Lâm Đồng phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung gần 4.750ha
Đến năm 2030, tỉnh Lâm Đồng phấn đấu rà soát, xây dựng và hoàn thiện khoảng 4.748ha vùng nguyên liệu tập trung, ưu tiên các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh.
Theo Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030," Lâm Đồng hướng đến phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hình thành các vùng nguyên liệu tập trung theo lợi thế của tỉnh
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu rà soát, xây dựng và hoàn thiện khoảng 4.748ha vùng nguyên liệu tập trung, ưu tiên các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh.
Trong số đó, vùng cà phê chất lượng cao và càphê đặc sản có quy mô 2.000-2.200ha; vùng cây ăn quả chủ lực như sầu riêng, bơ khoảng 1.000-1.200ha; vùng chè chất lượng cao từ 400-500ha; vùng rau an toàn, rau chế biến công nghệ cao từ 450-500ha.
Các nhóm hồ tiêu, mắc ca, chanh dây và khoai lang xuất khẩu cũng được định hướng phát triển phù hợp với điều kiện từng địa phương.
Giai đoạn 2026-2028, tỉnh ưu tiên nguồn lực hoàn thiện mô hình vùng nguyên liệu càphê trọng điểm tại xã Phúc Thọ và xã Di Linh, với quy mô tối thiểu 500ha.
Cùng với phát triển vùng sản xuất, kế hoạch chú trọng đầu tư hạ tầng giao thông và logistics, phấn đấu nâng cấp, kiên cố hóa tối thiểu 20 km đường giao thông nội vùng kết nối với quốc lộ, đường tỉnh và các cơ sở sơ chế, đóng gói, bảo quản, qua đó, hướng đến giảm ít nhất 10% chi phí vận chuyển, rút ngắn 10–15% thời gian thu gom và giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 15%.
Nâng cao năng lực hợp tác xã, tăng cường liên kết chuỗi giá trị
Kế hoạch xác định hợp tác xã, tổ hợp tác là đầu mối tổ chức sản xuất, trong khi doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Theo đó, 100% hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia vùng nguyên liệu được bồi dưỡng, tập huấn về quản trị sản xuất, tài chính - kế toán, kiểm soát chất lượng, quản trị hợp đồng và dữ liệu số.
Các vùng nguyên liệu được hỗ trợ phải có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác làm đầu mối tổ chức sản xuất và có doanh nghiệp ký hợp đồng liên kết tiêu thụ từ 3 năm trở lên.

Tỉnh phấn đấu có 60-70% sản lượng nông sản được tiêu thụ thông qua hợp đồng liên kết chuỗi giá trị; doanh thu của hợp tác xã, tổ hợp tác và thu nhập bình quân của thành viên, hộ nông dân tham gia chuỗi tăng tối thiểu 10% so với trước khi thực hiện kế hoạch.
Để bảo đảm hiệu quả liên kết, các bên cần thực hiện minh bạch về tiêu chuẩn chất lượng, phương thức xác định giá mua và trách nhiệm theo hợp đồng. Đồng thời, tỉnh chú trọng củng cố mạng lưới Tổ khuyến nông cộng đồng, tăng cường đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hướng dẫn canh tác an toàn và hỗ trợ người dân ứng dụng công nghệ số trong sản xuất.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp xanh
Chuyển đổi số là một trong những nội dung trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vùng nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Tỉnh phấn đấu 100% diện tích vùng nguyên liệu được hỗ trợ hoàn thành bản đồ số GIS, tích hợp tọa độ định danh ranh giới lô, thửa đất, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng quy định EUDR của Liên minh châu Âu.
Ít nhất 70% diện tích vùng nguyên liệu được định hướng áp dụng phần mềm nhật ký sản xuất điện tử, thực hiện cấp và giám sát mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo quy định. Toàn bộ cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu của tỉnh được kết nối, liên thông với nền tảng dữ liệu số dùng chung của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bảo đảm tính đồng bộ, an toàn thông tin và tránh đầu tư phần mềm trùng lặp.
Bên cạnh đó, kế hoạch hướng đến giảm 10-15% lượng phát thải khí nhà kính trong canh tác, trên 30% diện tích áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Các mô hình cà phê cảnh quan, xen canh cây ăn quả, cây che bóng thích ứng với biến đổi khí hậu được khuyến khích nhân rộng. Việc chuyển giao công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học cũng góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm sử dụng phân bón hóa học.

Tỉnh đồng thời chú trọng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc trưng như “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành,” càphê Di Linh, Arabica Langbiang, Trà B’Lao và sầu riêng Đạ Huoai; hỗ trợ kết nối tiêu thụ qua hệ thống phân phối hiện đại, sàn thương mại điện tử và thị trường xuất khẩu.
Tổng nhu cầu vốn dự kiến thực hiện kế hoạch giai đoạn 2026-2030 là 728 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương dự kiến 51 tỷ đồng; ngân sách địa phương và nguồn vốn lồng ghép là 206 tỷ đồng; vốn xã hội hóa từ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ dân và nguồn tín dụng là 471 tỷ đồng.
Nguồn lực tập trung cho đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số, đào tạo hợp tác xã, phát triển liên kết chuỗi giá trị và nâng cao năng lực sơ chế, chế biến, bảo quản nông sản./.
