4 bước chuyển chiến lược của Việt Nam củng cố niềm tin đối tác quốc tế
Theo ông Kyril Whittaker, 4 bước chuyển then chốt cho các đối tác phát triển thấy rõ Việt Nam đang không ngừng củng cố những lĩnh vực trọng yếu, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác.
Trong 6 tháng đầu năm nay, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng tích cực. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8,18% - một kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chững lại.
Cả 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều duy trì đà tăng trưởng, trong khi môi trường đầu tư - kinh doanh ngày một thông thoáng và vị thế quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao.
Trên nền tảng đó, những định hướng lớn được đề ra tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV mang ý nghĩa đặc biệt, vừa kế thừa thành quả của 4 thập kỷ đổi mới, vừa mở ra chặng phát triển mới của đất nước.
Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu 4 bước chuyển chiến lược, thu hút sự quan tâm không chỉ trong nước mà còn từ bạn bè quốc tế.
Để góp thêm một góc nhìn khách quan về tầm vóc và chiều sâu của những định hướng này, phóng viên TTXVN tại London đã có cuộc trao đổi với ông Kyril Whittaker, nhà nghiên cứu gắn bó và am hiểu về Việt Nam.
Cuộc trao đổi xoay quanh thông điệp mà cách tiếp cận đồng bộ này gửi tới các nhà đầu tư cùng các đối tác phát triển.
Theo ông Kyril Whittaker, 4 bước chuyển then chốt cho các đối tác phát triển thấy rõ Việt Nam đang không ngừng củng cố những lĩnh vực trọng yếu, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác.
Tuy nhiên, tầm vóc của những bước chuyển này không chỉ nằm ở việc đưa Việt Nam trở thành một điểm đến đầu tư hiệu quả hơn. Sâu xa hơn, đó còn là cách Việt Nam khẳng định con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chính sách, để sự phát triển của đất nước cuối cùng phải hướng tới con người và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Ở bước chuyển thứ nhất, Việt Nam đang nỗ lực xây dựng một nền hành chính tinh gọn và hiệu quả hơn, trên cơ sở những kết quả đạt được trong sắp xếp, tổ chức lại bộ máy chính quyền.
Mục tiêu là tạo thuận lợi hơn cho các tổ chức, cá nhân khi làm việc với cơ quan nhà nước, bảo đảm thông suốt trong giải quyết thủ tục hành chính và tiếp cận dịch vụ công.
Qua đó, sự tương tác giữa chính quyền và người dân trở nên hiệu quả hơn, đồng thời góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Chất lượng vận hành của bộ máy còn được hỗ trợ nhờ quá trình chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong quản trị. Ứng dụng VNeID là một minh chứng tiêu biểu, cho phép người dân lưu trữ giấy tờ tùy thân và thực hiện nhiều thủ tục hành chính ngay trên điện thoại.
Ứng dụng này cũng hỗ trợ người dân gửi kiến nghị tới cơ quan nhà nước về các chính sách mới, đăng ký lưu trú cho người nước ngoài ngay tại nhà và tra cứu thông tin về liệt sỹ - một lĩnh vực ngày càng được chú trọng trong các chiến dịch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ.
Định hướng này còn được củng cố qua Quy định số 207-QĐ/TW về những điều Đảng viên không được làm. Cùng chung mục tiêu ấy còn có nhiều chủ trương khác, như Chỉ thị số 07-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" và Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Theo ông Kyril Whittaker, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và chất lượng quản trị nhà nước sẽ góp phần bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra ổn định, đồng thời củng cố hình ảnh Việt Nam là một đối tác kinh tế đáng tin cậy.
Đó là một Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng trong “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc,” nhưng vẫn duy trì tính bài bản, trật tự, không để ai bị bỏ lại phía sau, và bảo đảm sự nhất quán của chính sách và pháp luật cả trong quá trình xây dựng lẫn thực thi.
Bước chuyển thứ hai tập trung vào việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên và quản lý không gian phát triển của đất nước như một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, theo ông Kyril Whittaker, cần đặc biệt lưu ý đến hai chữ “hiệu quả.”
Lâm nghiệp là một ví dụ. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, nhất là trong công tác trồng rừng. Tuy nhiên, “hiệu quả” không chỉ được hiểu là khai thác nguồn lực tự nhiên, mà còn phải gắn với bảo vệ và sử dụng hợp lý các nguồn lực đó, qua đó mang lại lợi ích cao nhất cho đời sống nhân dân.
