Có quy định ngăn ngừa lợi dụng chính sách để kéo dài thời gian miễn thuế
Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Đoàn tỉnh Quảng Trị), nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14.
Chiều 17/10, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại tổ về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều ý kiến cho rằng, đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế, nhưng không quá 5 năm kể từ khi thành lập, chính sách cần gắn thời gian ưu đãi với khả năng tạo ra thu nhập thực tế, đồng thời có quy định ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách để kéo dài thời gian miễn thuế.
Hoàn thiện chính sách vốn, thuế để hỗ trợ doanh nghiệp thực chất
Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Đoàn tỉnh Quảng Trị), nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14. Theo đại biểu, việc chuyển từ tên gọi “hỗ trợ” sang “phát triển” chỉ thực sự có ý nghĩa khi các chính sách được thiết kế phù hợp và đến được với doanh nghiệp.
Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ cho rằng, khó khăn lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa là tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản bảo đảm. Luật năm 2017 đã quy định các công cụ hỗ trợ như bảo lãnh tín dụng, cho vay qua Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cấp bù lãi suất.
Tuy nhiên, dự thảo luật mới không còn quy định cụ thể các công cụ này, mà chủ yếu dừng ở định hướng chính sách; hỗ trợ lãi suất chỉ áp dụng với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và đáp ứng tiêu chuẩn ESG.
Theo đại biểu, hạn chế của các quỹ hỗ trợ xuất phát một phần từ cơ chế vận hành, yêu cầu bảo toàn vốn và thiếu quy định về tỷ lệ chấp nhận rủi ro. Do đó, cần hoàn thiện cơ chế thay vì loại bỏ các công cụ chia sẻ rủi ro tín dụng.
Đại biểu đề nghị luật quy định nguyên tắc chia sẻ rủi ro tín dụng, làm rõ mối quan hệ với Nghị quyết số 198/2025/QH15 về phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời bổ sung quy định chuyển tiếp đối với các hợp đồng bảo lãnh, cho vay đang thực hiện.
Về chính sách thuế, đại biểu Nguyễn Khánh Vũ đánh giá đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu là nội dung cần tiếp tục nghiên cứu.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa phát sinh thu nhập chịu thuế hoặc có thu nhập chịu thuế không đáng kể trong những năm đầu hoạt động.
Nếu thời gian ưu đãi được tính ngay từ ngày thành lập, doanh nghiệp có thể không tận dụng được đầy đủ chính sách khi bắt đầu có lợi nhuận.
Đại biểu đề nghị tính thời gian miễn thuế từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, đồng thời quy định giới hạn thời gian chờ để tránh lợi dụng chính sách. Nội dung này cũng cần được rà soát để bảo đảm thống nhất với pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cùng quan tâm đến chính sách thuế, đại biểu Đoàn Thị Lê An (Đoàn tỉnh Cao Bằng), cho rằng cần thiết kế ưu đãi theo hướng vừa khuyến khích thành lập doanh nghiệp, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đại biểu đề xuất doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế, nhưng không quá 5 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Theo đại biểu, phương án này giúp gắn thời gian ưu đãi với khả năng tạo ra thu nhập thực tế, đồng thời đặt ra giới hạn để bảo đảm hiệu quả quản lý.
Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ tác động đối với ngân sách nhà nước và tính tương thích với pháp luật thuế trước khi quyết định phương án cụ thể.
Đồng thời, cần nghiên cứu chính sách thuế phù hợp với doanh nghiệp đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật về thuế và tránh trùng lặp ưu đãi.
Một vấn đề khác được đại biểu Đoàn Thị Lê An lưu ý là nguy cơ lợi dụng chính sách miễn thuế thông qua việc chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi hoặc thành lập doanh nghiệp mới nhằm kéo dài thời gian ưu đãi.
Vì vậy, cần có điều kiện áp dụng rõ ràng, nhưng phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến chính sách khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Chính sách hỗ trợ cần phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Bên cạnh vốn và thuế, tiếp cận mặt bằng sản xuất là vấn đề được các đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện. Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ nhận định, quy định tại Điều 10 dự thảo về cơ bản vẫn tiếp tục cách hỗ trợ gián tiếp thông qua chủ đầu tư hạ tầng, nên tác động trực tiếp đến doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế.
