Gia Lai: Vướng hồ sơ kỹ thuật khiến tranh chấp 11.500m² đất chưa thể giải quyết

Việc giải quyết các tranh chấp đất đai trên cơ sở hồ sơ đầy đủ, chứng cứ khách quan và đúng trình tự, thủ tục pháp luật sẽ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, hạn chế phát sinh khiếu kiện.

Một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất kéo dài nhiều năm tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trước đây (nay thuộc xã Phù Mỹ Tây, tỉnh Gia Lai) đã được Tòa án Nhân dân huyện Phù Mỹ xét xử sơ thẩm, buộc bên đang quản lý, sử dụng đất trả lại diện tích 11.500m2 cho hộ ông Trần Văn Nhơn.

Tuy nhiên, sau khi bản án được ban hành, vụ việc tiếp tục phát sinh vướng mắc liên quan đến hồ sơ, tài liệu kỹ thuật đất đai, khiến quá trình giải quyết chưa thể hoàn tất.

Hai khu đất được xác định riêng biệt

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ(cũ), vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” được thụ lý theo số 38/2024/TLST-DS ngày 10/4/2024, giữa nguyên đơn là ông Trần Văn Nhơn và bị đơn là bà Huỳnh Thị Mười.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Phan Văn Chớ, bà Đoàn Thị Phụng và một số người khác. Diện tích đất tranh chấp là 11.500m2, thuộc lô số 7a, tiểu khu 179, tại thôn Phước Thọ, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trước đây.

Theo trình bày của ông Trần Văn Nhơn, gia đình ông được Ủy ban Nhân dân huyện Phù Mỹ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 4/4/2003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00084/QSDĐ đối với diện tích đất nêu trên. Từ năm 2012, vợ chồng bà Huỳnh Thị Mười và ông Phan Văn Chớ sử dụng diện tích đất này để trồng cây keo lai. Ông Nhơn yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà Mười, ông Chớ trả lại diện tích 11.500m2.

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, bà Mười và ông Chớ cho rằng gia đình đã nhận chuyển nhượng đất lâm nghiệp từ người khác, sau đó thực hiện thủ tục sang tên đối với diện tích thuộc lô số 6 và 7b, tiểu khu 179, tổng diện tích 47.500m2.

Qua xem xét hồ sơ, tài liệu và chứng cứ, Hội đồng xét xử xác định diện tích thuộc lô số 7a, tiểu khu 179 đã được Ủy ban Nhân dân huyện Phù Mỹ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn Nhơn từ năm 2003.

Đồng thời, diện tích lô số 7a của hộ ông Nhơn và phần đất thuộc lô số 6, 7b mà phía bà Mười, ông Chớ cho rằng đã nhận chuyển nhượng là hai khu đất riêng biệt.

Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử cho rằng việc vợ chồng bà Mười, ông Chớ sử dụng diện tích 11.500m2 thuộc lô số 7a đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nhơn.

Buộc trả lại 11.500m2 đất

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Theo quyết định của bản án sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Mười và ông Phan Văn Chớ phải trả lại cho hộ ông Trần Văn Nhơn diện tích 11.500m2 đất thuộc lô số 7a, tiểu khu 179, tại thôn Phước Thọ, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ.

Đối với tài sản trên đất, nguyên đơn đồng ý nhận toàn bộ số cây keo lai do vợ chồng bà Mười, ông Chớ trồng trên diện tích đất tranh chấp và thanh toán lại giá trị cây theo kết quả định giá. Bản án xác định trên diện tích đất tranh chấp có 8.214 cây keo lai.

Tòa án giao toàn bộ số cây này cho hộ ông Trần Văn Nhơn sở hữu, sử dụng; đồng thời hộ ông Nhơn có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng bà Mười, ông Chớ số tiền 70.444.800 đồng, tương ứng giá trị số cây theo kết quả định giá.

Về yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị Mười đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Trần Văn Nhơn, Hội đồng xét xử không chấp nhận. Theo bản án, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố trong thời gian Tòa án tiến hành hòa giải.

Đến ngày 2/6/2025, sau khi Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 6/5/2025, bà Mười mới có đơn yêu cầu phản tố. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu phản tố được đưa ra sau thời điểm luật định nên không được chấp nhận.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bản án buộc vợ chồng bà Mười, ông Chớ phải chịu 16 triệu đồng và hoàn trả số tiền này cho bà Đoàn Thị Phụng là người đã nộp tạm ứng.

Cần sớm giải quyết dứt điểm khiếu kiện, khiếu nại kéo dài

Từ diễn biến vụ án có thể thấy, trong các tranh chấp quyền sử dụng đất, việc xác định đầy đủ, chính xác nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng, ranh giới, diện tích và hiện trạng đất có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ việc.

Đối với những trường hợp tranh chấp đã kéo dài, các tài liệu địa chính, bản đồ, số liệu đo đạc và kết quả xác định hiện trạng đất cần được rà soát, đối chiếu thống nhất, qua đó giúp cơ quan tiến hành tố tụng có đầy đủ căn cứ xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Theo phản ánh của gia đình bà Đoàn Thị Phụng, sau khi vụ án được xét xử sơ thẩm, quá trình giải quyết tiếp theo còn phát sinh vướng mắc liên quan đến việc bổ sung một số tài liệu kỹ thuật về đất đai, trong đó có các nội dung liên quan đến tọa độ, diện tích và hiện trạng khu đất. Gia đình bà Phụng mong muốn các cơ quan có thẩm quyền sớm phối hợp kiểm tra, hoàn thiện những tài liệu còn thiếu để vụ việc được tiếp tục giải quyết.

Trao đổi với phóng viên TTXVN, ông Nguyễn Thanh Tân, Thẩm phán Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Gia Lai cho biết đơn vị sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để hoàn thiện hồ sơ, tài liệu đo đạc còn thiếu, tạo cơ sở tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Thực tế cho thấy việc cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ địa chính và các tài liệu kỹ thuật liên quan có vai trò quan trọng trong giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất. Đối với những vụ việc kéo dài, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tố tụng và các cơ quan chuyên môn trong việc rà soát, bổ sung, xác định chính xác các thông tin về đất đai sẽ góp phần rút ngắn thời gian giải quyết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Việc giải quyết các tranh chấp đất đai trên cơ sở hồ sơ đầy đủ, chứng cứ khách quan và đúng trình tự, thủ tục pháp luật không chỉ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân mà còn góp phần hạn chế phát sinh khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, giữ vững ổn định, trật tự tại cơ sở./.

(TTXVN/Vietnam+)