Quy định 224-QĐ/TW tạo động lực phát triển đội ngũ doanh nhân có trách nhiệm

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Mạc Quốc Anh, khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng là bước phát triển trong tư duy quản lý, song cần đi đôi với kiểm soát xung đột lợi ích, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và minh bạch.

Ngày 14/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh. Quyết định chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích” đảng viên làm kinh tế là bước tiến mới về tư duy thể chế với mục tiêu giải phóng nguồn lực quốc gia, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; tạo điều kiện để họ tiến bộ, hưởng thành quả tương xứng với đóng góp, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của nhân dân, người lao động với Đảng.

Xung quanh chủ trương này, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Giáo sư-Tiến sỹ Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (Hanoisme).

- Ông nhận định thế nào về việc Trung ương ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh với quan điểm chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích đảng viên làm kinh tế, tạo điều kiện” làm giàu hợp pháp, chính đáng?

Giáo sư-Tiến sỹ Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng việc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra từ ngày 5 đến ngày 8/10 vừa qua, thống nhất đổi mới tư duy về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên làm giàu chính đáng là một bước chuyển có ý nghĩa về nhận thức, tư duy quản lý và phương thức phát huy nguồn lực phát triển đất nước.

Điều đáng chú ý không chỉ là việc thay thế một quy định được ban hành cách đây 20 năm, mà còn là sự thay đổi trong cách nhìn nhận mối quan hệ giữa trách nhiệm chính trị của người đảng viên với quyền làm giàu chính đáng, quyền kinh doanh và trách nhiệm đóng góp cho xã hội.

Theo tôi, cần nhìn nhận vấn đề này trên một số phương diện. Trước hết, đây là sự tiếp nối và phát triển tư duy lý luận về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm 2006, Quy định số 15-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân ra đời trong bối cảnh nhận thức và điều kiện phát triển kinh tế còn nhiều khác biệt.

Quy định đã ghi nhận quyền kinh doanh của đảng viên trong những ngành, nghề pháp luật không cấm, đồng thời đặt ra yêu cầu về trách nhiệm, nghĩa vụ và những giới hạn cần thiết.

Đó là một bước tiến phù hợp với điều kiện lịch sử khi ấy. Tuy nhiên, sau 20 năm, quy mô nền kinh tế, mức độ hội nhập quốc tế, phương thức đầu tư và yêu cầu phát triển doanh nghiệp đã thay đổi sâu sắc.

Chúng ta đang bước vào giai đoạn mà tăng trưởng kinh tế phải dựa nhiều hơn vào năng suất lao động, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khả năng huy động các nguồn lực trong xã hội. Do đó, việc tiếp tục đổi mới quy định là yêu cầu phù hợp với thực tiễn phát triển.

Thứ hai, cần nhận thức rằng làm giàu chính đáng không đối lập với lý tưởng, phẩm chất và trách nhiệm của người đảng viên. Theo tôi, một đảng viên có năng lực kinh doanh, tổ chức sản xuất hiệu quả, tạo ra hàng trăm, hàng nghìn việc làm, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và có trách nhiệm với cộng đồng thì những kết quả đó chính là những đóng góp thiết thực cho đất nước.

Giá trị của người đảng viên trong hoạt động kinh tế không chỉ thể hiện ở nhận thức chính trị mà còn phải được chứng minh bằng năng lực lao động, tinh thần sáng tạo, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.

Chúng ta cần phân biệt rõ giữa làm giàu bằng trí tuệ, lao động, đổi mới sáng tạo với làm giàu thông qua đặc quyền, đặc lợi, lợi dụng quyền lực hoặc các quan hệ không minh bạch. Làm giàu chính đáng cần được khuyến khích; còn hành vi trục lợi, bất kể chủ thể là ai, đều phải được kiểm soát và xử lý nghiêm minh.

- Ở góc độ doanh nhân hoạt động trong khu vực kinh tế tư nhân, ông đánh giá quy định này có ý nghĩa như thế nào đối với phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay?

Giáo sư-Tiến sỹ Mạc Quốc Anh: Chủ trương này có mối liên hệ trực tiếp với việc triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xóa bỏ định kiến, giải phóng nguồn lực và tạo môi trường phát triển bình đẳng.

Tôi cho rằng, khi đã xác định kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng như vậy thì việc khuyến khích những đảng viên có năng lực, điều kiện và đủ tiêu chuẩn pháp lý tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh là sự phát triển phù hợp về mặt chính sách.

Điều này còn có ý nghĩa đối với mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển lực lượng doanh nghiệp Việt Nam có quy mô, trình độ quản trị và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước hướng tới tăng trưởng kinh tế hai con số, chúng ta cần huy động tối đa những nguồn lực hợp pháp, những sáng kiến và năng lực kinh doanh đang tồn tại trong xã hội.

- Quy định số 224-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cũng yêu cầu xác định rõ quyền, điều kiện và giới hạn đối với từng nhóm đảng viên, tăng cường kiểm soát xung đột lợi ích, ngăn chặn việc lợi dụng quyền lực và nguồn lực công để trục lợi. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Giáo sư-Tiến sỹ Mạc Quốc Anh: Khuyến khích đảng viên làm kinh tế phải đồng thời nâng cao yêu cầu về đạo đức, kỷ luật và trách nhiệm nêu gương. Theo tôi, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng.

