Không để cơ chế đặc biệt trở thành thông lệ trong xây dựng pháp luật
Chủ tịch Quốc hội đồng tình với việc kéo dài hiệu lực các văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt, tuy nhiên chỉ được gia hạn một lần kèm theo quy định rõ phụ lục danh mục cụ thể.
Sáng 23/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
Thảo luận tại Tổ 2, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết: "Đây là Nghị quyết chưa có tiền lệ, Quốc hội mở cho Chính phủ một 'làn tốc hành' để gỡ các vướng mắc mà đi đường thông thường phải chờ rất lâu."
Theo Báo cáo của Chính phủ, nhờ thực hiện cơ chế này, trong hơn 1 năm qua đã có 26 nghị quyết được thông qua; 556/786 phản ánh, kiến nghị đã được xử lý.
Đặc biệt, chỉ riêng 5 nghị quyết được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong năm 2026 đã giúp tiết kiệm 53% về thời gian, 55% về chi phí tuân thủ, tương đương khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm cho người dân và doanh nghiệp.
Đánh giá cao những kết quả trên, song Chủ tịch Quốc hội cũng đặc biệt lưu ý những nút thắt cần tiếp tục giải quyết. Theo đó, để không tạo khoảng trống pháp lý, Chủ tịch Quốc hội đồng tình với việc kéo dài hiệu lực các văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt, tuy nhiên chỉ được gia hạn một lần (đến ngày 31/12/2027), kèm theo quy định rõ phụ lục danh mục cụ thể từng nghị quyết, văn bản được kéo dài hiệu lực.
Chính phủ cần báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến độ định kỳ và gắn với trách nhiệm giải trình, trên tinh thần "gia hạn để hoàn thành chứ không phải để hoãn."
Đồng thời, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu thay đổi thước đo đánh giá cải cách. Cụ thể, không nên chỉ đếm số thủ tục được cắt giảm hay số nghị quyết được ban hành, mà phải đo bằng thời gian, chi phí mà người dân, doanh nghiệp tiết kiệm được trên thực tế và mức độ hài lòng của họ.
Đối với một số nghị quyết thời gian thực hiện còn ngắn, chưa đủ thời gian kiểm nghiệm đầy đủ hiệu quả thì chưa vội vàng luật hóa. Việc luật hóa cơ chế ủy quyền lập pháp phải rất thận trọng, không để cơ chế đặc biệt, khẩn cấp biến thành thông lệ làm bào mòn kỷ cương và tính ổn định của pháp luật.

Cho ý kiến đối với dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, đây là "đạo luật gốc," có ý nghĩa nền tảng, quyết định chất lượng của hệ thống pháp luật, do đó cần bảo đảm tính chuẩn mực, chặt chẽ, khả thi.
Đồng tình với việc tiếp tục đơn giản hóa quy trình xây dựng văn bản, tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội lưu ý "không đánh đổi chất lượng để lấy tốc độ," việc rút gọn thủ tục không đồng nghĩa với giảm trách nhiệm; đồng thời đề nghị giữ quy trình thẩm định chính sách, đánh giá tác động và lấy ý kiến chuyên gia đối với những vấn đề cần thiết.
Bên cạnh đó, cần quy định chặt chẽ cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp; thể chế hóa đầy đủ các kết luận của Trung ương, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra, tiếp thu tối đa ý kiến đại biểu, hoàn thiện dự thảo theo hướng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và hiệu quả thực thi trong thực tiễn.
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh yêu cầu đặt ra đối với dự thảo Luật không chỉ cần để rút gọn quy trình, giảm số lượng hình thức văn bản hay đẩy nhanh tiến độ ban hành, mà quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ thống quy định rất rõ ràng, thống nhất và dễ áp dụng, có tính ổn định và thực tiễn cao, đồng thời xác định được đầy đủ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong toàn bộ quá trình từ đề xuất chính sách, xây dựng, ban hành đến tổ chức thi hành và đánh giá hiệu quả của các văn bản.
Đánh giá cao dự thảo Luật đã dự kiến điều chỉnh theo hướng tinh gọn quy trình, tăng tính chủ động, linh hoạt và rút ngắn thời gian xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cho rằng việc đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xây dựng, ban hành phải bảo đảm thực chất, giảm thủ tục không cần thiết nhưng không giản lược những khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng chính sách, chất lượng thẩm tra và trách nhiệm giải trình của các cơ quan có liên quan.
Phân tích bối cảnh các lần sửa đổi Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng khẳng định, tất cả các lần sửa đổi đều nhằm thể chế hóa những chủ trương rất lớn của Đảng có liên quan đến công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Việc sửa đổi lần này trọng tâm là để thể chế hóa Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nội dung sửa đổi Luật bám sát vào các định hướng của Kết luận.
Đối với nội dung được nhiều đại biểu quan tâm liên quan đến đề xuất cơ chế Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quy định của luật trong một số trường hợp khẩn cấp, cấp bách, Quốc hội không thể họp được, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, đây là vấn đề đã được nêu trong Đề án trình Bộ Chính trị xem xét để ban hành Kết luận số 09-KL/TW; trong đó đã nghiên cứu, lý giải rất rõ những vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cho thấy sự phù hợp của chủ trương này, do đó phải đưa vào luật để thể chế hóa.
Theo Bộ trưởng, đây là một cơ chế mang tính chất ủy quyền lập pháp đặc biệt và tạm thời: Đặc biệt ở chỗ chỉ áp dụng trong những tình huống đặc biệt gắn với bối cảnh và điều kiện rất cụ thể được quy định tại dự thảo Luật; tạm thời ở chỗ việc áp dụng cơ chế này nhằm đáp ứng ngay yêu cầu giải quyết một tình huống khẩn cấp, cần thiết đang đặt ra, sau đó phải sửa đổi luật để luật hóa cho đúng quy định. Đây là một giải pháp để phản ứng chính sách kịp thời, trong bối cảnh và hoàn cảnh đặc biệt.

Bày tỏ tán thành với các ý kiến đề nghị quy định rất chặt chẽ về điều kiện áp dụng và cơ chế kiểm soát, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho biết dự thảo Luật đã có quy định rất cụ thể về các tầng nấc kiểm soát và điều kiện áp dụng cơ chế này. Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến các đại biểu nêu, nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện thêm quy định về nội dung này nhằm đảm bảo chặt chẽ.
Theo đại biểu Lê Thị Thanh Lam (Cần Thơ), dự thảo Luật đã có nhiều bước tiến mới trong việc tinh gọn hình thức văn bản, cải cách quy trình lập pháp và tăng cường trách nhiệm thi hành.
Quan tâm tới nội dung về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật (Chương VIII - Điều 57 đến Điều 65), đại biểu nêu rõ dự thảo dành riêng Chương VIII bổ sung toàn diện các quy định về tổ chức thi hành; giải thích Hiến pháp, luật; hướng dẫn áp dụng; kiểm tra, rà soát, hợp nhất, pháp điển; đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách.
Đại biểu Lê Thị Thanh Lam nhận định khâu tổ chức thi hành pháp luật lâu nay vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn.” Tình trạng văn bản hay nhưng khó vào cuộc sống hoặc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết diễn ra thường xuyên.
Đại biểu đánh giá cao việc bổ sung Điều 65 về “Đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách,” đồng thời đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành.
Ngoài ra, cần quy định rõ chế tài xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan chậm ban hành văn bản quy định chi tiết hoặc ban hành văn bản trái pháp luật, gây thiệt hại cho Nhà nước, người dân và doanh nghiệp./.
