Bốn gương mặt thơ nữ họ Đoàn: Bốn hệ quy chiếu đạo đức và thẩm mỹ

Không chỉ độc đáo vì cùng họ Đoàn, Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu cùng lấy tình yêu làm trung tâm biểu đạt, mỗi người mõi kiểu nhưng thơ của họ bài nào găm vào người đọc bài ấy.

Bốn gương mặt thơ nữ họ Đoàn. Đó là Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu và Cuốn “Thi phẩm Tứ nữ họ Đoàn” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1-2026, .352 trang).

Không chỉ độc đáo ở chỗ cùng họ Đoàn, cùng lấy tình yêu làm trung tâm biểu đạt, mỗi người mỗi kiểu nhưng thơ của họ bài nào găm vào người đọc bài ấy.

Nhiều bài làm tôi điếng người vì…. HAY. Mỗi người mỗi vẻ HAY, mỗi người mỗi khác biệt căn bản trong cấu trúc cảm xúc và sự lựa chọn thi pháp. Nếu đặt bốn người trên một trục vận động nội tâm, ta sẽ thấy một tiến trình đáng suy nghĩ về Thơ nữ.

Cô đơn bản thể. Căn tính gia đình. Bản năng chiếm hữu. Tự vấn và thanh lọc. Mỗi người là một trạng thái của người phụ nữ trong tình yêu, nhưng không ai lặp lại ai.

Họ là các nữ thi sỹ có tài, chữ nào chữ ấy rất “đắt”. Tôi sẽ trích (ngẫu nhiên) mỗi tác giả vài ba bài, và bình vui về thơ của họ, những người đàn bà tài sắc này tặng mọi người:

Đoàn Thị Tảo – Cô đơn như một định mệnh hiện sinh

Xin đưa 2 bài Cô đơnNgày chị sinh để thấy chân dung thơ Đoàn Thị Tảo hiện lên rõ nét ở hai bình diện: cái tôi cô độc và cái tôi gắn với huyết thống.

“Tôi cô đơn nhất hành tinh
Thế gian thừa đúng một mình tôi thôi
Ước gì cũng có một người
Cũng cô đơn cũng ngậm ngùi giống tôi.”

Đây không phải cô đơn do tình yêu tan vỡ. Không có “anh,” không có đối tượng cụ thể. Cái tôi đặt mình giữa “hành tinh” - một không gian vũ trụ hóa.

Câu “Thế gian thừa đúng một mình tôi thôi” đặc biệt đáng chú ý. Cảm thức “thừa” là cảm thức hiện sinh: con người như một sự dư ra của tồn tại.

Nhưng điểm tinh tế nằm ở mong ước:

“Ước gì cũng có một người
Cũng cô đơn cũng ngậm ngùi giống tôi.”

Chị không tìm hạnh phúc. Chị tìm sự đồng dạng trong nỗi buồn. Đây là một triết lý về chia sẻ:

Cái buồn chia sẻ làm đôi
Nửa cho bên ấy, nửa tôi để dành.”

Thi pháp của Đoàn Thị Tảo giản dị đến mức tối thiểu. Không ẩn dụ phức tạp, không cấu trúc cầu kỳ. Nhưng chính sự tối giản ấy tạo nên chiều sâu. Ngôn từ ít trang sức làm lộ trực diện cảm xúc.

Trong “Ngày chị sinh,” giọng thơ mở rộng ra không gian gia đình và vũ trụ:

Hoa gạo đỏ - hình tượng quen thuộc của tháng Ba - được đặt vào khoảnh khắc sinh thành. Thiên nhiên không chỉ làm nền, mà tham dự vào số phận.

“Ngày chị sinh trời cho làm thơ
Cho hết buồn vui bốn mùa trăn trở.”

“Trời cho làm thơ” - thơ trở thành định mệnh. Không phải nghề nghiệp, mà là ân ban và gánh nặng.

Ở Đoàn Thị Tảo, ta thấy một người phụ nữ yêu mãnh liệt, nhưng không có sự sở hữu cụ thể. Chị càng âm thầm yêu thì tình yêu càng mãnh liệt và sự cô đơn càng ở mức tột cùng. Cô đơn của chị là một định mệnh cá nhân, được nâng đỡ bởi tình thân và ý thức thi ca.

