Giao thương, kết nối hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam và Trung Quốc
Chương trình kết nối, giao thương, xúc tiến hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội để hai bên tiến tới hình thành chuỗi giá trị sầu riêng ổn định.
Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ sầu riêng chủ lực, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng sầu riêng Đắk Lắk. Địa phương này có 280 vùng trồng với khoảng 7.500 ha và 41 cơ sở đóng gói quả tươi đã được phê duyệt mã số xuất khẩu. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê mới nhất, diện tích được cấp mã số mới đáp ứng khoảng 17-28%; 253 mã số vùng trồng với khoảng 6.532 ha cùng 92 cơ sở đóng gói đang chờ phía Trung Quốc phê duyệt.
Trong bối cảnh đó, Chương trình kết nối, giao thương, xúc tiến hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam-Trung Quốc diễn ra trong ngày hôm nay (19/8), được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội để hai bên không chỉ mở rộng thị trường, mà còn tiến tới hợp tác sâu trong vùng nguyên liệu, chế biến, bảo quản, logistics, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu, từng bước hình thành chuỗi giá trị sầu riêng ổn định, minh bạch và bền vững.
Không chạy theo diện tích mà hướng tới chất lượng sầu riêng
Đắk Lắk hiện là một trong những địa phương có vùng sản xuất sầu riêng lớn nhất của Việt Nam. Về thị trường, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chính, chiếm tới 70% tổng sản lượng sầu riêng Đắk Lắk và trên 90% kim ngạch sầu riêng cả nước. Đây cũng là cơ sở để tỉnh tăng cường kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp nhập khẩu, thu mua và phân phối của Trung Quốc.
Trong bối cảnh đó, Chương trình kết nối, giao thương, xúc tiến hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam-Trung Quốc, được tổ chức nhằm kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã, vùng trồng của Việt Nam với các đối tác Trung Quốc trong sản xuất, thu mua, chế biến, logistics và phân phối sầu riêng tại Trung Quốc.
Tại chương trình, hai bên sẽ tập trung trao đổi vào hệ sinh thái chuỗi cung ứng sầu riêng, trong đó có yêu cầu thị trường, kiểm dịch, kiểm định, truy xuất nguồn gốc, thông quan và dịch vụ tài chính - ngân hàng; cơ hội đầu tư vào chế biến sâu, kho lạnh, logistics và thương mại điện tử.
Đặc biệt, hoạt động kết nối doanh nghiệp (B2B) sẽ tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc trao đổi trực tiếp về nhu cầu thu mua, sản lượng, tiêu chuẩn, giá cả, phương thức giao nhận và khả năng hợp tác, qua đó tìm kiếm đối tác và thúc đẩy các thỏa thuận thương mại cụ thể trong thời gian tới.
Theo ông Lê Anh Trung - Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, thị trường Trung Quốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với người trồng và doanh nghiệp sầu riêng Việt Nam. Những năm qua, ngành hàng này phát triển nhanh nhờ cơ hội thị trường. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng tốc độ tăng trưởng không thể là nền tảng duy nhất cho một ngành hàng muốn phát triển lâu dài.
Ông Trung nêu quan điểm: “Muốn đi nhanh có thể dựa vào cơ hội thị trường, nhưng muốn đi xa phải dựa vào chất lượng, uy tín và niềm tin của đối tác.”
Với Đắk Lắk, theo ông Trung đây là địa phương có lợi thế vùng nguyên liệu lớn, nông dân giàu kinh nghiệm cùng hệ thống doanh nghiệp thu mua, đóng gói, chế biến và xuất khẩu đang phát triển. Trong điều kiện đó, không gian hợp tác có thể mở rộng sang chế biến, bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, logistics, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Đây cũng là những lĩnh vực mà tỉnh Đắk Lắk mong muốn doanh nghiệp Trung Quốc tham gia sâu hơn.
Vì vậy, ông Trung đề nghị các đối tác chia sẻ thị trường Trung Quốc đang cần sản phẩm gì, thị hiếu người tiêu dùng thay đổi ra sao và doanh nghiệp nhập khẩu cần gì từ vùng nguyên liệu, doanh nghiệp Đắk Lắk, để hai bên có thể xác định những lĩnh vực cùng đầu tư, tạo giá trị trong 5-10 năm tới.
Về phía Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, ông Trung cam kết hiệp hội sẽ đóng vai trò cầu nối doanh nghiệp Trung Quốc với nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan liên quan tại Đắk Lắk. Theo đó, trường hợp đối tác có nhu cầu tìm vùng nguyên liệu, doanh nghiệp xuất khẩu hay đầu tư vào chế biến, kho lạnh, logistics và công nghệ sẽ được hiệp hội hỗ trợ kết nối với các chủ thể phù hợp.
