Tăng cường sự hiểu biết và tin cậy chính trị giữa Việt Nam và Mông Cổ

Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ Nguyễn Tuấn Thanh đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN về ý nghĩa, tầm quan trọng của chuyến thăm cũng như điểm sáng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mông Cổ.

Trước thềm chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Mông Cổ, Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ Nguyễn Tuấn Thanh đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN về ý nghĩa, tầm quan trọng của chuyến thăm cũng như điểm sáng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mông Cổ.

- Xin Đại sứ đánh giá ý nghĩa và tầm quan trọng của chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đến Mông Cổ trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Mông Cổ vừa được nâng cấp lên Đối tác toàn diện? Chuyến thăm được kỳ vọng tạo dấu ấn như thế nào trong việc triển khai khuôn khổ quan hệ mới?

Đại sứ Nguyễn Tuấn Thanh: Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ có chuyến thăm Mông Cổ từ ngày 9-11/9/2026.

Trong khuôn khổ chuyến thăm lần này, Chủ tịch Quốc hội sẽ có các cuộc gặp với Chủ tịch Quốc hội, Tổng thống, Thủ tướng Mông Cổ và có nhiều hoạt động quan trọng khác.

Chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đến Mông Cổ là chuyến thăm thứ hai của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1954.

Chuyến thăm có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra vào thời điểm quan hệ Việt Nam-Mông Cổ đang có những bước phát triển rất tích cực và vừa được nâng cấp lên Đối tác toàn diện.

Đây là chuyến thăm cấp cao đầu tiên của lãnh đạo chủ chốt Việt Nam tới Mông Cổ sau khi hai nước nâng cấp quan hệ, là dịp để hai bên cụ thể hóa những cam kết và định hướng lớn đã được các lãnh đạo cấp cao thống nhất. Thể hiện quyết tâm của hai nước đưa khuôn khổ Đối tác toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, chuyến thăm sẽ tăng cường sự hiểu biết và tin cậy chính trị giữa hai nước.

Việt Nam và Mông Cổ có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Trong bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế đang có nhiều biến động, việc duy trì trao đổi cấp cao thường xuyên, tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương càng có ý nghĩa quan trọng.

Đồng thời, chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt đối với việc củng cố quan hệ giữa hai cơ quan lập pháp. Quốc hội là cầu nối quan trọng trong quan hệ hai nước, không chỉ về chính trị mà còn trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và giao lưu nhân dân.

Trong chuyến thăm, Quốc hội hai nước dự kiến sẽ ký kết các văn kiện hợp tác, tạo khuôn khổ và động lực để tăng cường trao đổi kinh nghiệm lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò của nghị viện trong thúc đẩy quan hệ song phương.

Đặc biệt, chuyến thăm cũng là dịp để hai bên trao đổi sâu hơn về những lĩnh vực có nhiều tiềm năng và dư địa lớn, như thương mại, đầu tư, nông nghiệp, năng lượng, du lịch, giao thông vận tải và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc mở rộng các lĩnh vực hợp tác sẽ giúp quan hệ Đối tác toàn diện có thêm những “trụ cột” cụ thể và bền vững.

Chiều 26/8/2026, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp xã giao Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Mông Cổ tại Việt Nam Ganbaatar Hulan. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Tôi cho rằng điểm quan trọng nhất hiện nay là chuyển từ việc xác lập khuôn khổ quan hệ sang tạo ra những kết quả hợp tác cụ thể, để người dân và doanh nghiệp hai nước thực sự cảm nhận được những lợi ích của khuôn khổ hợp tác mới.

Có thể nói, nếu quan hệ được nâng cấp lên Đối tác toàn diện là một cột mốc, thì chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội lần này sẽ là một bước đi quan trọng để biến cột mốc đó thành những chương trình, dự án và kết quả hợp tác cụ thể. Tôi tin tưởng chuyến thăm sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới của quan hệ Việt Nam-Mông Cổ theo hướng ngày càng thực chất, hiệu quả và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

- Sau hơn 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và đặc biệt là sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm năm 2024, quan hệ Việt Nam-Mông Cổ đang có những điểm sáng nào, thưa Đại sứ?