Mặc dù câu thơ: “ Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan” là Đoàn Thị Tảo viết cho người chị gái Đoàn Lê, nhưng đó cũng là chân dung cả hai chị em, mỗi người một cách bỏ chợ, và đa đoan. Đọc bài thơ này, và nhiều bài thơ khác của Đoàn Thị Tảo, nhiều lần mắt tôi nhòa đi.

Thêm một ví dụ: Lời một người tình

(…Cho anh xin..)
Em đừng buộc chỉ cổ tay
Anh xin em đấy những ngày có nhau
Dẫu rằng bến đó đò đâu
Trách chi lỡ một nhịp cầu đành xa.
Rút ruột kén tằm
Em xe sáu
Rồi lại tết ba
Có thắt trăm nút hận cũng ra nút tình
Lẽ nào để cổ tay xinh
Nặng thêm cái sợi đa tình…Hỡi em.”

Thơ Đoàn Thị Tảo độc đáo ở hình ảnh, ở ngôn ngữ, tạo ra những day dứt đầy ấn tượng.

Đoàn Thị Ký - Căn tính gia đình và biểu tượng làng quê

Thơ Đoàn Thị Ký cũng là thơ yêu nhưng mở rộng đối tượng yêu, người tình, gia đình, bạn bè và đất đai và quê hương.…

“Tre nhà ấm bụi, họ Đoàn chín chị em tôi*
Quả nắm nem, ba trai sáu gái chung họ Đoàn
Khác mẹ cùng nôi…”
( * 9 chị em ruột của Đoàn Thị Ký)

Cấu trúc liệt kê ở đây không đơn thuần là kể. Nó tái tạo không khí gia đình đông đúc, chật chội nhưng ấm. “Tre nhà,” “nắm nem,” “nôi” - toàn bộ là những hình ảnh vật chất cụ thể. Ngôn ngữ dân gian sử dụng tài tình.

Đoàn Thị Ký không triết luận về tình yêu; chị dựng không gian xuất phát của tình yêu: gia đình. Biểu tượng Cây rơm rất độc đáo, biểu tượng căn tính Việt.

Cây rơm, cây rơm con dấu đầu làng ...”

Hình ảnh “con dấu” là sáng tạo đáng chú ý. Cây rơm, vật dụng nông nghiệp, được nâng lên thành biểu tượng xác nhận bản sắc làng.

Mùa đi cọng rơm ở lại ôm ghì đất đai như con gái, con trai...”

Động từ “ôm ghì” làm rơm có thân thể. Đất đai và con người nhập vào nhau.

Thơ Đoàn Thị Ký có vẻ mộc mạc, nhưng phía sau là ý thức tổ chức hình tượng rất rõ: vật thể-ký ức-căn tính, ngôn ngữ cũng vô cùng độc đáo.

Giọng thơ của Đoàn Thị Ký dìu dặt, ấm áp. Nhưng không phải ủy mị. Ở đó có sự chắt lọc và kỹ tính trong diễn đạt. Trường cảm xúc của chị xoay quanh: Hiếu đạo, Làng quê. Sự chịu đựng và hy sinh.

Bài thơ “Mong người” của Đoàn Thị Ký tặng bạn thơ Đoàn Thị Lam Luyến thật cảm động. Đoàn Thị Ký không chỉ hiểu bạn thơ Đoàn Thị Lam Luyến một cách sâu sắc, mà còn thương và mong Luyến có được hạnh phúc. Bài thơ sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh quen thuộc bình dân, của dân gian thật tài tình:

"Xin người hãy cứ làm thơ
Đồng làng mía ngọt liền bờ ngô non
Tương gừng dầm cá rô ron.
Còn dư dả lắm miếng ngon cõi trần.
Bàn tay chăm bát canh cần.
Là bàn tay của xuất thần tài hoa.
Sự đời như chiếc lá đa.
Ai bảo làm nhà trên lưng cá voi.
Sự đời lắm lúc ra roi.
Đàn bà má phấn chống Giời - khó thân
Dễ đâu có phúc có phần.
Vân chương Giời phú, ái ân dời đầy.
Trái giòn chẳng ở tầm tay
Còn bao trái chát rụng đầy vườn sau.
Câu thơ càng ngẫm càng đau.
Mà người vẫn sống cho nhau ân tình,
Lựa kim đồng vọng sinh linh.
Ú trầm lành áo, chúng mình.
Người ơi."

