Số chuyên đề
Số chuyên đề
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Nghị quyết cụ thể hóa những chủ trương, định hướng lớn đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thông qua, thể hiện tư tưởng và tầm nhìn chiến lược của Đảng về công tác đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tiếp nối Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 06-NQ/TW đặt ra mục tiêu phát triển nền đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, góp phần thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhằm giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức sâu sắc những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn của Đảng về công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tình hình mới; góp phần tuyên truyền, quán triệt và triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Vụ Thông tin - Đối ngoại biên soạn chuyên đề: “Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế: Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế”.
Đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Tuyên giáo và Dân vận các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, trung ương các tổ chức chính trị - xã hội chỉ đạo, hướng dẫn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tuyên truyền sâu rộng tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đồng thời sử dụng nội dung chuyên đề này làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền và sinh hoạt chi bộ trong thời gian tới.
VỤ THÔNG TIN - ĐỐI NGOẠI
PHẦN I
QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1. Tình hình thế giới và khu vực tác động đến Việt Nam năm 2026
Những diễn biến tình hình thế giới, khu vực thời gian vừa qua cho thấy nhận định “thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại” của Đại hội XIV là nhận định mang ý nghĩa quan trọng. Nhận diện rõ nhất qua 3 cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược[1]. Nhiều nguyên tắc, nền tảng của trật tự cũ đang bị phá vỡ nhưng những cấu trúc của trật tự mới chưa định hình. Trong thời gian tới, sự va chạm giữa trật tự cũ và trật tự mới vẫn tiếp diễn trước khi đạt được điểm cân bằng mới. Nguyên nhân trực tiếp của những biến động trong thời gian qua là sự thay đổi tư duy chiến lược và điều chỉnh chính sách quyết liệt của Mỹ. Nguyên nhân sâu xa là do mâu thuẫn lợi ích, sự thay đổi trong tương quan lực lượng, sức mạnh tổng thể giữa các nước và hệ quả của những xu hướng đã tích tụ trong nhiều năm như chủ nghĩa cường quyền, chủ nghĩa dân tộc nước lớn và cộng hưởng của thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Môi trường chiến lược, chính trị - an ninh toàn cầu biến động nhanh, mạnh, khó lường; xung đột, chiến tranh, căng thẳng địa - chính trị và khuynh hướng cường quyền trong quan hệ nước lớn - nước nhỏ gia tăng. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là Mỹ - Trung Quốc ngày càng quyết liệt. Tình trạng sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn giữa các quốc gia gia tăng, bất chấp luật pháp quốc tế; làm xói mòn chủ nghĩa đa phương và cấu trúc quốc tế. Xu hướng tăng cường sức mạnh quân sự ngày càng trở nên rõ rệt, chi tiêu quân sự toàn cầu lên mức cao nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh. Mỹ tăng cường củng cố sức mạnh, hành động đơn phương để duy trì vai trò lãnh đạo thế giới thông qua sử dụng sức ép, vũ lực quân sự; yêu sách lãnh thổ, áp đặt thuế quan lên nhiều nước, giảm cam kết quốc tế[2], đặt lợi ích của Mỹ lên trên hết. Đặc biệt tại Trung Đông, Mỹ và Israel triển khai chiến dịch tấn công Iran (tháng 2/2026), tác động tiêu cực đến môi trường hòa bình quốc tế. Xung đột quân sự Nga - Ukraine tiếp tục diễn ra ác liệt, giằng co, tiến trình hòa bình giữa hai nước chưa có tiến triển.
Trong khi đó, an ninh phi truyền thống đang nổi lên gay gắt với nhiều hình thái cực đoan, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh chủ quyền trên không gian mạng, không gian số, tội phạm xuyên biên giới..., trở thành nguy cơ thường trực đối với thế giới và từng quốc gia, tác động tiêu cực tới môi trường an ninh - phát triển của các nước, trong đó có Việt Nam.
