Điện Biên Phủ và bài học về nghệ thuật "tạo thế trận" trong bảo vệ Tổ quốc
Nét đặc sắc trong nghệ thuật tạo lập thế trận trong Chiến dịch Điện Biên Phủ được thể hiện ở việc xác lập thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) của quân và dân ta kết thúc bằng Chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu."
Với chiến thắng đó, dân tộc ta đã viết thêm "thiên sử vàng" trong lịch sử chống ngoại xâm. Bàn về những giá trị nghệ thuật quân sự của Chiến dịch Điện Biên Phủ, không thể không nhắc tới nghệ thuật tạo thế trận, với những bài học kinh nghiệm giúp chúng ta vận dụng trong thực tiễn công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tổ chức thế trận tác chiến toàn diện
Đề cập đến lý luận và thực tiễn trong hoạt động tác chiến, các danh nhân quân sự thường bàn đến "Lực-Thế-Thời-Mưu." Đây là những yếu tố cốt lõi nhất, phản ánh sức mạnh quân sự tổng hợp của các bên tham chiến. Mỗi thành phần đều mang nội hàm có giá trị đặc trưng riêng, song những yếu tố này luôn có mối quan hệ biện chứng không tách rời nhau và quyết định sự thành bại trong hoạt động tác chiến và cả cuộc chiến tranh.
Theo "Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam," "thế là tổng thể các hoàn cảnh, điều kiện cùng với xu thế vận động và khả năng phát triển của các bên tham chiến dựa vào để phát huy sức mạnh trong chiến tranh... Thế trận là tổng thể các biện pháp tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham chiến để giành thắng lợi trong tác chiến..."
Nét đặc sắc trong nghệ thuật tạo lập thế trận trong Chiến dịch Điện Biên Phủ trước hết được thể hiện ở việc xác lập thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp; xây dựng thành công "thế trận lòng dân."
Việc tiến hành thế trận chiến tranh nhân dân đã tạo ra thế trận tác chiến rộng khắp, đánh địch với các quy mô: đánh nhỏ, lẻ của các lực lượng vũ trang địa phương, du kích trong vùng tạm chiếm; đánh tập trung của các binh đoàn chủ lực ở những địa bàn chiến lược được lựa chọn. Đây là cơ sở rất quan trọng để ta triển khai, bố trí tập trung lớn lực lượng chủ lực, hình thành thế trận vây chặt, khóa chắc địch trong thung lũng Điện Biên, phân tán địch trên các chiến trường khác, buộc địch luôn bị động, bất ngờ bởi phương pháp tác chiến chiến dịch sáng tạo.
Bên cạnh đó, Chiến dịch tuy diễn ra ở vùng rừng núi có ít dân, chỉ có bộ đội chủ lực, tuy nhiên, lòng dân ở vùng giải phóng, lòng dân ở vùng địch tạm chiếm cũng như lòng dân trên khắp mọi miền Tổ quốc đều hướng về trận quyết chiến chiến lược với khát khao, kỳ vọng vào sự thắng lợi của Chiến dịch.
Bảo đảm cho trận Điện Biên Phủ, ta đã huy động được sức mạnh của cả nước: trên 20.500 tấn gạo; 14,7 triệu ngày công; 261.500 dân công; 628 xe ôtô vận tải; 21.000 xe đạp thồ...

Quá trình tác chiến Chiến dịch, các lực lượng của ta đã sớm hình thành thế "vây chặt, khóa chắc" từng cụm cứ điểm và cả tập đoàn cứ điểm, chia cắt thế liên hoàn của địch.
Quá trình chuẩn bị Chiến dịch theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh," là quá trình quân ta hình thành thế bao vây quân địch quy mô lớn hơn, chặt chẽ hơn quanh cánh đồng Mường Thanh. Khi ta thay đổi sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc" cho đến ngày quân ta giành toàn thắng, hệ thống chiến hào hàng trăm ki lô mét ngày càng ken dày và siết chặt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, phân khu.
Mọi kế hoạch tháo chạy của địch đều không thể thực hiện vì chiến hào của ta đã bao vây chặt và không ngừng vươn tới áp sát địch. Ta đã hình thành thế trận hạn chế đến mức thấp nhất điểm mạnh của địch là quân số đông, hỏa lực mạnh, công sự vững chắc; đồng thời khoét sâu chỗ yếu lớn nhất của chúng là ở vào thế bị bao vây, cô lập và gặp nhiều khó khăn về tiếp tế tăng viện.