Thơ Đoàn Thị Ký bài nào cũng chân thật đến đáy, không làm duyên mà duyên hết sức. Cái duyên thầm kín, càng đọc mới càng thấy yêu người thơ biết bao.

Những câu như: “…Quá mùa run rẩy đường tơ/Thì yêu lấy cái lơ vơ hữu tình/ Cậy người bố trận bài binh/ Cứ lơ vơ hết nỗi mình biết đâu…”

Hay như trong bài Thời gian:

Làm sao tìm được thời gian
Từng hong tơ lụa non ngàn xa xanh
Hỏi cây lâm nhánh vươn cành
Hỏi con suối trút an lành cạn khô
Dưng đâu in phận đồng hồ
Chậm lên dây cót sóng xô nổi chìm
Vớt sao cho được mà tìm
Lệ hờn năm tháng, chiếc kim mù lòa!
Thưa dần, cay đắng, chua ngoa
Mà bình minh vẫn có quà linh đan
Mai kia là chiếc lá han
Cho nhau đủ ngứa râm ran sự đời”

Chữ Đoàn Thị Ký dùng rất thú vị. Giản dị mà giàu triết lý. Chị tự răn chị mà đời thấy đấy là một bài học nhân quả thường gặp.

Bài Chịu đựng cũng tài hoa trong sử dụng hình ảnh để nói lên sự nhẫn nhịn trong quan hệ vợ chồng (cũng như trong mọi quan hệ) để giữ được người ở lại bên mình…

“Em cố tưởng tượng sự chịu đựng lẫn nhau
Giống cái gì trong nhà ta nhỉ
Cái bình chứa nước mát
Chỉ nửa ấm bình đã đầy
Tràn ra bàn sẽ ướt
Nền nhà nhấp nháp.
Ấy vậy mà hơn ngàn ngày chúng ta chịu đựng lẫn nhau
Cá tính, thói quen
Có cơ thốc ra như nước.
Bao lần sắp tràn mà không tràn ra được!
Không hẳn vì sợi dây vô tình ràng buộc
Vì những cái linh tinh lang thang
Vì mái nhà rồi ẩm thấp.
Con ruồi con bọ sinh sôi.
Mỗi lần rót, hai ta đều chừng mực.
Và có lẽ đấy là điều duy nhất
Khiến em và anh còn chịu đựng được lẫn nhau.
Mỗi ban mai
Trang giấy đặt lên bàn không ướt.”

Đoàn Thị Lam Luyến – Bản năng và bi kịch chiếm hữu

Dường như Đoàn Thị Lam Luyến là giọng thơ mạnh và giàu xung đột nhất trong bốn người. Từ thơ, có thể nhận diện ra chân dung của Đoàn Thị Lam Luyến với ba nét chính: Nữ tính bản năng, không triết luận dài dòng, không lý thuyết hóa, cảm xúc nói bằng hình ảnh, Một người “yêu như điên và giận như sôi,” “… như vạt cháy rừng quanh năm đòi cứu hỏa"…

Chồng chị chồng em - mâu thuẫn định mệnh

"Xưa thì chị
Nay thì em
Phải duyên chồng vợ, nối thêm tơ hồng
Được lúa, lúa đã gặt bông
Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa
Mặn mà cũng khác ngày xưa
Bâng khuâng như chửa bao giờ bén duyên
Gần được ấm, xa được êm
Biết thì ruộng hóa, cũng nên mùa màng
Cái giần vục phải cái sàng
Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau
Lá bùa từ thuở Mỵ Châu
Lá bài Trọng Thuỷ còn đau đến giờ
Tình yêu một mất mười ngờ
Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau.
Cái phận trước, cái duyên sau
Nào ai tính được dài lâu với trời?
Khi vui, muốn có một người
Khi buồn muốn cả đất trời hoà chung.
Đã từ hai mảnh tay không
Kể chi mẹ ghẻ, con chung, chồng người?
Dở dang suốt nửa cuộc đời
Bỗng dưng gặp được một người thương nhau

* Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã trầu về têm"

Hai vế “chị-em” tạo cấu trúc đối lập ngay từ đầu.