Đại biểu đề nghị quy định cấp phiếu hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp để thanh toán tiền thuê đất là phương thức chính, thay vì chỉ là một trong các phương thức được lựa chọn.
Đồng thời, cần bổ sung nghĩa vụ hoàn trả ngân sách đối với chủ đầu tư đã nhận hỗ trợ nhưng không dành diện tích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại.
Đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ chủ sở hữu và trách nhiệm quản lý đối với tài sản hạ tầng hình thành từ nguồn hỗ trợ của ngân sách địa phương, tránh phát sinh khoảng trống trong quản lý tài sản.
Từ góc độ địa phương miền núi, biên giới, đại biểu Lò Thị Luyến (Đoàn tỉnh Điện Biên), cho rằng chính sách hỗ trợ mặt bằng cần tính đến nhu cầu thực tế, quy hoạch và khả năng thu hút doanh nghiệp.
Việc quy định cứng tỷ lệ diện tích đất dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chưa phù hợp với những địa phương có hoạt động sản xuất, kinh doanh phân tán, quy mô nhỏ.
Theo đại biểu, nếu không gắn chỉ tiêu diện tích với nhu cầu thực tế, có thể xảy ra tình trạng đất đã được bố trí nhưng không có doanh nghiệp thuê, trong khi doanh nghiệp vẫn thiếu mặt bằng phù hợp với quy mô sản xuất.
Do đó, cần nghiên cứu giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định diện tích đất cụ thể trên cơ sở nhu cầu, quy hoạch, quỹ đất và khả năng thu hút doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc theo cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội ban hành.
Bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, tránh chồng chéo
Một nội dung khác được các đại biểu quan tâm là nguyên tắc lựa chọn doanh nghiệp được nhận hỗ trợ. Đại biểu Lò Thị Luyến cho rằng quy định ưu tiên doanh nghiệp nộp hồ sơ trước có thể tạo lợi thế cho những đơn vị có điều kiện tiếp cận thông tin và hạ tầng số thuận lợi hơn, trong khi doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới có thể gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý quy định về thứ tự áp dụng các nguyên tắc lựa chọn, bảo đảm mục tiêu hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm. Các nhóm doanh nghiệp yếu thế và doanh nghiệp tại địa bàn khó khăn cần được xem xét phù hợp với mục tiêu của luật. Đồng thời, dự thảo cần bổ sung đầy đủ nhóm doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ vào diện ưu tiên theo quy định tương ứng.
Đối với chính sách dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ và doanh nghiệp hoạt động tại miền núi, biên giới, hải đảo, đại biểu Đoàn Thị Lê An đề nghị mở rộng các hình thức hỗ trợ theo hướng sát hơn với nhu cầu thực tế.
Theo đại biểu, các chính sách về nền tảng số, tiếp cận thị trường, đào tạo và tư vấn là cần thiết, nhưng chưa giải quyết đầy đủ khó khăn về vốn của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số.
Nhiều doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh, sản phẩm và thị trường tiềm năng nhưng thiếu vốn đầu tư, tài sản bảo đảm và khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính phù hợp.
Do đó, đại biểu đề xuất bổ sung cơ chế ưu tiên tiếp cận các chương trình hỗ trợ tín dụng, bảo lãnh tín dụng, tư vấn tài chính và nâng cao năng lực quản trị tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ tại địa bàn khó khăn.
Theo đại biểu, đây là cách tạo điều kiện tiếp cận vốn có kiểm soát rủi ro, không đồng nghĩa với việc Nhà nước trực tiếp góp vốn cho doanh nghiệp.
Đại biểu Đoàn Thị Lê An cũng kiến nghị có cơ chế hỗ trợ chuyên sâu cho doanh nghiệp do phụ nữ dân tộc thiểu số làm chủ trong các lĩnh vực như sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản, sản phẩm thủ công truyền thống và du lịch cộng đồng.
Nội dung hỗ trợ cần gắn với quản trị doanh nghiệp, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và tham gia chuỗi giá trị.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên doanh nghiệp có phương án tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc cho phụ nữ dân tộc thiểu số, người lao động tại địa bàn khó khăn. Các tiêu chí đánh giá phải cụ thể, minh bạch, tránh tình trạng hỗ trợ hình thức./.