Kinh tế thế giới đứng trước nhiều rủi ro cộng hưởng của các xung đột địa - chính trị, chính sách thương mại, thuế quan và những vấn đề mang tính cấu trúc. Kinh tế toàn cầu liên tiếp đối mặt với các cú sốc thị trường năng lượng, đứt gãy, gián đoạn của các chuỗi cung ứng, bất ổn thị trường tài chính, chứng khoán do chính sách thuế quan của Mỹ, xung đột Mỹ/Israel - Iran; áp lực lạm phát toàn cầu tăng cao, tốc độ tăng trưởng chậm lại và không đồng đều giữa các khu vực. Động lực tăng trưởng bị kìm hãm do các lực cản mang tính cấu trúc; các yếu tố rủi ro thuế quan và địa - chính trị tăng mạnh, thậm chí suy thoái kỹ thuật ở một số nền kinh tế, đặt kinh tế thế giới trước nguy cơ kép. Việc an ninh hóa, vũ khí hóa kinh tế trở thành tiêu chí trong hoạch định chính sách của các nước. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, năng lượng, dữ liệu, công nghệ quốc phòng ngày càng được quản lý chặt, vừa để bảo vệ an ninh quốc gia và vừa ngăn chặn, kiềm chế đối phương. Các nước, nhất là nước lớn, gia tăng sử dụng các vấn đề kinh tế, thương mại, đầu tư để gây sức ép buộc các quốc gia đáp ứng các đòi hỏi, kể cả trong các vấn đề thuộc an ninh, chủ quyền các nước.
Khoa học, công nghệ tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng, trở thành trụ cột cho phát triển và gắn chặt với an ninh và cạnh tranh chiến lược. Khoa học, công nghệ không chỉ được xác định là động lực tăng trưởng mà còn là nhân tố bảo đảm an ninh quốc gia. Các xu hướng phát triển mới về khoa học, công nghệ trở thành nhân tố mới quyết định sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Các lĩnh vực khoa học, công nghệ mới tiếp tục có những bước đột phá quan trọng. Trong đó nổi lên là các công nghệ AI, công nghệ lượng tử, 6G, điện toán đám mây, bán dẫn, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, phát triển điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, hydro xanh.
Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động hàng đầu trên thế giới, song cũng tiềm ẩn nhiều tranh chấp, bất ổn rất dễ bùng phát. Tại Đông Nam Á, Thái Lan - Campuchia vẫn tiếp tục xảy ra các sự cố dọc biên giới, ảnh hưởng lòng tin giữa hai bên, căng thẳng mở rộng từ mặt trận song phương sang diễn đàn đa phương. Tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp. Trung Quốc đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá tại Biển Đông, bao gồm các khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam từ ngày 01 - 16/5/2026. Mỹ và các quốc gia ngoài khu vực duy trì hiện diện, can dự trong khu vực.
Tuy nhiên, bất chấp khó khăn chung của kinh tế thế giới và xu hướng bảo hộ nổi lên những năm gần đây, châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, là thị trường hấp dẫn hàng đầu với các nhà đầu tư, tâm điểm của các liên kết kinh tế mới và động lực của tăng trưởng kinh tế thế giới. Đồng thời, khu vực cũng nổi lên là địa bàn trọng điểm của cạnh tranh chiến lược nước lớn, tập trung các tập hợp lực lượng đa dạng với vai trò chủ đạo rõ nét của Mỹ và Trung Quốc.
Nhận định về tình hình thế giới hiện nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang chứng kiến những chuyển biến lớn mang tính bước ngoặt, chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây. Những chuyển động này mang tới cơ hội và thách thức đan xen; tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ quốc tế. Những quốc gia không bắt kịp tình hình, không có đối sách phù hợp, tách biệt, tự cô lập khỏi môi trường hợp tác quốc tế thì sẽ tụt hậu, không phát triển. Những quốc gia chủ động về chiến lược, dự báo, ứng phó và hợp tác sẽ có lợi thế và khả năng vươn lên. Sự phát triển của Việt Nam không thể tách rời sự phát triển của khu vực và thế giới. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực là điều kiện tiên quyết để chúng ta “sánh vai với các cường quốc năm châu” trên con đường phát triển”[3].
2. Một số nội dung chủ yếu Đường lối đối ngoại Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIV và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị
2.1. Nghị quyết Đại hội XIV: Đường lối đối ngoại Đại hội XIV là một bộ phận trong tổng thể đường lối của Đảng, kế thừa truyền thống đối ngoại, ngoại giao của dân tộc ta, các nội hàm cốt lõi, xuyên suốt từ các kỳ Đại hội trước và phản ánh các thành tựu đạt được trong suốt lịch sử Cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thế và lực mới của đất nước ta sau 40 năm Đổi mới. Đồng thời, nhiều đổi mới tư duy có tính đột phá mạnh mẽ để thích ứng với những biến động lớn, nhanh chóng, phức tạp trong tình hình thế giới, khu vực hiện nay và đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”. Trong đó các nội dung căn bản là:
Mục tiêu là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; đồng thời, chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên tinh thần là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Nguyên tắc là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Phương châm là tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển của đất nước.