“Cái phận trước, cái duyên sau
Nào ai tính được dài lâu với trời?”

Ở đây, tình yêu được đặt vào bình diện số phận. Không phải biện hộ đạo đức, mà là thừa nhận sự bất khả kiểm soát.

Hình ảnh “Lá bùa từ thuở Mỵ Châu/Lá bài Trọng Thủy còn đau đến giờ!”

Liên văn bản dân gian làm tình yêu mang màu sắc bi kịch truyền thống. Trong bài này, nhà thơ đưa câu chuyện cá nhân vào chiều sâu huyền thoại dân tộc. Mỵ Châu-Trọng Thủy là biểu tượng của:

• Tình yêu lẫn phản bội

• Mất mát gắn với định mệnh lịch sử

Cách dùng “lá bùa” - “lá bài” tạo cảm giác tình yêu như trò đỏ đen, như một sự sắp đặt không thể cưỡng. Tình yêu vì thế không còn thuần túy cá nhân mà mang màu sắc số phận. Cấu trúc cảm xúc: từ bâng khuâng → chấp nhận → tự định vị

Bài thơ vận động theo một đường cong cảm xúc rất rõ: Thừa nhận tình huống. Ý thức nghịch lý. Soi chiếu vào huyền thoại. Chấp nhận thân phận. Kết lại bằng nghịch lý thản nhiên.

Câu kết:

Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã trầu về têm

Đây là câu thơ gây tranh cãi nhất, và cũng nói đúng nhất tính cách của nhà thơ trong một giai đoạn (Sau này Đoàn Thị Lam Luyến buông bỏ hết và nhập tu tại gia).

“Bã trầu” là hình ảnh cực kỳ giàu tính văn hóa/ cũng như phản cảm: Phần còn lại sau khi đã nhai. Phần dư thừa. Phần người khác đã dùng. Nhưng điều gây chấn động không phải hình ảnh ấy, mà là chữ “thản nhiên” lặp lại hai lần. Không oán trách. Không khóc lóc. Chỉ “thản nhiên.” Sự lặng lẽ ấy tạo nên chiều sâu nữ tính phức tạp. Đau đớn đã đi qua cao trào, chỉ còn lại một sự bình tĩnh/ thản nhiên như định mệnh.

Điểm đáng nói ở Đoàn Thị Lam Luyến la chị sử dụng thể thơ truyền thống, ngôn ngữ dân gian, nhưng vấn đề rất hiện đại: quyền yêu, quyền được lựa chọn, và vị trí của người phụ nữ trong cấu trúc hôn nhân. Bài thơ không tuyên ngôn nữ quyền trực diện, nhưng toàn bộ cấu trúc đặt câu hỏi về bất bình đẳng cảm xúc.

Hình ảnh rất thú vị của bài thơ: “Được lúa, lúa đã gặt bông/Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa” là một ẩn dụ rất đắt. Cái “được” ấy thực chất là phần đã hết giá trị… Hay hình ảnh “Cái giần vục phải cái sàng”, một ẩn dụ thú vị về định mệnh vất vả, nghiệt ngã.

Bài thứ 2: Gửi tình yêu - hiến dâng và vỡ mộng

“ Gửi tình yêu” là một bài thơ ngắn, cấu trúc giản dị, ngôn ngữ trực tiếp, nhưng trường cảm xúc rất mạnh. Nếu “Chồng chị chồng em” là giọng thản nhiên-chấp nhận, thì “ Gửi tình yêu” là giọng bộc trực-bùng nổ rồi vỡ vụn.

Ở đây, cái tôi trữ tình không nói bằng ẩn dụ phức tạp mà bằng hình ảnh rõ ràng, gần như tuyên ngôn. Đoàn Thị Lam Luyến không xây dựng nữ tính mềm mại.

"Gửi tình yêu vào đất
Được hoa trái đầy cành
Gửi lên trời cao rộng
Sẽ được ngọn sao xanh
Em trao cả cho anh
Một tình yêu nồng cháy
Như một cánh buồm xinh
Hiến mình ra biển rộng
Em đã gửi cho anh
Cả con tim dào dạt
Anh lại trả cho em
Nỗi buồn đau tan nát
Em muốn ôm cả đất
Em muốn ôm cả trời
Mà sao anh ơi, mà sao anh ơi
Không ôm nổi trái tim một con người?"