Chia sẻ thêm về định hướng phát triển thời gian tới, ông Trần Văn Thắng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, cho biết Đắk Lắk sẽ không chạy theo mở rộng diện tích và sản lượng, mà chuyển sang nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm, tính đồng đều và giá trị sản phẩm.
Do đó, ngành sầu riêng cần chuyển từ tư duy “sản xuất rồi tìm người mua” sang sản xuất theo nhu cầu thị trường, tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và đối tác quốc tế. “Hiệp hội cũng xác định cần đẩy mạnh chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, logistics, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu,” ông Thắng nói.

Với thị trường Trung Quốc, ông Thắng nhấn mạnh Đắk Lắk mong muốn chuyển từ quan hệ mua bán theo mùa vụ sang hợp tác chuỗi giá trị dài hạn.
Theo đó, phía bạn có thể tham gia đầu tư chế biến, kho lạnh, logistics, công nghệ và hệ thống phân phối. Ở chiều ngược lại, Đắk Lắk sẽ cung cấp vùng nguyên liệu, nông dân và doanh nghiệp. Mục tiêu là xây dựng chuỗi liên kết bền vững, giúp nông dân có thị trường ổn định, doanh nghiệp nâng cao giá trị và người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm chất lượng.
Chia sẻ tại chương trình, bà Tăng Hiểu Ngọc, đại diện Tập đoàn Chứng nhận và Giám định Trung Quốc (CCIC), nhấn mạnh ngành sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc đang đứng trước cơ hội chuyển từ giao dịch thương mại đơn thuần sang hợp tác tổ chức và nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị.
Vì vậy, theo CCIC, Việt Nam cần bảo đảm nguồn cung chất lượng thông qua tối ưu giống, xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, huy động chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường giám sát bằng công nghệ số. Sau thu hoạch, hệ thống chuỗi lạnh cần được đầu tư để duy trì độ tươi của sầu riêng ngay từ những phút đầu tiên. Mô hình này gồm kho lạnh tại vùng nguyên liệu, chuỗi lạnh xuyên suốt quá trình vận chuyển và cơ chế điều phối thông minh.
Cùng với đó, cần số hoá truy xuất nguồn gốc, bảo đảm mỗi lô hàng có thể kiểm nghiệm và mỗi sản phẩm có thể xác định được thông tin nguồn gốc.
Bà Tăng Hiểu Ngọc cũng đề cập đến việc mở rộng hệ thống phân phối và xây dựng thương hiệu. Theo đại diện CCIC, nếu kênh phân phối quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm thì thương hiệu quyết định giá trị. Vì vậy, cần kết hợp hệ thống phân phối trực tiếp với các kênh trực tuyến, đồng thời đẩy mạnh marketing để nâng cao độ nhận diện sầu riêng Việt trên thị trường.
Về tài chính, các cơ chế tài trợ đơn hàng, tín dụng dựa trên chứng từ kho và các sản phẩm quản trị rủi ro sẽ giúp giảm áp lực vốn cho nông hộ, doanh nghiệp trong các khâu canh tác, chế biến và lưu thông. Theo bà Ngọc, đây cũng là giải pháp hỗ trợ chuỗi ứng phó với biến động giá cả.
Trên cơ sở đó, đại diện CCIC đề nghị hướng tới mở rộng hệ sinh thái giá trị thông qua chế biến sâu sầu riêng, phát triển nguyên liệu cho ngành thực phẩm, du lịch nông nghiệp và các lĩnh vực tiềm năng. Doanh nghiệp hai nước có thể liên doanh, cùng đầu tư tại vùng trồng trọng điểm và xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro dài hạn.
Phía CCIC cũng đề xuất xây dựng nền tảng số kết nối vùng trồng, kho bãi và thị trường, chia sẻ dữ liệu về đất, khí hậu, sâu bệnh, nhu cầu tiêu dùng, giá cả, đơn hàng, logistics và tồn kho. Trước mắt, hai bên củng cố nền tảng thông qua xây dựng các mô hình trình diễn canh tác chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam và hệ thống kho tại cửa khẩu phía Trung Quốc.
Về dài hạn, theo đại diện Tập đoàn Chứng nhận và Giám định Trung Quốc, việc xây dựng 1-2 thương hiệu có ảnh hưởng trên thị trường Trung Quốc sẽ là bước đi quan trọng, nhằm chuyển lợi thế vùng nguyên liệu và sản lượng thành giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh lâu dài cho sầu riêng Việt./.