Một số định hướng lớn là đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả; đẩy mạnh ngoại giao phục vụ phát triển, trong đó trọng tâm là ngoại giao kinh tế; kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương; cùng các nước thành viên xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh, đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại.
Đại hội XIV khẳng định và tiếp nối những nội hàm cốt lõi của đối ngoại về độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa. Đây là những nền tảng xuyên suốt của đối ngoại trong nhiều thập kỷ qua, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của đất nước. Kế thừa những nền tảng đó, trong bối cảnh đất nước đang nỗ lực bứt phá để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số và thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm, đường lối đối ngoại của Đại hội XIV có những bổ sung mới, phát triển quan trọng để phục vụ hiệu quả hơn sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, cụ thể là:
Một là, Đại hội nhấn mạnh mục tiêu “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Noi gương Bác, chúng ta phải bắt nhịp với sự vận động của thế giới, tìm ra con đường mang lại hòa bình, ổn định, thịnh vượng, phát triển và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước trong kỷ nguyên mới”[4], Việt Nam phải củng cố hơn nữa cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho đất nước phát triển trên cơ sở những kết quả đạt được thời gian qua.
Việt Nam không chỉ củng cố các khuôn khổ quan hệ đi vào chiều sâu, ổn định và thực chất, mà còn chủ động tham gia và đóng góp nhiều hơn vào giải quyết các vấn đề chung của toàn cầu. Trong các cơ chế hợp tác song phương với các nước, các đối tác cũng như tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, sự đóng góp trách nhiệm và uy tín của Việt Nam được khẳng định mạnh mẽ, thể hiện rõ nét hơn bản sắc, văn hóa và phong cách đối ngoại Việt Nam. Đây là tâm thế của một Việt Nam chân thành, trách nhiệm; luôn nỗ lực vì hòa bình, an ninh và phát triển, vì các vấn đề chung mà cộng đồng quốc tế quan tâm; đóng góp vào nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại, xứng đáng với lịch sử dựng nước, giữ nước hào hùng của dân tộc.
Hai là, Đảng ta bổ sung quan điểm “tự chủ chiến lược”, “tự cường”. Đây là quan điểm chỉ đạo rất quan trọng với đối ngoại. “Tự chủ chiến lược”, “tự cường” là điều kiện tiên quyết để giữ vững sự chủ động, độc lập trong đối ngoại, bảo đảm vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc trong một thế giới đầy biến động. Tư duy này xuất phát từ quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, nhất quán với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự lực cánh sinh là chính, sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng... phải đem sức ta mà giải quyết công việc của ta”.
Ba là, Đại hội XIV đã khẳng định đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế, cùng với tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Văn kiện nêu rõ: “Đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. “Trọng yếu, thường xuyên” thể hiện trước hết là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, liên quan đến sự sống còn, an nguy, thịnh suy của đất nước, gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước, là một phương thức quan trọng trong thực hiện hai nhiệm vụ trọng yếu về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thứ hai là, được quan tâm và thực hiện thường xuyên, liên tục trong mọi giai đoạn Cách mạng Việt Nam, được triển khai một cách chủ động, tích cực, có hệ thống, bài bản, trên mọi lĩnh vực, từ công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu, đến tổ chức, triển khai, đôn đốc, kiểm tra, giám sát; thứ ba là, đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự thể chế hóa phối hợp chặt chẽ giữa Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại, giữa Trung ương với địa phương, giữa các ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị; là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó các lực lượng làm công tác đối ngoại đóng vai trò nòng cốt và chủ công trong triển khai các mặt công tác.
2.2. Về Nghị quyết 06-NQ/TW: Để cụ thể hóa và triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại được xác định tại Đại hội XIV của Đảng, ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về công tác đối ngoại trong tình hình mới, với 5 luận điểm lớn:
Thứ nhất, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng, theo đó, đối ngoại trở thành một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.
Thứ hai, trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế.
Thứ ba, đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường". Tự chủ chiến lược thể hiện năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động ứng phó linh hoạt; tự cường là phát huy nội lực, tự tin dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.
Thứ tư, đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Tham gia sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.
