"Ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ trong thập kỷ tới"
Theo lãnh đạo Cục Chăn nuôi - Thú y, nếu tận dụng tốt giai đoạn hiện nay, ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh trong thập kỷ tới và có vị thế cao trên bản đồ nông nghiệp thế giới
Tại Hội nghị khoa học, công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất, diễn ra ngày 28/3, nhiều ý kiến chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp cho rằng ngành chăn nuôi đang đứng trước “cánh cửa tái cấu trúc” mang tính bước ngoặt - khi những biến động toàn cầu không chỉ tạo áp lực, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc toàn diện theo hướng hiện đại và bền vững.
Đặc biệt, với định hướng rõ ràng, khả thi đến năm 2030 là phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, kiểm soát tốt dịch bệnh và nâng cao chuỗi giá trị, ngành chăn nuôi không chỉ củng cố nội lực mà còn mở rộng dư địa xuất khẩu. Nếu tận dụng tốt “cửa sổ cơ hội” này, ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ trong thập kỷ tới, qua đó khẳng định vị thế trên bản đồ nông nghiệp thế giới.
Làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ
Nêu ý kiến từ góc độ doanh nghiệp, tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Minh - Phó Tổng Giám đốc Công ty BAF Việt Nam cho rằng thời gian qua, dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi (ASF), đã làm thay đổi căn bản cách nhìn về sản xuất. Nếu trước đây trang trại được thiết kế để tối ưu năng suất, thì hiện nay yếu tố quan trọng nhất lại là khả năng kiểm soát rủi ro sinh học.
Thực tế, trong điều kiện dịch bệnh chưa được kiểm soát hoàn toàn, một trang trại chỉ cần “hở” một mắt xích cũng có thể dẫn đến thiệt hại toàn bộ. Vì vậy, để phát triển bền vững, hệ thống an toàn sinh học không còn là một tập hợp các quy trình rời rạc, mà phải tổ chức thành nhiều lớp bảo vệ liên hoàn. Nghĩa là trang trại không còn đơn thuần là nơi sản xuất thịt, mà dần trở thành một hệ thống quản trị tổng thể, nơi rủi ro được kiểm soát bằng công nghệ và giá trị được tạo ra từ chính những gì trước đây bị coi là chi phí.
Chia sẻ thêm về bức tranh phòng chống dịch tả lợn châu Phi và hành trình phát triển vaccine trong nước, ông Nguyễn Văn Điệp - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần AVAC Việt Nam, cho rằng dịch tả lợn châu Phi là bệnh do virus gây ra, hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và đang gây ra những thiệt hại rất lớn trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, kể từ khi xuất hiện năm 2019, dịch bệnh này đã khiến hơn 7 triệu con lợn phải tiêu hủy, gây thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, vaccine được xem là giải pháp chủ động, hiệu quả và bền vững nhất để kiểm soát dịch.
“Dù đã có nhiều công nghệ vaccine khác nhau được nghiên cứu nhưng đến nay, vaccine sống giảm độc lực vẫn là hướng đi khả thi nhất về mặt thương mại. Đây cũng là con đường mà nhiều doanh nghiệp, trong đó có AVAC, đang theo đuổi”, ông Nguyễn Văn Điệp nhấn mạnh.
Tuy vậy, để phát triển được một vaccine có thể đưa ra thị trường, theo ông Điệp, ngành chăn nuôi nói chung cần giải quyết đồng bộ ba vấn đề cốt lõi. Thứ nhất là xây dựng được hệ thống nuôi cấy tế bào ổn định phục vụ sản xuất quy mô lớn. Thứ hai là tạo được chủng virus giống gốc vừa đảm bảo an toàn, vừa duy trì hiệu lực bảo hộ. Và thứ ba là hoàn thiện bộ dữ liệu đầy đủ để đánh giá toàn diện trước khi cấp phép lưu hành.
Đối với ngành bò sữa, ông Trần Trung Mỹ - Giám đốc QA Khối Trang trại Tập đoàn TH, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý: quy mô đàn có xu hướng giảm, trong khi yêu cầu về sản lượng và chất lượng sữa ngày càng cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng suất trên từng cá thể vật nuôi thay vì mở rộng số lượng. Đặc biệt, trong khi phương pháp thụ tinh nhân tạo truyền thống giúp cải thiện di truyền nhưng tiến độ còn chậm, thì chuỗi công nghệ phôi đang trở thành giải pháp đột phá, cho phép rút ngắn đáng kể chu kỳ chọn lọc và nhân giống.
Theo ông Mỹ, trên thế giới, công nghệ phôi in vitro (IVP) đã vượt mốc 2 triệu phôi, chiếm hơn 80% tổng số phôi sản xuất, cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt sang công nghệ này. Tại Việt Nam, Tập đoàn TH là một trong những đơn vị tiên phong triển khai và làm chủ chuỗi công nghệ phôi ở quy mô công nghiệp, bao gồm khai thác noãn, thụ tinh trong ống nghiệm (IVP) và cấy truyền phôi. Việc làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ đã giúp rút ngắn thời gian cải tiến di truyền, đồng thời nâng cao đáng kể chất lượng đàn bò sữa.
Bên cạnh đó, theo ông Mỹ, việc ứng dụng chuỗi công nghệ phôi không chỉ giúp tăng nhanh tiến bộ di truyền mà còn là "chìa khóa" để ngành bò sữa Việt Nam chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất trên từng cá thể, thay vì phụ thuộc vào mở rộng đàn.