(Bài thơ đã được nhạc sỹ Thuận Yến phổ nhạc, có tên là Khát vọng )

Có lẽ không một ai không thương cảm và thêm yêu mến Đoàn Thị Lam Luyến khi nghe bài thơ/ bài hát này. Thương/ nể một người tận dâng, tận hiến, bao dung: “Em trao cả cho anh/ Một tình yêu nồng cháy…”

Nhưng cao trào nằm ở câu hỏi:

Mà sao: “Không ôm nổi trái tim một con người.”

Ở đây, tình yêu không thất bại vì ngoại cảnh, mà vì sự bất tương xứng nội tâm. Chị xây dựng nữ tính bùng nổ và chấp nhận hậu quả của chính cảm xúc mình. Tình yêu trong thơ chị không phải trò chơi. Nó là sự dấn thân. Đến mức, có người thấy ở chị một hình ảnh con dã tràng xe cát hoặc “làm nhà trên lưng cá voi”.

Bài thứ 3 Huyền thoại”.

"Giá được một chén say mà ngủ suốt triệu năm
Khi tỉnh dậy, anh đã chia tay với người con gái ấy.
Giá được anh hẹn hò, dù phải chờ lâu đến mấy.
Em sẽ chờ như thể một tình yêu.
Em sẽ chờ…
Như hòn giá đá biết xanh rêu.
Của bến sông xa, mùa cạn nước.
Cơn mưa khát trong nhau từ thuở trước.
Sắc cầu vồng chấp chới mé trời xa...
Em sẽ chờ anh
Như lúa đợi sấm tháng ba.
Như vạt cải vội đơm hoa, đợi ngày chia cánh bướm
Như cô tấm thương chồng từ kiếp trước
Lộn lại kiếp này, từ quả thị nhận ra sau ra nhau,
Em bảo hiền
Em có ác chi đâu mà trời lại xui anh bắt đầu từ tình yêu với người con gái khác. Có phải rượu đâu mà chờ cho rượu nhạt
Có phải miếng trầu
Đợi trầu dập mới cay?"

Lam Luyến viết bằng một bản năng mạnh, nhưng nghệ thuật dùng chữ của chị ở mức thượng thừa. Chị không che giấu ghen tuông. Chị đối diện nó. Điểm chung là, chị: Yêu hết mình. Dâng hiến trọn vẹn, Không chấp nhận nửa vời, dang dở. Cái tôi nữ ở đây không yếu đuối, mà mạnh về cường độ. Bi kịch của chị không nằm ở sự thiếu yêu, mà ở yêu quá đầy. Ghen rất nhiều, thích chiếm hữu và thách thức những đạo lý thông thường. Chị muốn đi đến tận cùng của cảm xúc. Nhưng nghịch lý luôn xảy ra: chị càng muốn càng không có, càng tha thiết nắm bắt thì đối tượng càng bỏ chạy…

Đoàn Ngọc Thu - Hoài nghi, kịch tính và biết đủ

Trong bốn nữ sỹ tài hoa thì Đoàn Ngọc Thu có lẽ khác biệt nhất. Chị cũng có nhiều bài thơ yêu không kém quyết liệt như ba người chị lớn tuổi của mình, nhưng ở tập in chung này chị in ít hơn, dành chỗ cho những trải nghiệm khác cất lời.

Những bài thơ một thời tuổi trẻ đã dẫn tôi đến với Thu, yêu thích thơ và lối sống phóng khoáng đầy chất nghệ nhưng cũng rất lý trí của Thu. Hằng năm, trên sóng Truyền hình bài hát viết cho MẸ “Cả cuộc đời cha đi bộ đội/ Quà về cho mẹ là mái tóc pha sương/ Và những vết thương trên ngực cha cứ trở gió lại đau nhức nhối …” chỉ là một điển hình còn những bài tự sự đầy tâm tư trong “Sau bão”“Thu Không” giàu cảm xúc và ngôn từ sâu sắc, da diết đầy ấn tượng nữa.