Đại sứ Nguyễn Tuấn Thanh: Sau hơn 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và đặc biệt sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Mông Cổ năm 2024, quan hệ Việt Nam-Mông Cổ đang bước vào một giai đoạn phát triển rất tích cực, với nhiều điểm sáng rõ nét và thực chất hơn.

Trước hết là quan hệ chính trị, ngoại giao ngày càng phát triển, gắn bó và tin cậy. Hai bên duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao và các cơ chế hợp tác như họp Ủy ban liên Chính phủ, tham khảo chính trị, hợp tác về an ninh, quốc phòng… qua đó tăng cường hiểu biết, tin cậy chính trị và phối hợp tại các diễn đàn khu vực, quốc tế. Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện đã mở ra một khuôn khổ mới, tạo động lực để đưa quan hệ song phương đi vào chiều sâu và thực chất hơn.

Thứ hai là hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch đang có thêm nhiều cơ hội mới. Nền kinh tế hai nước có tính bổ trợ cho nhau và còn rất nhiều dư địa để khai thác. Trong đó, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng đang nổi lên là một trụ cột mới trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Lượng hàng hóa xuất khẩu vào mỗi nước gia tăng, trong đó có các sản phẩm thịt gia súc xuất khẩu từ Mông Cổ vào Việt Nam đã góp phần đưa kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng đều đặn hằng năm.

Việc mở, duy trì các đường bay thẳng đã góp phần tăng cường kết nối, tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại, du lịch và nhân dân. Doanh nghiệp hai bên đang được khuyến khích chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác trong những lĩnh vực có tiềm năng như nông nghiệp, thực phẩm, năng lượng, khoáng sản, du lịch, logistics và chuyển đổi số. Hợp tác phát triển du lịch được đẩy mạnh, hai quốc gia đã tăng cường quảng bá, thu hút lẫn nhau về các điểm đến du lịch hấp dẫn giúp lượng du khách tăng đều hằng năm. Việt Nam luôn là một trong những điểm đến ưu thích hàng đầu của người dân Mông Cổ.

Thứ ba là hợp tác về văn hóa, giáo dục tiếp tục được mở rộng. Việt Nam và Mông Cổ đều có văn hóa độc đáo, giàu truyền thống. Sau khi nâng cấp quan hệ ngoại giao đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hợp tác về văn hóa, giáo dục, thể thao. Đã có nhiều chương trình hợp tác cụ thể được triển khai giúp gia tăng sự hiểu biết, gắn bó giữa nhân dân giữa hai nước. Theo đó, hai bên đã tích cực trao đổi các chương trình văn hóa, nghệ thuật, quảng bá về đất nước con người mỗi nước; nhiều tác phẩm văn học, văn hóa tiêu biểu của hai nước đã được dịch sang tiếng của mỗi bên.

Đặc biệt, từ năm 1980, Chính phủ Mông Cổ đã đặt tên Trường liên cấp số 14 tại thủ đô Ulaanbaatar mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là biểu tượng sinh động cho tình hữu nghị bền chặt giữa hai dân tộc, tạo nền tảng vững chắc cho quan hệ hợp tác giáo dục ngày càng phát triển.

Một điểm đáng chú ý nữa là hợp tác địa phương và giao lưu nhân dân ngày càng sinh động. Quan hệ giữa các địa phương của hai nước, trong đó có quan hệ kết nghĩa giữa thủ đô Ulaanbaatar với thủ đô Hà Nội, giữa tỉnh Tuv với tỉnh Phú Thọ, giữa tỉnh Okhon với tỉnh Đắk Lắk đang tạo thêm những kênh hợp tác thiết thực. Cùng với đó là các hoạt động của cộng đồng người Việt Nam tại Mông Cổ, góp phần làm cho quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, gắn bó hơn.

Tôi cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm năm 2024 đã tạo một xung lực rất quan trọng. Khuôn khổ Đối tác toàn diện hiện nay đang dần được chuyển hóa thành những chương trình, dự án và kết quả hợp tác cụ thể. Các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao và hoạt động hợp tác trong thời gian qua đang tiếp tục cụ thể hóa xung lực đó.

Với nền tảng quan hệ hữu nghị, sự tin cậy chính trị và những lợi ích ngày càng đan xen, quan hệ Việt Nam-Mông Cổ đang rất thuận lợi để phát triển lên tầm cao mới, thực chất hơn, hiệu quả hơn và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

- Xin Đại sứ chia sẻ thêm về những dư địa hợp tác của hai nước, đặc biệt là trong lĩnh vực về kinh tế, thương mại, đầu tư và nông nghiệp?

