50 năm quan hệ Việt Nam-UNESCO: Từ quốc gia nhận hỗ trợ đến chủ động kiến tạo
Sau 50 năm, Việt Nam - từ một thành viên được UNESCO hỗ trợ trở thành một đối tác chủ động đóng góp và khởi xướng. Đây là minh chứng sinh động cho thấy sự vươn mình của đất nước.
Nhìn 50 năm xây dựng quan hệ với UNESCO, Việt Nam từ một quốc gia được nhận hỗ trợ, rồi tham gia tích cực và nay đã có vị thế chủ động đóng góp, kiến tạo. Mới đây, Việt Nam cùng UNESCO và các chuyên gia quốc tế đã xây dựng một văn kiện mang tầm chiến lược về di sản. Đây là minh chứng sinh động cho thấy sự vươn mình của đất nước và chiều sâu của quan hệ đối tác Việt Nam-UNESCO sau nửa thế kỷ.
Nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn chia sẻ với báo chí những nhận định về 50 năm quan hệ Việt Nam-UNESCO (1976-2026) và tầm nhìn về hợp tác trong giai đoạn tiếp theo.
Một thành viên tích cực của UNESCO
- Năm nay đánh dấu mốc 50 năm Việt Nam tham gia UNESCO (1976-2026), Thứ trưởng đánh giá thế nào về quan hệ Việt Nam và UNESCO qua chặng đường nửa thế kỷ?
Thứ trưởng Ngô Lê Văn: Nhìn lại 50 năm, có thể nói Việt Nam đã đi từ một thành viên được UNESCO hỗ trợ trở thành một đối tác chủ động đóng góp và khởi xướng.

Quan hệ Việt Nam-UNESCO được UNESCO và các quốc gia thành viên đánh giá là một trong những mô hình hợp tác thành công, năng động, thực chất và hiệu quả. Đầu tiên có thể thấy rằng vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã đảm nhiệm tích cực, có trách nhiệm nhiều vị trí tại các cơ chế then chốt của UNESCO như Đại Hội đồng, Hội đồng Chấp hành, Ủy ban Di sản Thế giới, Ủy ban Liên Chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa.
Thứ hai, Việt Nam đã chuyển từ tham gia sang khởi xướng. Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” do Việt Nam đề xuất đã được Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43 thông qua (11/2025) với 72 quốc gia ủng hộ. Ngày 4/9/2026, sáng kiến tiếp tục được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua với 103 nước đồng bảo trợ, xác định giai đoạn 2027–2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững. Đây là lần đầu tiên sau gần 40 năm, cộng đồng quốc tế có một thập kỷ dành riêng cho văn hóa, cho thấy Việt Nam không chỉ là thành viên tích cực mà đã có khả năng đề xuất ý tưởng, tạo dựng đồng thuận ở tầm toàn cầu.

Cùng với đó, độ tin cậy chính trị ngày càng trở nên sâu sắc. Chuyến thăm Trụ sở UNESCO tại Paris của Tổng Bí thư Tô Lâm tháng 10/2024 là lần đầu tiên người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đến thăm UNESCO, thể hiện thông điệp mạnh mẽ về cam kết của Việt Nam đối với chủ nghĩa đa phương và đối thoại văn hóa. Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Audrey Azoulay, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần thứ hai (6/2025), đã khẳng định Việt Nam là một trong những thành viên tích cực nhất tại UNESCO và là “câu chuyện thành công” trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Dự kiến đầu tháng 12 năm nay, Tổng giám đốc UNESCO Khaled elnaly cũng sẽ thăm chính thức Việt Nam.
Sau cùng, chúng ta có những kết quả hợp tác rất cụ thể. Tính đến tháng 9/2026, Việt Nam có 79 danh hiệu, di sản được UNESCO ghi danh, công nhận, hiện diện tại toàn bộ 34 tỉnh, thành phố. Riêng năm 2025, Việt Nam có thêm 7 danh hiệu, mức cao nhất trong nhiều năm. Những danh hiệu này không chỉ là niềm tự hào quốc gia mà còn là động lực phát triển bền vững của nhiều địa phương, góp phần làm giàu kho tàng di sản chung của nhân loại.
Phát huy vai trò chủ động khởi xướng
- Thứ trưởng có thể cho biết các phương hướng chính trong quan hệ Việt Nam-UNESCO trong giai đoạn mới tới đây?
Thứ trưởng Ngô Lê Văn: Bước sang nửa thế kỷ tiếp theo, Việt Nam tập trung vào bốn phương hướng chính.
Trước tiên là phát huy vai trò nòng cốt trong triển khai Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững 2027-2036. Là nước khởi xướng, Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với UNESCO – cơ quan chủ trì triển khai Thập kỷ – cùng nhóm nòng cốt và các đối tác để đưa Nghị quyết đi vào thực chất; trọng tâm là lồng ghép văn hóa vào chính sách phát triển, thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và giáo dục di sản gắn với sinh kế bền vững.
Tiếp theo là tích cực vận động, ứng cử và phát huy vai trò thành viên tại các cơ chế then chốt của UNESCO, qua đó nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc.
Cùng với đó, chúng ta đồng hành, hỗ trợ địa phương và bộ, ngành xây dựng, vận động, bảo vệ hồ sơ danh hiệu UNESCO. Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam hiện đang hỗ trợ 23 địa phương thúc đẩy 48 hồ sơ thuộc nhiều loại hình khác nhau. Mục tiêu không chỉ là có thêm danh hiệu, mà là biến di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội và sức mạnh mềm của quốc gia.
Bên cạnh đó, chúng ta tích cực, chủ động đề xuất sáng kiến, đăng cai tổ chức các hoạt động thực chất, có tầm vóc quốc tế của UNESCO. Từ ngày 28/9 đến 1/10/2026, Việt Nam đã phối hợp với UNESCO tổ chức thành công Hội nghị đối thoại châu Á-Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực với sự tham dự của 250 đại biểu trong nước và quốc tế, thông qua Văn kiện Hà Nội. Đây là lần đầu tiên tiếng nói, tri thức và thực tiễn của khu vực về tính xác thực được đúc kết trong một văn kiện, có tác động tới toàn bộ chu trình thực hiện Công ước Di sản thế giới.
Từ nay đến cuối năm, Bộ Ngoại giao và Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức Hội nghị quốc tế về Mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu ASEAN+4 (11/2026), Hội nghị tổng kết Mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển biển và hải đảo (11/2026); đón Tổng Giám đốc UNESCO Khaled El-Enany thăm chính thức Việt Nam và ký Thỏa thuận hợp tác Việt Nam-UNESCO giai đoạn 2026–2030 (12/2026).
Nếu 50 năm qua là hành trình Việt Nam hội nhập và đóng góp, thì với Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững, Việt Nam bước vào giai đoạn mới với vai trò cùng kiến tạo chương trình nghị sự văn hóa toàn cầu.
- Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng./.