Nhưng trong tập này, Thu đưa hầu hết là những bài thơ mới. Một tâm thế mới. Một lựa chọn đầy trách nhiệm của một người bà, mẹ, vợ trong một gia đình cần êm ấm và hạnh phúc…

Thơ của Thu lần này không chỉ cách diễn đạt hiện đại, trẻ trung hơn, vẫn sâu sắc như người từng trải, nhưng chị yêu khác người. Chị có khả năng tự vấn và chuyển hóa/ xử lý các vấn đề của con người trong đó có tình yêu đôi lứa. Thơ của Đoàn Ngọc Thu không chỉ “kể, tả, triết lý” những trải nghiệm riêng về lứa đôi của mình mà sự quan sát của chị mở rộng biên độ ra nhiều đối tượng.

Ở chị có chiều sâu nội tâm, có tính kịch, nhưng không dừng ở cực đoan. Chị có nhiều bài thơ sâu sắc, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Chị làm nghiêng ngả nhiều người từ nhan sắc đàn bà đến nhan sắc thơ. Nhưng những bài in trong tập này chị có một lựa chọn khác, có vẻ như “trưởng thành” trong tư duy tình yêu: Yêu không còn là sở hữu, mà là biết ơn sự hiện hữu của xung quanh, là sự bao dung và trách nhiệm, và nó cũng làm người đọc xao xuyến con tim.

Nào cùng đọc “Vĩ thanh cho một Niềm Vui” (chữ Niềm Vui ở đây viết hoa)

"Khẽ đỡ Niềm Vui,
mảnh như sợi tơ rơi từ bao la thinh không
vương ngang
Một thoáng thời gian trôi
Hình như là
Tim ngưng trong phút chốc…
Hình như là có hạt bụi rơi làm khóe mắt cay ướt
Hình như là
Niềm vui gợi nhớ về
những đắng cay cơ cực
Những nỗi buồn đã qua.
Thước phim câm quay chậm
Len lén trở về
Lấp đầy mọi ô trống...
Em nhớ chị từng bảo
Mỗi khi gặp chuyện buồn
Đừng nhé, tuyệt vọng.
Hãy nghĩ lại những đau đớn từng gặp…
Hít một hơi thật sâu
Và tự nhủ
Đã đau đến thế cũng vượt qua rồi
Thế là tất cả sẽ xóa nhòa...
Chị khuyên, nếu vui
đừng vui quá
Bởi nỗi Vui, niềm Buồn rồi cũng thành quá khứ
Mà đời chúng mình ở tương lai.
Nhiều tháng năm, em vịn vào lời chị
Vượt những nẻo chênh vênh
Để ngộ thấu
Mỗi nỗi đau mang một màu sắc riêng.
Chẳng có lần sau nhẹ hơn lần trước.
Chiều nay, hạnh ngộ Niềm Vui
Nước mắt chảy xuôi…
Em ngồi trong bóng hạ huyền sẫm tối.
Ừ, có thể rồi mai,
Nỗi buồn như bóng đêm đang đến kia, ập xuống.
Đòn số phận lại giáng những cú khiến tâm can bổ chửng
Nên em không nghe lời chị đâu
Dè xẻn dành dụm.
Em mang Niềm Vui ít ỏi và nhỏ nhoi
Rải khắp không gian và thời gian của em
Tiêu hoang tất cả hoan ca đang có
Niềm Vui hiện hữu ngập tràn
Ghé vào tai em gọi khẽ
Thanh âm ngọt ngào như tiếng trẻ thơ lần đầu bập bẹ
Gối đầu lên Niềm vui
Chìm vào giấc hoa miên mượt mềm dịu nhẹ
mơ…
Niềm Vui ơi
nếu phải ra đi
cứ đi lặng lẽ
Đừng đánh thức ta nhé"

Ta thấy một Đoàn Ngọc Thu là hai trong một, một giàu trải nghiệm, “khôn khéo” kiểu “tiệc vui không ở đến lúc tàn”, kiểu “đừng vui quá để rồi không tránh khỏi buồn quá”, nhưng một còn lại vẫn biết tận hưởng một Niềm Vui chợt đến, nhưng cũng bình tĩnh, can đảm và chấp nhận nếu Niềm Vui ấy phải ra đi.

