“Nghe” buôn làng Tây Nguyên kể chuyện bản sắc văn hóa giữa lòng Hà Nội

Chương trình “Buôn làng kể chuyện” đưa văn hóa Tây Nguyên đến gần du khách qua những thực hành đời sống, qua đó cho thấy bảo tồn di sản cần bắt đầu từ cộng đồng và gắn với phát triển du lịch bền vững.

Không chỉ trình diễn dân ca, dân vũ hay giới thiệu ẩm thực, chương trình “Buôn làng kể chuyện” vừa diễn ra tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) đã tạo không gian để đồng bào trực tiếp thực hành, trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống. Từ đó, di sản được “sống giữa đời sống,” trở thành trải nghiệm du lịch và mở ra cách tiếp cận mới về bảo tồn văn hóa cộng đồng.

Chương trình đã đưa du khách đến với không gian văn hóa Tây Nguyên qua những hoạt động do chính đồng bào các dân tộc đang sinh sống và hoạt động tại Làng thực hành.

Khi cộng đồng trở thành “người kể chuyện”

Không gian Vườn tượng điêu khắc Tây Nguyên được nhóm đồng bào Raglai, Ê Đê, Gia Rai, Cơ Tu, Tà Ôi, Xơ Đăng tái hiện thành một “buôn làng” với những hoạt động quen thuộc trong đời sống. Người đàn ông đan gùi, phụ nữ dệt vải, già làng kể chuyện về lịch sử, phong tục, truyền thống…, những thực hành tưởng chừng bình dị ấy lại góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của cả cộng đồng.

Đáng chú ý, du khách không chỉ đứng ngoài quan sát mà có thể tham gia vào một số hoạt động như trải nghiệm giã gạo, sàng gạo... Với trẻ em, đây vừa là vui chơi vừa là cơ hội để các em hiểu thêm về hạt lúa, lao động và đời sống của cư dân nông nghiệp. Khi người lớn hướng dẫn, trẻ em cùng thực hành, tri thức không còn nằm trong lời kể mà được tiếp nhận bằng trải nghiệm thực tế.

Cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt đối với di sản văn hóa phi vật thể. Bởi sức sống của những giá trị văn hóa không chỉ nằm ở việc được giới thiệu hay trình diễn trước công chúng, mà ở khả năng tiếp tục được cộng đồng thực hành và truyền lại cho thế hệ sau. Một điệu múa, tiếng cồng chiêng, kỹ thuật dệt hay cách chế biến món ăn chỉ thực sự có sức sống khi vẫn tồn tại trong đời sống của những người nắm giữ nó.

Đây cũng là hướng tiếp cận được Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Chung nhấn mạnh khi nói về vai trò của Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. Theo ông, Làng không chỉ là nơi bảo tồn, gìn giữ và lan tỏa các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, mà còn có vai trò tái hiện môi trường sinh hoạt, trao đổi, giao lưu và trải nghiệm văn hóa sống động, qua đó góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về ý nghĩa bảo tồn di sản.

Từ góc nhìn này, việc đồng bào trực tiếp tham gia “Buôn làng kể chuyện” không đơn thuần tạo nên một chương trình phục vụ du khách. Quan trọng hơn, đó là cách chủ thể văn hóa tự quảng bá mình bằng ngôn ngữ, tri thức và những thực hành đã gắn với đời sống cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Trong “Buôn làng kể chuyện,” phần trình diễn dân ca, dân vũ trở thành một trong những điểm nhấn thu hút du khách. Đồng bào Tà Ôi giới thiệu các tiết mục như “Người họ Hồ làm theo lời Bác,” “Vui hội sim,” “Vọng ngàn mùa xuân;” các tiết mục song ca “Người con gái Pa Kô,” “Rừng xanh vang tiếng Ta lư” gợi lại những câu chuyện về quê hương, đất nước và lịch sử cộng đồng.

Nhóm Ba Na và Gia Rai giới thiệu cồng chiêng và múa xoang - những thực hành văn hóa đặc trưng của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO ghi danh. Cùng với đó, các tiết mục “Đêm hội cồng chiêng,” “Vũ điệu Cơ Tu,” “Sức sống Raglai”… góp phần cho thấy vẻ đa dạng trong đời sống văn hóa của các cộng đồng.

Từ những tiết mục nghệ thuật, chương trình mở rộng sang các thực hành gắn với đời sống như dệt thủ công, chế biến và thưởng thức ẩm thực. Qua đó, du khách có thể quan sát quá trình dệt vải, tìm hiểu cách tạo hoa văn, màu sắc đặc trưng của từng dân tộc; thưởng thức cơm lam, thịt nướng, càphê và những sản vật gắn với đời sống vùng cao.

Như vậy, văn hóa không được tách thành những “tiết mục” riêng biệt mà được đặt trong mối liên hệ giữa lao động, sinh hoạt, nghệ thuật, ẩm thực và ký ức cộng đồng. Chính sự kết nối này giúp du khách có thêm cách tiếp cận với văn hóa Tây Nguyên: không chỉ xem mà còn hiểu và trải nghiệm.

