Sông Hồng và khát vọng kiến tạo Hà Nội trở thành đô thị toàn cầu

Nếu được triển khai đúng định hướng, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng không chỉ là hệ thống giao thông mà còn là một không gian công cộng quy mô lớn, gồm công viên, quảng trường, không gian văn hóa...

Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội với tầm nhìn 100 năm xác định sông Hồng là trục cảnh quan sinh thái-văn hóa chủ đạo, mở ra cách tiếp cận mới trong phát triển đô thị.

Lần đầu tiên, Hà Nội nghiên cứu hình thành đại lộ cảnh quan dài khoảng 80 km dọc sông Hồng, hướng tới xây dựng không gian phát triển hiện đại, bền vững, lấy chất lượng sống của người dân làm trung tâm, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thủ đô trở thành đô thị toàn cầu.

Trao đổi với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, ông Phạm Thanh Tùng, chuyên gia kiến trúc đô thị, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Nguyên Tổng biên tập Tạp chí kiến trúc Việt Nam cho rằng, đây không chỉ là một dự án đô thị, mà là cơ hội để Hà Nội thay đổi cách ứng xử với dòng sông lịch sử, đưa sông Hồng trở thành biểu tượng kiến trúc-cảnh quan mới của Thủ đô trong thế kỷ XXI.

- Dưới góc nhìn kiến trúc, ông đánh giá như thế nào về giá trị lớn nhất của Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng?

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng: Theo tôi, giá trị lớn nhất của dự án là cơ hội định hình một diện mạo kiến trúc mới cho Hà Nội trong thế kỷ XXI, bằng việc đưa sông Hồng trở thành không gian trung tâm của Thủ đô thay vì chỉ là ranh giới địa lý.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển hơn 1.000 năm của Thăng Long-Hà Nội, sông Hồng vừa là nguồn sống, vừa là thách thức đối với đô thị. Do đặc điểm thủy văn phức tạp, thường xuyên có lũ lớn, thành phố phát triển chủ yếu về phía Nam và phía Tây sông Hồng. Hệ thống đê điều đã tạo nên một ranh giới tương đối cứng giữa đô thị và dòng sông.

Vì vậy, kiến trúc Hà Nội trong thời gian dài chủ yếu quay vào phố và quay lưng ra sông. Sông Hồng chưa từng thực sự trở thành mặt tiền của Thủ đô.

Nếu được triển khai đúng định hướng, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ không chỉ là hệ thống giao thông mà còn là một không gian công cộng quy mô lớn, gồm công viên ven sông, quảng trường, không gian văn hóa, nghệ thuật công cộng, kiến trúc biểu tượng và các khu vực tái thiết đô thị.

Đặc biệt, tôi cho rằng đây có thể trở thành một “bảo tàng sống” về văn hóa sông Hồng, nơi kết nối các làng cổ, làng nghề, đình, chùa, di tích lịch sử, không gian nông nghiệp và những giá trị văn hóa được hình thành qua nhiều thế hệ cư dân ven sông.

Mỗi thành phố lớn trên thế giới đều có những biểu tượng gắn với dòng sông. Sydney có Nhà hát Opera, Paris có sông Seine, London có sông Thames, Budapest có sông Danube, Seoul tạo dấu ấn với quá trình hồi sinh dòng Cheonggyecheon.

Theo KTS Phạm Thanh Tùng - Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam: sông Hồng là trục cảnh quan, không gian văn hóa và động lực phát triển mới của Thủ đô, cần quy hoạch đột phá, đa chức năng, tôn trọng tự nhiên và lấy người dân làm trung tâm. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)

Hà Nội cũng cần một biểu tượng mới trong thế kỷ XXI. Trục cảnh quan sông Hồng có thể trở thành nhận diện mới về kiến trúc, cảnh quan của một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại và hạnh phúc.

Theo tôi, giá trị lớn nhất của dự án không nằm ở số kilomet đường, diện tích đất hay tổng mức đầu tư, mà ở khả năng trở thành một di sản kiến trúc - cảnh quan của Hà Nội trong thế kỷ XXI.

- Có ý kiến cho rằng, Hà Nội đang chuyển từ tư duy “quản lý dòng sông” sang “phát triển cùng dòng sông”. Ông nhìn nhận điều này như thế nào?

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng: Tôi cho rằng đây là một thay đổi quan trọng trong tư duy quy hoạch Hà Nội. Trong một thời gian dài, sông Hồng chủ yếu được nhìn nhận dưới ba góc độ: phòng chống lũ, giao thông thủy và nguồn nước cho vùng đồng bằng sông Hồng.

Cách tiếp cận này là cần thiết, nhưng cũng khiến dòng sông được xem như một đối tượng cần kiểm soát nhiều hơn là một nguồn lực phát triển.