Thứ năm, đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trên nền tảng phối hợp, bổ sung cho nhau của 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa ngoại giao Nghị viện với ngoại giao Nhà nước, với đối ngoại nhân dân; giữa các ban, bộ, ngành Trung ương; với sự tham gia sâu rộng của các địa phương, doanh nghiệp và người dân; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các công cụ chính trị, kinh tế, công nghệ, văn hóa,... để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; phát huy cao nhất, tối ưu nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Như vậy, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo thành hệ thống quan điểm, chủ trương thống nhất về đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy đối ngoại phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên mới. Theo đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế cùng với quốc phòng, an ninh được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; là một phương thức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác đối ngoại không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
PHẦN II
NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VÀ
HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
1. Phát huy sức mạnh tổng hợp của 3 trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong chiến lược đối ngoại toàn diện
Chiến lược đối ngoại toàn diện của Việt Nam sau Đại hội XIV của Đảng được triển khai thực hiện dưới hình thức các hoạt động đối ngoại của cả hệ thống chính trị. Sự phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân là yếu tố quyết định tính hiệu quả của toàn bộ hoạt động đối ngoại của nước nhà. Sự phối hợp đó cần phát huy được thế mạnh của mỗi trụ cột về đối tác quan hệ và phương thức hoạt động, về vị trí, vai trò riêng có của mỗi trụ cột trong các mối quan hệ quốc tế.
Đối tác quan hệ đối ngoại đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam là các chính đảng, các tổ chức chính trị ở các nước trên thế giới, các tổ chức, diễn đàn đa phương chính đảng. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang có quan hệ với 259 chính đảng ở 119 nước trên thế giới; trong đó có: gần 100 đảng cộng sản và công nhân, 60 đảng cầm quyền, trên 40 đảng tham chính, số còn lại là các đảng đối lập,… Đối ngoại đảng phát huy vai trò định hướng chiến lược thúc đẩy quan hệ của ta với nhiều đối tác lớn, quan trọng theo tinh thần Chỉ thị 32-CT/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị[5]. Kênh đảng tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò trong chỉ đạo, định hướng chiến lược tổng thể quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Campuchia, Cuba và Triều Tiên. Quan hệ với các đảng cầm quyền, tham chính, đảng có vai trò quan trọng tại các nước lớn, các nước ASEAN, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống tiếp tục được thúc đẩy tích cực, với nhiều hình thức đa dạng, củng cố nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp giữa ta và các đối tác. Bên cạnh các mối quan hệ song phương, Đảng ta cũng chủ động tham gia các diễn đàn đa phương chính đảng, như: Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản và công nhân (IMCWP)[6]; Cổng thông tin điện tử solidnet.org của các đảng cộng sản và công nhân[7]; Hội nghị quốc tế các chính đảng châu Á (ICAPP)[8]…
Đối tác ngoại giao nhà nước của nước ta là các nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, các tổ chức liên chính phủ ở khu vực và trên thế giới, các điều ước quốc tế,… Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước trên thế giới; trong đó có 3 nước quan hệ “đặc biệt”[9], 15 “đối tác chiến lược toàn diện”[10], 13 “đối tác chiến lược”[11] và 13 “đối tác toàn diện”[12]. Việt Nam hiện có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ,... Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc và các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, là thành viên của ASEAN, APEC và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác.
Đối tác quan hệ đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, hòa bình, hữu nghị của Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nhân dân, tổ chức hoà bình, hữu nghị ở các nước trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ quốc gia, quốc tế, các tổ chức và diễn đàn nhân dân thế giới,… Các hoạt động đối ngoại nhân dân theo tinh thần Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với các nước và tổ chức quốc tế, tạo xung lực mới cho hợp tác, giao lưu nhân dân giai đoạn tới[13].
Trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam, đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân có vị trí, vai trò khác nhau. Đối ngoại đảng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng nền tảng chính trị cho các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam và trong việc xây dựng, củng cố, tăng cường hậu thuẫn chính trị quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta. Ngoại giao nhà nước luôn giữ vai trò hàng đầu trong việc tạo dựng nền tảng pháp lý quốc gia và quốc tế cho quan hệ của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực,… Đối ngoại nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng nền tảng hiểu biết lẫn nhau, hữu nghị và hợp tác giữa Nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước. Đặc biệt, ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đã phối hợp bài bản, nhuần nhuyễn, phát huy sức mạnh tổng hợp sau quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy.