Và đọc thêm: Người đàn bà uống rượu dưới trăng

"Người đàn bà uống rượu dưới trăng
Đêm thượng Huyền chú cuội nhâng nháo
Thả dối trá
bàng bạc
Rắc tóc mềm
một thủa…
Trăng rót vàng tràn
Ly suông.
Đáy trai dốc ngược
Người đàn bà lặng lẽ độc ẩm
Cạn trăng
Cạn đêm
Cạn cả mối tình si
đăng đẳng đắng một đời
không đủ say…"

Đoàn Ngọc Thu hiện đại không chỉ ở Thơ mà quan niệm/ ứng xử trong tình yêu cũng hiện đại. Vẫn cũng yêu da diết, đằm thắm, nhưng đủ bình tĩnh, chủ động trong cả sự biết chịu đựng, bao dung,… “Biết đủ là đủ”… Chị tỉnh thức để biết mình chưa say, và biết Yêu người rất quan trọng nhưng được yêu (để đủ say) cũng quan trọng không kém. Có thể hết mình, có thể thất bại trong tình yêu lứa đôi nhưng cuộc đời chị giờ đây còn nhiều thứ khác để yêu và vịn tựa. Những bài viết cho con, viết cho bạn, viết cho bản thân đều thấy chị là của týp người biết mình đẹp, mình có tài và mình có quyền… được yêu và… không yêu nữa. Chị biết bỏ những nỗi buồn vào trong ly rượu…

Vẫn một giọng điệu trữ tình, quyến rũ nhưng có những bài không dồn dập, không kịch tính, mà mở ra theo chiều rộng không gian và thời gian. Có những bài tưởng như bão tố nhưng lại có bài cảm xúc lắng lại, dịu và sáng. Thơ Đoàn Ngọc Thu có ý thức thời đại, có chất kịch tính nội tâm. Có khả năng chuyển giọng: từ mỉa mai sang bi kịch rồi sang thanh khiết. Tình yêu trong thơ chị không đơn giản là lãng mạn; nó là trường triết lý về trách nhiệm, lỗi lầm, và sự tự biết.

Bài “Mẫu tử”

"Có phải mẹ yêu các con chưa được đủ hay không?
Có phải kiếp trước mẹ gây nhiều tội lỗi?
Nếu là nghiệp để một mình mẹ trả?
Nếu phải lặng im cho mẹ câm nín nốt đời này…"

Đây là những câu thơ đầy nhân bản, của người trưởng thành tư duy/ cách ứng xử trong mối quan hệ con người phức tạp. Tình yêu ở Đoàn Ngọc Thu không còn những than vãn hay hờn trách, muốn chiếm hữu của kẻ mới yêu, đang yêu mà có lẽ- dù chị trẻ nhất- nhưng chị lại “chín” nhất trong quan hệ tình yêu đôi lứa. Chị biến nó trở thành tình cảm biết ơn, cho đi và luôn nghĩ đến sự hiện hữu của người khác. Có thể chị được yêu nhiêu hơn là mất mát, hoặc vì chị chủ động hoá giải mất mát của mình hoặc ở tập này chỉ chỉ muốn in có ngần ấy bài. Với “tự biết đủ”, và tiết chế cảm xúc, cất đi cực đoan nên hiện tại chị có một gia đình hạnh phúc đủ đầy…

“Bốn thi sỹ họ Đoàn” là một bản đồ nữ tính đa chiều. Bốn người - bốn cấu trúc:

• Đoàn Thị Tảo: cô đơn hiện sinh

• Đoàn Thị Ký: căn tính gia đình, quê hương, bạn hữu

• Đoàn Thị Lam Luyến: bản năng mạnh, mong muốn chiếm hữu nhưng luôn mất mát

• Đoàn Ngọc Thu: tính tự vấn và tự thanh lọc cao, dữ dội một cách trầm tĩnh

Họ tạo nên một phổ nữ tính rộng: từ lặng thầm đến dữ dội, từ gắn bó con người với con người, đến triết luận hiện đại về đời sống hiện sinh. Bốn người bốn cách yêu, bốn cấu trúc cảm xúc, bốn lựa chọn tồn tại. Bốn hệ quy chiếu đạo đức và thẩm mỹ. Điểm chung nhất là ngôn ngữ đẹp, có chiều sâu, cách diễn đạt cảm xúc độc đáo. Từ thơ của họ ta nhận ra ngôn ngữ, hình ảnh đặc trưng của 3 vùng địa lý miền núi phía Bắc Việt Nam và Hà Nội./.

(Vietnam+)