Tây Nguyên trước nguy cơ “hạn không nguồn” trong mùa khô 2026-2027
Bảo đảm nguồn tưới, sử dụng nước tiết kiệm và nâng sức chống chịu của vườn cây là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ sinh kế người dân và duy trì vùng nguyên liệu cho những ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
Càphê, sầu riêng, hồ tiêu làm nên vị thế nông sản tỷ USD của Tây Nguyên, nhưng nguy cơ thiếu nước mùa khô 2026-2027 đang đặt nhiều vùng chuyên canh trước thử thách.
Bảo đảm nguồn tưới, sử dụng nước tiết kiệm và nâng sức chống chịu của vườn cây là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ sinh kế người dân và duy trì vùng nguyên liệu cho những ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
Đài Khí tượng Thủy văn Trung Bộ cảnh báo tác động bất lợi của El Niño đối với nguồn nước và sản xuất nông nghiệp vụ Đông Xuân 2026-2027.
Theo cơ quan khí tượng, El Niño có khả năng duy trì cường độ rất mạnh qua mùa Đông 2026 và còn ảnh hưởng đến những tháng đầu mùa Hè năm 2027.
Với Tây Nguyên, nền nhiệt cao đi cùng thiếu hụt mưa làm gia tăng áp lực lên nguồn nước phục vụ các vùng cây lâu năm.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý tính chất nguy hiểm của “hạn không nguồn” ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Khi nguồn cấp cạn kiệt, việc điều tiết, luân phiên tưới cũng khó giải quyết được thiếu nước. Những vùng sản xuất chưa được công trình thủy lợi phục vụ sẽ chịu sức ép lớn hơn khi hạn kéo dài.
Dự báo từ tháng 11/2026 đến tháng 1/2027, nhiệt độ trung bình khu vực cao nguyên cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 1-2 độ C. Nhiệt độ tăng làm gia tăng bốc hơi và nhu cầu nước của cây trồng.
Trong khi đó, nhận định khí tượng tại hội nghị ngày 14/10/2026 ở Đắk Lắk cho thấy lượng mưa những tháng cuối năm tại một số nơi ở cao nguyên có thể thấp hơn trung bình nhiều năm 20-40%; những tháng đầu năm 2027 tiếp tục có nguy cơ thiếu hụt mưa.
Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), mực nước ngầm tại nhiều vùng trọng điểm đã tụt sâu 3-5 m so với thập kỷ trước, làm suy giảm nguồn nước dự phòng cho các vùng chuyên canh.
Nhận định của Đài Khí tượng Thủy văn Trung Bộ, từ tháng 1 đến tháng 4/2027, lượng dòng chảy trên hệ thống Sê San, Srêpốk có khả năng thiếu hụt 36-40% so với trung bình nhiều năm; lưu vực Đồng Nai thiếu hụt khoảng 42%.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, dự kiến dung tích trữ tại các hồ trong vùng đến cuối vụ Đông Xuân 2026–2027 chỉ còn khoảng 25-35% dung tích thiết kế.
Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi Nguyễn Hồng Khanh cho biết, vụ Đông Xuân 2026-2027, tổng diện tích cây trồng trong vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi hạn hán, thiếu nước khoảng 105.000 -150.000 ha.
Nhóm dễ bị tổn thương nhất là cây lâu năm nằm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình thủy lợi, thủy điện; trong đó, lưu vực Srêpốk có diện tích nguy cơ lớn nhất, khoảng 68.000-100.000 ha, tập trung ở những vùng ngoài công trình thủy lợi.
Các khu vực được cảnh báo gồm Ea Wer, Ea Nuôl, Krông Búk, Ea Drông, Đắk Mil, Cư Jút, Nam Đà… Lưu vực thượng sông Ba có khoảng 26.000-32.000 ha nguy cơ bị ảnh hưởng; Sê San khoảng 4.0008-.000 ha và Đồng Nai khoảng 7.000-10.000 ha.
Tại Đắk Lắk, trong 253 hồ do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk quản lý, chỉ 130 hồ đạt mực nước dâng bình thường, tương đương 51%, thấp hơn mức 64% cùng kỳ những năm trước; 20 hồ còn dưới 50% dung tích.
Thiếu nước cũng đã ảnh hưởng đến sinh hoạt. Trong 52 công trình do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, 12 công trình suy kiệt nguồn nước, phải cấp luân phiên theo giờ, theo ngày, ảnh hưởng hơn 3.400 hộ. Bảo vệ vùng chuyên canh vì thế phải đi cùng với bảo đảm nước sinh hoạt.
Sự chênh lệch giữa các công trình làm bài toán cấp nước thêm khó. Trên lưu vực chung sông Srêpốk, dung tích trữ bình quân các hồ đạt khoảng 77% thiết kế, nhưng một số hồ nhỏ mới tích được 20-40%. Hồ còn nước không đồng nghĩa mọi vùng cây đều được bảo đảm tưới, nhất là những diện tích nằm ngoài hệ thống cấp nước.