Trong khi đó, nhiều đô thị trên thế giới đã trải qua quá trình chuyển đổi tương tự, từ việc kiểm soát dòng sông sang phát triển hài hòa cùng dòng sông. Paris phát triển cùng sông Seine; Singapore coi mặt nước là cấu trúc quan trọng của đô thị; Seoul hồi sinh không gian trung tâm thông qua việc phục hồi dòng Cheonggyecheon.

Điều đó cho thấy một dòng sông trong đô thị không chỉ là thách thức về quản lý mà còn là lợi thế chiến lược về sinh thái, văn hóa và phát triển kinh tế.

Nếu Hà Nội không tái định vị vai trò của sông Hồng trong cấu trúc đô thị với tầm nhìn 50-100 năm, thành phố có thể bỏ lỡ một cơ hội phát triển rất lớn. Hà Nội không còn nhiều dư địa để tiếp tục phát triển theo mô hình mở rộng truyền thống. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, một đô thị có dòng sông lớn chảy qua trung tâm là lợi thế đặc biệt.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng điều quan trọng nhất không chỉ là một dự án cụ thể, mà là tư duy phát triển đô thị cùng dòng sông. Đây mới là yếu tố có ý nghĩa lâu dài.

- Theo ông, nguyên tắc nào cần được đặt lên hàng đầu để phát triển dự án mà không phá vỡ hệ sinh thái sông Hồng?

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng: Đây là vấn đề quyết định thành công của dự án. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều thành phố từng mắc sai lầm khi bê tông hóa bờ sông, xây dựng quá sát mép nước, san lấp vùng ngập hoặc làm mất không gian tự nhiên của dòng chảy. Sau đó, họ phải bỏ ra nguồn lực rất lớn để phục hồi hệ sinh thái.

Phối cảnh Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)

Với sông Hồng, cần nhìn nhận bãi sông là một phần của hệ sinh thái đô thị. Bãi giữa và các khu vực ven sông có vai trò hấp thụ nước lũ, tái tạo phù sa, duy trì đa dạng sinh học và điều hòa khí hậu.

Nguyên tắc quan trọng là càng gần dòng nước càng hạn chế xây dựng công trình cố định. Những khu vực này nên ưu tiên công viên, đường dạo, quảng trường mềm, bến thuyền nhẹ hoặc các công trình có khả năng tháo lắp.

Quy hoạch cũng phải tôn trọng quy luật tự nhiên của sông Hồng như biến đổi dòng chảy, bồi lắng phù sa, xói lở và thay đổi mực nước theo mùa. Kiến trúc ven sông cần hài hòa với cảnh quan, tránh tạo ra những bức tường bê tông cao tầng che khuất tầm nhìn ra dòng sông.

Mục tiêu cuối cùng là để thành phố và dòng sông hòa quyện với nhau.

- Làm thế nào để người dân ven sông không chỉ là đối tượng chịu tác động mà thực sự trở thành chủ thể hưởng lợi từ dự án thưa ông?

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng: Đây là vấn đề khó nhưng có ý nghĩa quyết định đối với tính bền vững xã hội của dự án. Một dự án có thể thành công về kỹ thuật, hiệu quả về kinh tế nhưng vẫn chưa thành công nếu cộng đồng ven sông cảm thấy họ phải hy sinh nhiều nhất nhưng hưởng lợi ít nhất.

Vì vậy, cần thay đổi tư duy từ “giải phóng mặt bằng để xây dựng dự án” sang “lấy con người làm trung tâm để phát triển dự án”. Người dân không chỉ là đối tượng bị thu hồi đất mà phải được nhìn nhận là đối tác phát triển.

Bởi khi một người dân rời khỏi nơi ở cũ, họ không chỉ mất đi căn nhà hay mảnh đất, mà còn có thể mất đi những giá trị khó đo đếm như quan hệ cộng đồng, nghề truyền thống, ký ức gia đình và sự gắn bó với nơi chốn.

Vì vậy, tái định cư không chỉ là xây dựng nơi ở mới, mà phải bảo tồn cộng đồng, duy trì bản sắc văn hóa, làng xóm, đình, chùa và các giá trị tinh thần.

Bên cạnh đó, người dân cần có cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế mới như du lịch ven sông, dịch vụ, kinh tế đêm, làng nghề, nông nghiệp sinh thái.

Tôi rất kỳ vọng người dân ven sông sẽ trở thành những người kể chuyện về dòng sông. Họ hiểu lịch sử bến nước, làng nghề, mái đình, mái chùa, văn hóa chài lưới, tập quán canh tác và ký ức của vùng đất ven sông Hồng.

Nếu được hỗ trợ đào tạo, họ có thể trở thành hướng dẫn viên cộng đồng, nghệ nhân, chủ cơ sở dịch vụ du lịch, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.

Khi đó, người dân không chỉ nhận bồi thường một lần mà còn có nguồn sinh kế lâu dài từ chính sự phát triển của dự án. Một dự án chỉ thực sự thành công khi người dân cảm nhận đây là dự án của mình, chứ không phải một dự án được áp đặt lên mình.

- Trân trọng cảm ơn ông!

(TTXVN/Vietnam+)