Đại sứ Nguyễn Tuấn Thanh: Theo tôi, dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Mông Cổ còn rất lớn, nhất là trong bối cảnh hai nước vừa nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện và đang bước vào giai đoạn triển khai mạnh mẽ các thỏa thuận, cam kết của lãnh đạo cấp cao. Điều quan trọng là hai bên cần chuyển hóa những tiềm năng đó thành các dự án, chương trình hợp tác cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước.

Trước hết, về kinh tế, thương mại hai nền kinh tế có tính bổ trợ cho nhau khá rõ. Mông Cổ có thế mạnh về khoáng sản, năng lượng, chăn nuôi và một số nguyên liệu cần thiết cho các ngành sản xuất của Việt Nam; trong khi Việt Nam có thế mạnh về chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, nông sản, thực phẩm, dược phẩm, dệt may, điện tử... là những mặt hàng Mông Cổ có nhu cầu cao. Đây là cơ sở để hai nước có thể mở rộng trao đổi hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm và từng bước hình thành các chuỗi cung ứng phù hợp.

Thời gian tới cần đặc biệt quan tâm đến việc tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp hai nước tiếp cận thị trường của nhau, tăng cường các hoạt động kết nối doanh nghiệp, hội chợ, diễn đàn thương mại và đầu tư; đồng thời nghiên cứu những cơ chế phù hợp để tháo gỡ các khó khăn về logistics, thanh toán, tiêu chuẩn chất lượng và thủ tục xuất nhập khẩu.

Việc khai thác tốt các tuyến vận tải và kết nối hàng không hai nước cũng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy thương mại, du lịch và giao lưu nhân dân.

Về đầu tư, có nhiều triển vọng trong các lĩnh vực mà hai bên có thế mạnh và nhu cầu như năng lượng, khoáng sản, công nghiệp chế biến, hạ tầng, logistics, du lịch và dịch vụ. Việt Nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn đã tích lũy được kinh nghiệm trong việc triển khai các dự án đầu tư trong môi trường quốc tế. Mông Cổ cũng đang có nhu cầu thu hút thêm nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm để phát triển các ngành kinh tế ngoài khai khoáng. Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu và tham gia sâu hơn vào thị trường Mông Cổ. Đặc biệt, thời gian gần đây, đã có tập đoàn của Việt Nam đang đầu tư lớn vào lĩnh vực năng lượng tại Mông Cổ, mở ra hướng hợp tác mới, bền vững trong quan hệ hợp tác kinh tế hai nước.

Nông nghiệp và chăn nuôi là một lĩnh vực có nhiều kỳ vọng. Mông Cổ có thế mạnh lớn về chăn nuôi gia súc, trong khi Việt Nam có kinh nghiệm về giống, thú y, chế biến thực phẩm, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp và xây dựng thị trường.

Hai bên có thể nghiên cứu hợp tác từ khâu giống, thức ăn chăn nuôi, thú y, chế biến và bảo quản đến xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, hợp tác trong chế biến sâu các sản phẩm từ thịt, sữa, da và các sản phẩm chăn nuôi có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho cả hai bên.

Bên cạnh đó, hai nước có thể mở rộng hợp tác về nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sử dụng hiệu quả nguồn nước và ứng dụng khoa học-công nghệ trong nông nghiệp. Đây cũng là những lĩnh vực phù hợp với thế mạnh và nhu cầu thực tế của Mông Cổ, đồng thời Việt Nam có nhiều kinh nghiệm có thể chia sẻ.

Tôi cho rằng với khuôn khổ Đối tác toàn diện, chúng ta không chỉ nhìn vào những lĩnh vực hợp tác truyền thống mà cần mạnh dạn mở ra những lĩnh vực mới, có tính dài hạn và tạo động lực tăng trưởng mới. Nếu làm tốt công tác kết nối và tháo gỡ các điểm nghẽn về thị trường, logistics và thông tin, tôi tin rằng hợp tác kinh tế Việt Nam-Mông Cổ sẽ còn rất nhiều không gian để phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của quan hệ hai nước trong thời gian tới.

-Trân trọng cảm ơn Đại sứ./.

(TTXVN/Vietnam+)