm chủ công nghệ lõi, thiếu nhà khoa học có năng lực dẫn dắt, thiếu nhân lực khai thác dữ liệu và đặc biệt thiếu đội ngũ đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Sự liên kết giữa viện, trường, doanh nghiệp và địa phương cũng còn lỏng lẻo do thiếu lực lượng điều phối hiệu quả.

Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Thị Lan phát biểu. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, dù có nhiều kết quả nghiên cứu về giống, công nghệ sinh học, nông nghiệp số, việc ứng dụng và thương mại hóa vẫn hạn chế, nhiều mô hình dừng ở quy mô thí điểm. Nguyên nhân chính là thiếu đội ngũ có khả năng tích hợp công nghệ với thị trường và tổ chức triển khai ở quy mô lớn. So với các quốc gia như Hà Lan hay Israel, có thể thấy điểm yếu của Việt Nam nằm ở năng lực triển khai và làm chủ công nghệ, khiến khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng.

Từ đó, Đại biểu Nguyễn Thị Lan đề xuất cần có chương trình đột phá về phát triển nguồn nhân lực, tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt có khả năng làm chủ công nghệ và dẫn dắt nghiên cứu. Đào tạo cần gắn với nhu cầu doanh nghiệp, có sản phẩm đầu ra cụ thể, đi kèm cơ chế linh hoạt như đặt hàng, khoán theo kết quả, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế.

Đại biểu Lan cũng kiến nghị cần làm rõ nội dung phát triển nhân lực phục vụ trực tiếp cho đột phá khoa học công nghệ trong các chương trình hành động; sớm hình thành các chương trình đào tạo nhân lực nòng cốt cấp quốc gia, tập trung vào công nghệ lõi, dữ liệu và thương mại hóa; đồng thời hoàn thiện danh mục công nghệ chiến lược gắn với lợi thế ngành, nhằm bảo đảm tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả triển khai.

Tiết kiệm ngân sách phải gắn với hiệu quả sử dụng

Cũng thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội, Đại biểu Trần Văn Lâm (đoàn Bắc Ninh) cho rằng tiết kiệm là nguyên tắc xuyên suốt trong quản lý ngân sách nhà nước, cần được thực hiện bài bản, thực chất nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực hữu hạn. Thời gian qua, Chính phủ đã đẩy mạnh tăng thu, cắt giảm chi thường xuyên để tăng chi đầu tư - đây là định hướng đúng. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là làm sao tối ưu hiệu quả nguồn lực cho phát triển.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh Trần Văn Lâm phát biểu. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Về thu ngân sách theo đại biểu Trần Văn Lâm việc tăng thu, thậm chí vượt dự toán là tín hiệu tích cực, nhưng cần đặt trong mục tiêu phát triển bền vững. Nếu tăng thu làm suy giảm động lực sản xuất kinh doanh hoặc ảnh hưởng tăng trưởng dài hạn thì cần xem xét lại. Do đó, không chỉ là tăng thu, mà phải xác định tăng ở đâu, lĩnh vực nào để vừa bảo đảm nguồn lực, vừa nuôi dưỡng nguồn thu. Đại biểu đánh giá cao đề xuất sửa đổi các luật thuế nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, góp phần hài hòa mục tiêu kinh tế và xã hội.

Về chi ngân sách, chủ trương giảm chi thường xuyên để tăng chi đầu tư cần được cân nhắc thận trọng. Chi thường xuyên chủ yếu dành cho con người và các lĩnh vực nền tảng như y tế, giáo dục, khoa học công nghệ - yếu tố quyết định tăng trưởng chất lượng. Nếu cắt giảm cơ học có thể ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Tiết kiệm không nên hiểu đơn thuần là cắt giảm tỷ lệ, mà cần rà soát định mức, nâng cao chất lượng lập dự toán; khi dự toán đã sát thực tế thì việc không chi hết lại là hạn chế.

“Đối với chi đầu tư, tiết kiệm không phải là giảm vốn mà là nâng cao hiệu quả. Thực tế cho thấy hiệu quả đầu tư còn hạn chế, thậm chí có nguy cơ lãng phí nếu dồn vốn vào dự án kém hiệu quả. Vì vậy, cần kiểm soát chặt từ khâu lựa chọn dự án, chuẩn bị đầu tư, triển khai đến vận hành sau đầu tư, bảo đảm vốn được sử dụng hiệu quả, tạo giá trị thực cho nền kinh tế,” Đại biểu Trần Văn Lâm nhấn mạnh./.

(Vietnam+)