Khi thực hành văn hóa trở thành nguồn lực phát triển

Cách tổ chức những hoạt động như “Buôn làng kể chuyện” cũng đặt ra một vấn đề rộng hơn đối với phát triển du lịch hiện nay: làm thế nào để văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số không chỉ được bảo tồn như một giá trị cần lưu giữ, mà trở thành nguồn lực giúp cộng đồng phát triển mà không đánh mất bản sắc.

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển; đồng thời đặt yêu cầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, di sản gắn với đời sống đương đại. Đây là cơ sở để nhìn nhận những hoạt động thực hành văn hóa không chỉ dưới góc độ bảo tồn, mà còn trong mối quan hệ với phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

Từ góc độ nghiên cứu văn hóa, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Giáo sư, tiến sỹ Từ Thị Loan cũng cho rằng Nghị quyết 80 mở ra cơ hội để văn hóa, trong đó có các ngành công nghiệp văn hóa, trở thành một động lực của tăng trưởng bền vững và góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Đặt trong trường hợp của “Buôn làng kể chuyện,” cách nhìn này cho thấy một hướng đi rộng hơn: khi các giá trị văn hóa được tiếp tục thực hành, được cộng đồng trao truyền và được chuyển hóa thành những trải nghiệm có ý nghĩa đối với du khách, văn hóa có thể trở thành một nguồn lực cho phát triển du lịch.

Đồng bào Tây Nguyên trình diễn dân ca, dân vũ cuối tuần qua. (Ảnh: Thu Lê/Vietnam+)

Điều này cũng có mối liên hệ với định hướng của Nghị quyết 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết đặt vấn đề phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân và phát huy các nguồn lực tại khu vực nông thôn.

Với những cộng đồng dân tộc thiểu số, nơi văn hóa gắn chặt với không gian cư trú, lao động và sinh kế, việc bảo tồn tri thức, nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian hay ẩm thực bản địa vì thế có thể đồng thời tạo thêm giá trị cho sản phẩm du lịch cộng đồng.

Tuy nhiên, giá trị của cách làm này chỉ được phát huy khi cộng đồng giữ vai trò trung tâm. Du lịch không thể thay thế đời sống văn hóa, càng không nên biến những thực hành vốn có ý nghĩa trong cộng đồng thành những màn trình diễn đơn thuần phục vụ du khách. Các chuyên gia du lịch cho rằng việc khai thác văn hóa cho ngành “kinh tế không khói” cần đi cùng bảo vệ tính chân thực, tôn trọng chủ thể và bảo đảm để cộng đồng được hưởng lợi từ chính những giá trị mà họ gìn giữ.

Đây cũng là điểm gặp nhau giữa yêu cầu bảo tồn văn hóa và mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng. Khi người dân có điều kiện tiếp tục thực hành nghề, truyền dạy cho thế hệ trẻ và tạo thu nhập từ những giá trị văn hóa của mình, bảo tồn không còn là nhiệm vụ tách rời khỏi đời sống kinh tế - xã hội. Ngược lại, chính đời sống cộng đồng trở thành môi trường nuôi dưỡng di sản.

Thực tế hoạt động tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam cho thấy mô hình đưa các nhóm nghệ nhân, già làng, trưởng bản từ nhiều địa phương luân phiên về sinh hoạt, biểu diễn và tái hiện đời sống truyền thống được triển khai trong nhiều năm qua. Đây là một trong những cơ sở để các hoạt động văn hóa tại Làng không chỉ dừng ở việc “trưng bày” văn hóa mà tạo ra môi trường để chủ thể văn hóa trực tiếp thực hành và giao lưu.

Trong bối cảnh chính sách văn hóa đang đặt mạnh hơn yêu cầu phát huy giá trị văn hóa như một nguồn lực phát triển, những không gian như Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam có thể đóng vai trò kết nối giữa cộng đồng và công chúng.

Quan trọng hơn, mỗi hoạt động trải nghiệm cần giúp du khách hiểu rằng phía sau một điệu múa, một tấm vải, một món ăn hay tiếng cồng chiêng… là cả một hệ thống tri thức và ký ức được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ.

“Buôn làng kể chuyện,” vì thế không chỉ kể câu chuyện về Tây Nguyên bằng nghệ thuật. Qua những hoạt động rất đời thường như dệt vải, giã gạo, đan gùi, chế biến món ăn hay kể chuyện buôn làng, chương trình cho thấy một hướng tiếp cận khác: để văn hóa tự kể câu chuyện của mình bằng chính những người đang sống với văn hóa ấy.

Đó cũng là nền tảng để bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch theo hướng bền vững, trong đó cộng đồng vừa là chủ thể văn hóa, vừa là người được thụ hưởng từ những giá trị mà mình tạo ra./.

(Vietnam+)