Đây là sự cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học và không gian xanh của đất nước.
Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần của Đại hội XIV, khi phát triển bền vững và bảo vệ môi trường được đặt ngang tầm với quốc phòng.
Điều đó cho thấy chiều sâu trong cam kết của Việt Nam: không chỉ hướng tới tăng trưởng, mà còn theo đuổi một mô hình phát triển bền vững, trong đó con người là trung tâm.
Bước chuyển thứ ba phù hợp với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam định hướng dịch chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào “vốn, tài nguyên, gia công và lao động giá rẻ” sang mô hình dựa vào “năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và quản trị hiện đại.”
Định hướng này cho thấy Việt Nam mong muốn nâng cao hơn nữa vị thế trên thị trường công nghệ, đồng thời tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh ở tầm quốc tế thông qua các doanh nghiệp có năng lực tổ chức, công nghệ và quản trị hiện đại.
Mục tiêu này phù hợp với định hướng nêu trong Nghị quyết số 79-NQ/TW, theo đó phấn đấu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, trong đó có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Quá trình chuyển đổi này cũng được hỗ trợ bởi việc phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng. Những công trình hiện tại và trong tương lai như cao tốc Cần Thơ - Cà Mau, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tuyến đường sắt Viêng Chăn - Vũng Áng, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam cùng 7 sân bay mới dự kiến đưa vào vận hành trước năm 2030 sẽ góp phần tăng cường kết nối, giúp hàng hóa và con người lưu thông nhanh chóng, thuận tiện hơn trên cả nước.
Một lần nữa, yếu tố con người được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Xuyên suốt bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh thước đo cuối cùng là chất lượng cuộc sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của nhân dân.
Bước chuyển thứ tư mang ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thế giới hiện nay khi hướng tới ứng phó với biến đổi khí hậu bằng "dự báo" và "phòng ngừa" thay cho "ứng phó" và "khắc phục."
Theo ông Kyril Whittaker, bước chuyển này làm rõ hơn cam kết của Việt Nam đối với công tác bảo vệ môi trường và mức độ nghiêm túc trong việc thực hiện cam kết ấy.
Một điểm đáng lưu ý là 4 bước chuyển không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ chặt chẽ, tác động và bổ trợ lẫn nhau.
Bước chuyển thứ hai gắn kết với bước chuyển thứ tư, bước chuyển thứ ba và thứ tư gặp nhau ở nền nông nghiệp xanh và sự phát triển kinh tế xanh vừa nâng đỡ sinh kế của nhân dân, vừa bảo vệ đất nước trong quá trình phát triển.
Còn bước chuyển thứ nhất gắn trực tiếp với bước chuyển thứ tư, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ vai trò của chính quyền trung ương trong việc nhận diện chặt chẽ các rủi ro và phối hợp hiệu quả với các cơ quan liên quan.
Theo đó, chính sách môi trường và khí hậu phải chuyển từ khắc phục hậu quả sang chủ động phòng ngừa, thích ứng, phục hồi; từ quản lý theo địa giới sang quản trị theo hệ sinh thái, lưu vực sông và vùng biển.
Với các nhà đầu tư và các đối tác phát triển, 4 bước chuyển này cho thấy Việt Nam đang nghiêm túc thực hiện những cam kết của mình về môi trường, tăng trưởng kinh tế và cơ hội đầu tư.
Đất nước đang tạo động lực mới cho thương mại thông qua các chương trình hạ tầng quy mô lớn, đồng thời giới thiệu tới bạn bè quốc tế tài năng và tiềm lực của con người Việt Nam.
Điều đọng lại từ những phân tích của ông Kyril Whittaker là tính thống nhất, gắn kết của 4 bước chuyển: chúng không tồn tại độc lập mà tác động, bổ trợ lẫn nhau, cùng quy về một trục xuyên suốt: sự phát triển vì con người, lấy hạnh phúc và chất lượng sống của nhân dân làm thước đo.
Với các đối tác quốc tế, thông điệp đã rõ: Việt Nam đang bước vào "Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" bằng một lộ trình có trật tự, nhất quán và có thể tiên liệu - điều mà giới đầu tư và các đối tác phát triển luôn tìm kiếm.
Sự phát triển ổn định ấy, cùng cam kết bền bỉ với môi trường, tăng trưởng và phúc lợi của nhân dân, chính là nền tảng để Việt Nam tiếp tục củng cố niềm tin và mở rộng hợp tác với bạn bè quốc tế trên chặng đường phía trước./.