Không thể hiểu việc chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích” là mở rộng quyền kinh doanh một cách không có giới hạn. Đảng viên hoạt động trong doanh nghiệp tư nhân và đảng viên đồng thời giữ chức vụ trong cơ quan nhà nước có địa vị pháp lý, quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, phạm vi tham gia đầu tư, kinh doanh phải được xác định phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Đối với cán bộ, công chức, người có chức vụ, quyền hạn, phải thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về những hoạt động không được tham gia, phòng chống tham nhũng và kiểm soát xung đột lợi ích. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng sử dụng quyền lực công để tạo lợi ích tư; sử dụng thông tin nội bộ, tài sản công hoặc lợi dụng chức vụ để mang lại lợi thế kinh doanh cho bản thân, gia đình hay doanh nghiệp có liên quan. Theo tôi, khuyến khích làm giàu phải đi đôi với kiểm soát quyền lực; mở rộng cơ hội kinh doanh phải đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình.

Từ thực tiễn hoạt động cùng cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Thủ đô, tôi cho rằng chủ trương này có thể tạo thêm động lực phát triển đội ngũ doanh nhân có trách nhiệm.

Nhiều doanh nhân là đảng viên hiện đang trực tiếp điều hành doanh nghiệp, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ ngân sách, đóng góp vào các chương trình an sinh xã hội và tham gia các hoạt động phát triển địa phương. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đối mặt với những khó khăn về vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất, nhân lực, công nghệ, thị trường và chi phí tuân thủ.

Nếu quy định mới được hoàn thiện rõ ràng, thống nhất, có cơ chế bảo vệ hoạt động kinh doanh hợp pháp thì sẽ góp phần củng cố sự yên tâm của các đảng viên đang kinh doanh và tạo điều kiện để họ phát huy tốt hơn năng lực của mình.

Tuy nhiên, tôi cũng nhấn mạnh rằng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phải bảo đảm bình đẳng, không phân biệt doanh nghiệp do đảng viên hay người không phải đảng viên làm chủ. Môi trường kinh doanh lành mạnh phải được xây dựng trên cơ sở pháp luật, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động, chứ không dựa trên địa vị chính trị của chủ doanh nghiệp.

- Vậy ông có đề xuất gì cụ thể cho việc triển khai quy định mới?

Giáo sư-Tiến sỹ Mạc Quốc Anh: Tôi đề xuất 5 yêu cầu quan trọng khi hoàn thiện và triển khai quy định mới.

Một là, cần xác định rõ quyền, nghĩa vụ, điều kiện và giới hạn đầu tư, kinh doanh đối với từng nhóm đảng viên, bảo đảm thống nhất với pháp luật hiện hành.

Hai là, xây dựng cơ chế minh bạch về sở hữu, lợi ích kinh tế và kiểm soát xung đột lợi ích, đặc biệt đối với những người có chức vụ, quyền hạn; phòng ngừa việc đứng tên hộ hoặc sử dụng pháp nhân trung gian để che giấu lợi ích.

Ba là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đảng viên tham gia kinh doanh; không để những rào cản hành chính thiếu căn cứ làm hạn chế hoạt động đầu tư chính đáng.

Bốn là, phát huy vai trò của tổ chức đảng trong doanh nghiệp, gắn trách nhiệm nêu gương với việc chấp hành pháp luật, bảo vệ người lao động, nâng cao năng suất và xây dựng văn hóa kinh doanh liêm chính.

Năm là, có cơ chế đánh giá hiệu quả thực hiện bằng những kết quả cụ thể như số việc làm được tạo ra, mức độ đổi mới sáng tạo, đóng góp ngân sách, chất lượng quản trị và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Đặc biệt, tôi cho rằng cần quan tâm xây dựng đội ngũ doanh nhân là đảng viên thực sự tiêu biểu về đạo đức và năng lực kinh doanh, có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, điều quan trọng nhất là biến sự đổi mới về tư duy thành những kết quả thực chất trong đời sống kinh tế. Một quy định mới chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi vừa tạo ra hành lang thuận lợi cho hoạt động đầu tư hợp pháp, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, sự minh bạch và công bằng trong tiếp cận các nguồn lực.

Theo tôi, chúng ta cần hướng tới xây dựng đội ngũ đảng viên làm kinh tế không chỉ giỏi tạo ra của cải cho xã hội mà còn có trách nhiệm đối với người lao động, cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước.

Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp: Làm giàu chính đáng là quyền lợi và khát vọng đáng được trân trọng; làm giàu gắn với trách nhiệm xã hội là một giá trị cần được phát huy; còn đối với người đảng viên, sự thành công trong kinh doanh càng phải đi cùng tính tiên phong, gương mẫu và liêm chính.

Chuyển từ tư duy “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” không chỉ đặt ra yêu cầu thay đổi trong quản lý mà còn đòi hỏi chuyển biến trong ý thức trách nhiệm, năng lực hành động và chuẩn mực đạo đức của người tham gia kinh doanh.

Đích đến cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu đảng viên trở thành chủ doanh nghiệp, mà là tạo ra được bao nhiêu giá trị thực chất cho nền kinh tế, bao nhiêu việc làm bền vững, bao nhiêu sản phẩm có sức cạnh tranh và bao nhiêu đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước. Đó mới là thước đo có ý nghĩa của việc đổi mới tư duy về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong giai đoạn phát triển mới.

- Xin trân trọng cảm ơn ông./.

(TTXVN/Vietnam+)