Áp lực còn đến từ nhu cầu sinh hoạt. Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi dự báo khoảng 129.737 hộ tại 99 xã trên toàn vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có nguy cơ khó khăn về nước sinh hoạt. Những hộ chưa được cấp nước tập trung, sống phân tán, sử dụng nước mưa, giếng đào, giếng khoan hoặc nguồn sông suối nhỏ là nhóm dễ bị ảnh hưởng.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp phân tích, với cây ngắn ngày, người dân có thể điều chỉnh thời vụ hoặc tạm dừng gieo trồng khi thiếu nước. Nhưng nếu để càphê, hồ tiêu, sầu riêng suy kiệt, thiệt hại có thể kéo dài nhiều năm. Bảo vệ cây lâu năm qua hạn vì vậy là bảo vệ cả vốn liếng, công sức tích lũy và nguồn thu của những mùa sau.
Ông Nguyễn Hoàng Hiệp gợi mở giải pháp trữ nước phân tán tại vườn bằng ao lót bạt hoặc dụng cụ chứa phù hợp. Với nơi còn nguồn bổ sung, việc trữ nước theo nhu cầu từng vườn giúp duy trì tưới trong thời gian khan hiếm.
Riêng Đắk Lắk có khoảng 217.700 ha càphê, 28.643 ha hồ tiêu và 42.000 ha sầu riêng. Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất phát triển ao trữ nước dùng chung theo nhóm hộ, xác định vùng cây lâu năm ngoài công trình thủy lợi có nguy cơ thiếu nước và phân phối nguồn cấp theo từng giai đoạn.
Nguồn nước hiện có cũng có thể phục vụ hiệu quả hơn nếu giảm được lượng tưới lãng phí. Theo kết quả nghiên cứu của bà Đào Thị Lan Hoa và các cộng sự tại WASI, mô hình tưới tiết kiệm kết hợp bón phân qua hệ thống tưới trên hơn 200 ha càphê giúp giảm khoảng 30-40% nước tưới, đồng thời giảm công lao động và góp phần tăng năng suất 10-15%.
Trên cây hồ tiêu, mô hình tương tự tiết kiệm 152-0% nước tưới, lợi nhuận tăng thêm khoảng 13,46-20,64 triệu đồng/ha so với cách tưới, bón phân thông thường. Những kết quả này cho thấy sử dụng nước hiệu quả có thể đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp, tạo động lực để người trồng thay đổi cách canh tác.
Tuy vậy, đổi thiết bị tưới mới giải quyết một phần vấn đề. WASI cảnh báo đất suy thoái, thiếu hữu cơ và bộ rễ suy yếu làm giảm khả năng giữ, hấp thu nước. Giữ thảm phủ, bổ sung hữu cơ, bố trí cây che bóng phù hợp giúp vườn chống chịu tốt hơn khi nắng nóng kéo dài. Giữ được nước trong đất cũng là giảm nhu cầu lấy thêm nước từ hồ, suối và giếng.
Về lâu dài, các dòng càphê chịu hạn đang được WASI khảo nghiệm có thể mở thêm lựa chọn cho tái canh. Một số dòng triển vọng cho phép giãn chu kỳ tưới, giảm một đợt tưới trong mùa khô. Nhưng với vườn cây đang sản xuất, hiệu quả trước mắt vẫn phụ thuộc vào việc cân đối nguồn nước và áp dụng những giải pháp phù hợp ngay tại chỗ.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn lưu ý các địa phương chưa có phương án cụ thể nếu hạn hán xảy ra ở mức rủi ro cao nhất. Tỉnh yêu cầu xác định khả năng cấp nước từng địa bàn để tổ chức sản xuất phù hợp, bảo vệ cây trồng giá trị cao và bảo đảm nước sinh hoạt.
Ở quy mô vùng, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đề xuất phối hợp vận hành hồ thủy lợi, thủy điện để bổ sung nước cho hạ du; rà soát khu vực thiếu nước và chuẩn bị phương án cấp nước, ưu tiên nhu cầu sinh hoạt.
Sản xuất cây ngắn ngày phải được bố trí theo khả năng bảo đảm nước cả vụ, xem xét điều chỉnh thời vụ hoặc chuyển đổi cây trồng ở nơi không đủ nguồn cấp.
Đối với vùng cây lâu năm ngoài hệ thống thủy lợi, phương án chống hạn cần đến được từng khu vực sản xuất, xác định nơi còn nước, nơi cần hỗ trợ và thời điểm có nguy cơ đứt nguồn tưới.
Hợp tác xã, tổ khuyến nông cộng đồng có thể kết nối hướng dẫn kỹ thuật với việc theo dõi, phản ánh thiếu nước, giúp người dân chủ động trước cao điểm hạn.
Theo ông Nguyễn Hồng Khanh, kế hoạch sản xuất phải gắn với khả năng bảo đảm nguồn nước; nơi không đủ nước cần điều chỉnh thời vụ, chuyển đổi cây trồng, đồng thời có phương án riêng cho vùng canh tác ngoài hệ thống thủy lợi.
Với Tây Nguyên, chủ động nguồn nước cũng là bảo vệ vốn liếng nhiều năm của người trồng càphê, hồ tiêu, sầu riêng và giữ nền tảng cho những ngành hàng nông sản tỷ đô./.