2. Nâng tầm đối ngoại đa phương, phát huy vai trò dẫn dắt, mang tính định hướng và tham gia vào xây dựng luật chơi trên nhiều diễn đàn đa phương
Những năm qua, nhất là nửa sau nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đã ghi dấu bước phát triển nổi bật của đối ngoại đa phương Việt Nam, thể hiện rõ bản lĩnh, tầm vóc và tư duy chiến lược của một quốc gia ngày càng chủ động tham gia sâu vào đời sống chính trị quốc tế. Không chỉ khẳng định vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đang từng bước nâng cao năng lực tham gia dẫn dắt, định hình các chương trình nghị sự và đóng góp xây dựng các cơ chế hợp tác, khuôn khổ quản trị toàn cầu trong bối cảnh thế giới đứng trước nhiều biến động sâu sắc.
Trên nền tảng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tại các thể chế đa phương quan trọng như: Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, UNESCO và nhiều cơ chế hợp tác quốc tế khác. Những hoạt động đối ngoại đa phương cấp cao trong thời gian qua cho thấy bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Việt Nam: từ “tham gia tích cực” sang “tham gia chủ động kiến tạo”, từ “hội nhập sâu rộng” sang “đóng góp định hình luật chơi” trên nhiều lĩnh vực toàn cầu.
Dấu ấn nổi bật nhất trong năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026 là Việt Nam đã chủ động thúc đẩy nhiều sáng kiến và tổ chức thành công hàng loạt sự kiện đa phương quy mô lớn, có ý nghĩa khu vực và quốc tế như: Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ hai (tháng 4/2025), Hội nghị Thượng đỉnh Đối tác vì tăng trưởng xanh và các mục tiêu toàn cầu 2030 (P4G) lần thứ tư (tháng 4/2025), Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2025 (tháng 5/2025), Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025 và đặc biệt là Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng tại Hà Nội (24-26/10/2025), Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba (tháng 6/2026). Việc Việt Nam trở thành địa điểm tổ chức nhiều diễn đàn quốc tế quan trọng đã phản ánh rõ uy tín, năng lực điều phối, khả năng kết nối và vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong các tiến trình hợp tác đa phương.
Thông qua các diễn đàn và sự kiện quốc tế quan trọng này, Việt Nam đã truyền tải mạnh mẽ thông điệp về hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững, thượng tôn luật pháp quốc tế, lấy con người làm trung tâm của tiến trình phát triển và thúc đẩy chủ nghĩa đa phương bao trùm, công bằng. Các sáng kiến, đề xuất và đóng góp của Việt Nam không chỉ thể hiện trách nhiệm quốc tế mà còn cho thấy tầm nhìn dài hạn và tư duy chủ động tham gia định hình các vấn đề toàn cầu.
Tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80, Việt Nam tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về đề cao hòa bình, tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, xung đột và các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, những thông điệp của Việt Nam đã thể hiện cách tiếp cận có trách nhiệm, nhân văn và cân bằng đối với các vấn đề quốc tế. Đồng thời, cho thấy khả năng đóng góp vào quá trình định hình tư duy quản trị toàn cầu theo hướng ổn định, bao trùm và bền vững hơn.
Việt Nam cũng tiếp tục thể hiện vai trò cầu nối, thúc đẩy đồng thuận quốc tế trong nhiều vấn đề phức tạp. Việc lên tiếng kêu gọi chấm dứt khủng hoảng nhân đạo tại Palestine, đề cao đoàn kết quốc tế và ủng hộ giải quyết các khác biệt bằng đối thoại đã thể hiện rõ bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam: Kiên định nguyên tắc, đề cao công lý, hòa bình và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.
Trong khuôn khổ APEC 2025, Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò chủ động và định hướng hợp tác khu vực thông qua các đề xuất về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, khoa học, công nghệ và tăng trưởng bền vững. Những thông điệp của Việt Nam cho thấy tầm nhìn chiến lược đối với tương lai phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời khẳng định quyết tâm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy liên kết kinh tế sâu rộng hơn.
Đặc biệt, việc Việt Nam đăng cai Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội) đã trở thành dấu mốc có ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Đây là sự kiện có số lượng đại biểu quốc tế tham dự và số quốc gia ký kết lớn nhất đối với một Công ước được mở ký ngoài Trụ sở Liên hợp quốc trong vòng 10 năm qua. Việc Việt Nam đồng hành trong suốt quá trình đàm phán, chủ động đăng cai tổ chức và là quốc gia đầu tiên ký Công ước cho thấy vai trò tiên phong, trách nhiệm và năng lực tham gia xây dựng các khuôn khổ pháp lý quốc tế đối với những vấn đề toàn cầu mới nổi, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh mạng và quản trị không gian số.