Từng bước tham gia vào thị trường xuất khẩu
Về phía cơ quan quản lý, ông Phạm Kim Đăng - Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi - Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phúc lợi động vật và yếu tố môi trường. Dự báo đến năm 2030, nhu cầu thịt, trứng, sữa tiếp tục tăng, nhưng đi kèm với các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe.
Trong khi đó, cơ cấu sản xuất cũng thay đổi theo hướng giảm dần thịt đỏ, tăng tỷ trọng gia cầm và tối ưu hóa năng suất thông qua công nghệ.
Trước bối cảnh đó, ngành chăn nuôi đã có những bước phát triển đáng kể, vươn lên nhóm quốc gia có quy mô sản xuất lớn trên thế giới. Sản lượng thịt, trứng, sữa giai đoạn 2020-2025 duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần đảm bảo an ninh thực phẩm và từng bước tham gia vào thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, đại diện lãnh đạo Cục Chăn nuôi - Thú y cũng thẳng thắn nhìn nhận tăng trưởng trên vẫn chưa thực sự bền vững khi ngành còn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là thức ăn chăn nuôi, cũng như chưa chủ động hoàn toàn về con giống và công nghệ.
Một điểm đáng lưu ý là cấu trúc sản xuất còn phân tán, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ, khiến giá trị gia tăng thấp và rủi ro thị trường cao. Bên cạnh đó, áp lực từ dịch bệnh, biến đổi khí hậu và yêu cầu giảm phát thải đang ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi mô hình phát triển.
Dù vậy, theo ông Đăng, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn có nhiều dư địa để bứt phá. Bởi lẽ, nhu cầu thị trường trong nước ổn định, tiềm năng xuất khẩu còn lớn, trong khi khoa học công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số và công nghệ sinh học, đang mở ra cơ hội nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
Phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2030, ngành chăn nuôi sẽ phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và kiểm soát tốt dịch bệnh. Tổng sản lượng thịt dự kiến đạt trên 10 triệu tấn, sản lượng trứng hơn 25 tỷ quả và sữa khoảng 1,6 triệu tấn, đồng thời nâng cao tỷ trọng xuất khẩu và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Trọng tâm của quá trình phát triển của ngành là xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi thông minh; toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, chăn nuôi, thú y đến chế biến và phân phối được vận hành trên nền tảng công nghệ. Khoa học công nghệ và chuyển đổi số được xác định là động lực xuyên suốt, giúp ngành chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu.
Để đạt được mục tiêu trên, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi - Thú y Phạm Kim Đăng cho biết ngành sẽ tập trung làm chủ công nghệ giống, nâng cao tỷ lệ tự chủ nguồn giống trong nước, đồng thời phát triển ngành thức ăn chăn nuôi theo hướng bền vững, tận dụng phụ phẩm và giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Trong lĩnh vực thú y, ông Đăng cho biết việc chủ động phòng chống dịch bệnh, phát triển vắc xin và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đạt chuẩn quốc tế được xem là yếu tố then chốt để đảm bảo phát triển ổn định; đẩy mạnh công nghiệp giết mổ, chế biến sâu và logistics nhằm nâng cao giá trị gia tăng và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường xuất khẩu.
Ngành chăn nuôi cũng xác định sẽ chú trọng phát triển chuỗi giá trị khép kín, tăng cường liên kết giữa các khâu trong sản xuất và tiêu thụ, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số toàn ngành, từ truy xuất nguồn gốc đến quản trị thị trường. “Nếu tận dụng tốt giai đoạn hiện nay, ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ trong thập kỷ tới, từ một ngành sản xuất truyền thống sang ngành kinh tế hiện đại, hiệu quả và có vị thế cao trên bản đồ nông nghiệp thế giới,” ông Đăng nói.

Có chung quan điểm, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Văn Long cho biết giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ đột phá với trọng tâm là xây dựng chương trình khoa học và công nghệ mang tính chiến lược, tập trung vào các công nghệ lõi.
Một trong những định hướng quan trọng là ứng dụng công nghệ di truyền tiên tiến như chỉnh sửa gen và chọn giống theo hệ gen nhằm tạo ra các giống vật nuôi có năng suất cao, kháng bệnh tốt.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng được xác định là trụ cột phát triển, với mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) ngành chăn nuôi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán dịch bệnh và tự động hóa sản xuất.
Trong lĩnh vực thú y, chiến lược phát triển vaccine tam giá phòng ba bệnh nguy hiểm trên gà thế hệ mới được đặt lên hàng đầu, hướng tới làm chủ các công nghệ nền tảng như Reverse Genetics, CRISPR và mRNA.
"Mục tiêu là chủ động sản xuất vaccine trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu và từng bước xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao," ông Long nhấn mạnh và cho biết ngành cũng sẽ thúc đẩy mô hình chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và hướng tới mục tiêu Net Zero thông qua nghiên cứu tái chế chất thải, phát triển phụ gia thức ăn giảm khí nhà kính.
“Với nền tảng đã đạt được và định hướng chiến lược rõ ràng, chương trình khoa học công nghệ lĩnh vực chăn nuôi và thú y giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo an ninh dịch bệnh và đưa ngành chăn nuôi, thú y Việt Nam phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập toàn cầu,” ông Long nhấn mạnh./.