Những nét đặc sắc về nghệ thuật tạo thế trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã thuộc về lịch sử. Tuy nhiên, những bài học kinh nghiệm quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Đó là nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân từ thời bình, sẵn sàng bổ sung, chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; song song với xây dựng thế trận tác chiến chiến lược, được chuẩn bị trên cơ sở tổ chức chiến trường, xác định các hướng, khu vực, mục tiêu chiến lược phải bảo vệ, được bổ sung, điều chỉnh hằng năm và hoàn thiện trong giai đoạn chuẩn bị trực tiếp khi có chiến tranh. Tổ chức thế trận tác chiến chiến lược phải toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại.
Đồng thời, việc chủ động chuẩn bị thế trận tác chiến phòng thủ chiến lược (hướng chiến lược) trên các chiến trường trong Chiến dịch cũng cho thấy bài học về xây dựng thế trận phòng thủ chiến lược hiện nay phải gắn với quy hoạch, kế hoạch tổng thể về phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia theo hướng kết hợp kinh tế với quốc phòng-an ninh; quốc phòng-an ninh với kinh tế; kết hợp giữa bố trí cơ cấu kinh tế với phân vùng chiến lược, điều chỉnh bố trí dân cư; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phòng thủ, thiết bị chiến trường cũng như các căn cứ hậu phương chiến lược...
Phát huy nội lực, tranh thủ sức mạnh thời đại
Chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng để lại bài học về phát huy tinh thần độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế. Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những chuyển biến lớn, trong đó có những tác động thuận lợi đối với cách mạng Việt Nam. Liên Xô hoàn thành công cuộc năm năm khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội kể từ sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc (1946-1950).
Nửa cuối năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, đã mở ra cơ hội cho Việt Nam tiếp xúc với thế giới bên ngoài thông qua mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa.
Tranh thủ sự chuyển biến theo chiều hướng có lợi của tình hình thế giới, ngày 14/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố về đường lối đối ngoại, trong đó nêu rõ: Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Việt Nam.
Ngay sau tuyên bố đó, lần lượt các quốc gia: Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã chính thức công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Có thể nói đây là một thắng lợi ngoại giao to lớn đối với Việt Nam, chấm dứt thời kỳ chiến đấu đơn độc, bị cách ly với bên ngoài và từ đó tiếp nhận sự đồng tình về chính trị và sự viện trợ về vật chất.

Thế cô lập, "chiến đấu trong vòng vây" của cách mạng Việt Nam dần được phá bỏ, Việt Nam mở được cánh cửa ra thế giới bên ngoài thông qua con đường biên giới phía Bắc, biên giới Việt-Trung. Một mặt, Việt Nam chính thức có sự ủng hộ và viện trợ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa; mặt khác, nhân dân thế giới hiểu rõ về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và có sự ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta.
Do đó, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngoài tinh thần "dựa vào sức mình là chính" đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam vận dụng và lãnh đạo từ giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta còn nhận được sự hỗ trợ to lớn của quốc tế, trước hết là từ các nước xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, cùng với phát huy sức mạnh dân tộc, cách mạng Việt Nam đã có điều kiện tranh thủ sức mạnh thời đại, gắn nội lực với ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện mục tiêu kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. Điều đó cho thấy ngoài tinh thần tự lực, tự cường dân tộc cần phải được phát huy cao độ, thì toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, một mặt phải tranh thủ sự hỗ trợ về tinh thần và vật chất của quốc tế, nhưng mặt khác phải giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ trước những tác động nhiều chiều từ chính các quan hệ quốc tế./.