Cùng với việc chủ động tổ chức các diễn đàn quốc tế lớn, Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là thành viên trách nhiệm trong các cơ chế đa phương quan trọng. Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và tiếp tục được tín nhiệm tái cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 với số phiếu rất cao, đứng thứ hai thế giới (180/188 phiếu). Đồng thời, Việt Nam cũng đảm nhiệm vị trí tại 6/7 cơ chế then chốt của UNESCO, qua đó tiếp tục đóng góp tích cực vào bảo tồn di sản, thúc đẩy giáo dục, khoa học, văn hóa và phát triển con người bền vững trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam là thành viên sáng lập của Hội đồng Hòa bình về Dải Gaza, khẳng định chủ trương đóng góp tích cực và trách nhiệm vào hòa bình, hợp tác phát triển bền vững, vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế. Ngày 18/6/2026, trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 36 các quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), đại diện của Việt Nam được tín nhiệm bầu làm Thẩm phán Tòa án Luật Biển Quốc tế (ITLOS) nhiệm kỳ 2026 - 2035 với số phiếu cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Kết quả này thể hiện sự đánh giá tích cực của các quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), của cộng đồng quốc tế đối với mong muốn đóng góp của Việt Nam về việc đề cao và bảo đảm vai trò thượng tôn của Luật Biển quốc tế trong đời sống quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho việc đăng cai Hội nghị Cấp cao APEC 2027, thể hiện vai trò ngày càng chủ động và trách nhiệm trong thúc đẩy liên kết và hợp tác khu vực.
Trong bối cảnh cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh, các nước lớn và các trung tâm quyền lực tiếp tục điều chỉnh chiến lược, vừa cạnh tranh gay gắt, vừa hợp tác, thỏa hiệp, luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương đối mặt với nhiều trở ngại lớn, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định quan điểm chỉ đạo: “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” và khẳng định Việt Nam “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”[14].
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả”, “Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương; đề cao, bảo vệ và phát huy vai trò của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; vai trò thành viên chủ động, tích cực, quan trọng và có trách nhiệm tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là các cơ chế có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước như: ASEAN, Liên hợp quốc, hợp tác tiểu vùng Mê Công, APEC...; phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể; chủ động tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương”[15]. Việc Đại hội XIV tiếp tục đề cao chủ nghĩa đa phương và khẳng định tầm quan trọng của đối ngoại đa phương trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, thể hiện chủ trương nhất quán bảo đảm, bảo vệ lợi ích cao nhất của quốc gia, dân tộc, nhưng không thúc đẩy lợi ích dân tộc vị kỷ, cực đoan, sẵn sàng góp sức vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế ứng phó với các thách thức toàn cầu đúng theo tinh thần Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
3. Ngoại giao kinh tế góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”
Trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động sâu rộng đến môi trường phát triển của Việt Nam, công tác ngoại giao kinh tế đã bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, qua đó đạt nhiều kết quả nổi bật, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội và tạo nền tảng quan trọng hướng tới mục tiêu tăng trưởng “2 con số” trong giai đoạn tới.
Năm 2025 đánh dấu bước tiến vượt bậc của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam. Trong khuôn khổ 75 hoạt động đối ngoại của lãnh đạo chủ chốt, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ với 17 nước, ký kết 350 thỏa thuận hợp tác, gấp 2,5 lần so với năm 2024. Trong đó, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ tiếp tục giữ vai trò trọng tâm, được thúc đẩy mạnh mẽ với nhiều đối tác quan trọng, qua đó tăng cường kết nối, thu hút hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của kinh tế, thương mại quốc tế.
Ngoại giao kinh tế tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại và thu hút đầu tư theo hướng bền vững, hiệu quả. Việt Nam duy trì và củng cố các thị trường xuất khẩu chủ lực, đồng thời tạo đột phá tại nhiều thị trường mới, tiềm năng như: Mỹ Latinh, Trung Đông - châu Phi, Trung Á và Trung Đông Âu. Nhờ đó, Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm 15 nước thương mại lớn nhất thế giới.
Cùng với đó, công tác quảng bá thương hiệu quốc gia, xúc tiến thương mại và du lịch được triển khai đồng bộ, bài bản với nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo, góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực dịch vụ và du lịch. Tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 đạt gần 21,2 triệu lượt, tăng 20,4% so với năm 2024 và cao hơn 17,8% so với thời điểm trước dịch năm 2019, mức cao nhất từ trước đến nay; trong 05 tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 10,6 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2025 và là mức cao nhất của 05 tháng đầu năm các năm từ trước đến nay. Kết quả này có đóng góp quan trọng từ hoạt động ngoại giao quảng bá hình ảnh đất nước, thúc đẩy mở các đường bay quốc tế mới và tăng cường hợp tác du lịch với các đối tác quốc tế.
Bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/CP về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công tác ngoại giao kinh tế đã chủ động thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ đạt nhiều kết quả thực chất. Trong năm 2025, hơn 70 văn kiện hợp tác cấp Chính phủ, bộ, ngành, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương đã được ký kết trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ; đặc biệt chú trọng xây dựng các khuôn khổ hợp tác chiến lược với các trung tâm khoa học, công nghệ hàng đầu thế giới. Nhiều tập đoàn công nghệ lớn như: NVIDIA, Qualcomm, Samsung, ASML,... tăng cường hiện diện, mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam; Viettel khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao đầu tiên của Việt Nam. Những kết quả này góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời mở ra dư địa tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ngoại giao kinh tế cũng góp phần quan trọng trong thu hút đầu tư chất lượng cao và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Việt Nam đã kết nối thành công nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới sang tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư; thúc đẩy triển khai một số dự án đầu tư quan trọng; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ Việt Nam mở rộng hợp tác và từng bước vươn ra thị trường quốc tế. Công tác kết nối trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh, trong đó xây dựng kế hoạch giới thiệu 100 chuyên gia hàng đầu về nước làm việc, tập hợp được khoảng 5.000 dữ liệu chuyên gia, trí thức, doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài, tạo nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Ở cấp độ địa phương và doanh nghiệp, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai gần 500 hoạt động ngoại giao kinh tế nhằm xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch; hỗ trợ các địa phương tổ chức hơn 150 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư trong và ngoài nước; đồng thời hỗ trợ các tỉnh, thành phố ký kết khoảng 100 thỏa thuận hợp tác với các đối tác quốc tế. Công tác hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế, tháo gỡ khó khăn, bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được triển khai tích cực, hiệu quả.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác ngoại giao kinh tế tiếp tục chú trọng nghiên cứu, dự báo tình hình, tham mưu đề xuất chính sách phục vụ điều hành phát triển kinh tế - xã hội; tích cực tham gia, đóng góp thực chất tại các diễn đàn đa phương nhằm bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời tăng cường rà soát, đôn đốc thực hiện các cam kết quốc tế.
4. Đối ngoại Quốc hội tiếp tục phát huy vai trò kênh ngoại giao nghị viện, chủ động, tích cực và trách nhiệm
Triển khai Kết luận số 2035-KL/ĐĐQH15 của Đảng đoàn Quốc hội về định hướng đối ngoại của Quốc hội khóa XV đến năm 2030 và Kế hoạch triển khai Kết luận số 71-KL/TW của Bộ Chính trị, công tác đối ngoại của Quốc hội năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026 được triển khai tích cực, chủ động, bám sát chương trình đối ngoại của lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước; đồng thời kết hợp chặt chẽ với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, phát huy hiệu quả vai trò đặc thù của ngoại giao nghị viện.
Hoạt động đối ngoại song phương được triển khai toàn diện trên tất cả các khu vực, với nhiều hoạt động trao đổi đoàn cấp cao, tiếp xúc song phương và cơ chế hợp tác liên nghị viện quan trọng. Quốc hội đã tổ chức tốt các hoạt động đón tiếp đoàn Quốc hội, Nghị viện các nước; triển khai hiệu quả các chuyến công tác đối ngoại của lãnh đạo Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Nổi bật là chuyến thăm chính thức Uzbekistan và Armenia của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn từ ngày 02 - 08/4/2025; chuyến thăm chính thức Maroc và Senegal từ ngày 22 - 30/7/2025; chuyến thăm chính thức Malaysia từ ngày 16 - 20/9/2025; chuyến thăm chính thức Italia từ ngày 11 - 15/4/2026... Các chuyến thăm được chuẩn bị chu đáo, đạt nhiều kết quả thực chất, góp phần củng cố tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác nghị viện và nâng cao vị thế đối ngoại của Quốc hội Việt Nam.
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quan hệ hợp tác nghị viện với các nước láng giềng và đối tác quan trọng tiếp tục được tăng cường. Quan hệ với Malaysia được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội nhân dịp tham dự Đại hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA) lần thứ 46, góp phần triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước. Với Trung Quốc, chuyến thăm Việt Nam của đồng chí Triệu Lạc Tế, Ủy viên trưởng Nhân đại toàn quốc Trung Quốc, cùng việc tổ chức Phiên họp lần thứ nhất Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc đã tạo bước phát triển mới trong hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp, hình thành cơ chế hợp tác ổn định, lâu dài và thực chất. Quan hệ hợp tác đặc biệt với Lào tiếp tục được củng cố thông qua các hoạt động phối hợp giám sát, trao đổi kinh nghiệm lập pháp, khảo sát chung và triển khai các thỏa thuận cấp cao. Quan hệ với Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ và New Zealand tiếp tục được tăng cường, góp phần củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác song phương và mở rộng giao lưu nghị viện. Đáng chú ý, Biên bản ghi nhớ hợp tác giai đoạn mới giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Hàn Quốc đã được ký kết; Hội nghị xúc tiến đầu tư “Gặp gỡ Nhật Bản - Đồng bằng sông Cửu Long” thu hút hơn 150 doanh nghiệp và nhà đầu tư Nhật Bản tham dự.
Tại châu Âu, hợp tác nghị viện với Liên bang Nga, Armenia, Uzbekistan, Thụy Sĩ, Pháp, Séc, Hungary, Nghị viện châu Âu và nhiều đối tác khác tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu. Phiên họp lần thứ tư Ủy ban Hợp tác liên nghị viện giữa Quốc hội Việt Nam và Duma Quốc gia Liên bang Nga đã góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp trong giai đoạn 2025-2026. Chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội tới Armenia và Uzbekistan tạo xung lực mới cho hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục và giao lưu nhân dân. Các hoạt động song phương tại Thụy Sĩ bên lề Hội nghị các Chủ tịch Quốc hội thế giới lần thứ 6 góp phần thúc đẩy việc nối lại đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA; đồng thời ghi nhận việc ký kết bốn thỏa thuận hợp tác giữa các bộ, ngành hai nước. Hợp tác với Nghị viện châu Âu tiếp tục được duy trì hiệu quả, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - EU và vận động sự ủng hộ đối với các lợi ích chính đáng của Việt Nam.
Tại châu Mỹ, quan hệ giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Hoa Kỳ tiếp tục được duy trì tích cực trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện và dịp kỷ niệm 30 năm bình thường hóa quan hệ hai nước. Việc hai Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đồng bảo trợ Nghị quyết số 321 về kỷ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ thể hiện sự coi trọng của phía Hoa Kỳ đối với quan hệ song phương. Quan hệ hợp tác đặc biệt Việt Nam - Cuba tiếp tục được củng cố thông qua chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Cuba và Phiên họp thứ hai của Ủy ban hợp tác liên nghị viện Việt Nam - Cuba; hai bên tăng cường trao đổi kinh nghiệm lập pháp, hoàn thiện chính sách và thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, công nghệ sinh học và y tế. Quan hệ với Mexico, Venezuela và các nước Mỹ Latinh tiếp tục được duy trì và phát triển tích cực.
Tại châu Phi, các chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội tới Maroc và Senegal, cũng như chuyến công tác của Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh tới Bờ Biển Ngà và Nam Phi, đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới, góp phần thúc đẩy quan hệ với các đối tác quan trọng của Việt Nam tại khu vực, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp và viễn thông.
Cùng với các hoạt động song phương, Quốc hội tiếp tục phát huy vai trò trong việc phối hợp triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã tích cực tham gia các hoạt động đối ngoại cấp cao, tham gia xây dựng các đề án, chiến lược phát triển quan hệ đối ngoại và cho ý kiến đối với nhiều vấn đề đối ngoại quan trọng của đất nước.
Trong lĩnh vực đối ngoại đa phương, Quốc hội Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm tại các cơ chế nghị viện khu vực và quốc tế. Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam do Chủ tịch Quốc hội dẫn đầu tham dự Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới lần thứ 150 (IPU-150) tại Uzbekistan, tích cực tham gia các hoạt động nghị sự và chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chủ tịch Quốc hội cũng tham dự Hội nghị các Chủ tịch Quốc hội thế giới lần thứ 6 tại Thụy Sĩ, khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với chủ nghĩa đa phương, hòa bình và hợp tác quốc tế. Quốc hội Việt Nam tham gia đầy đủ các hoạt động của AIPA, đóng góp tích cực vào các nội dung liên quan đến phát triển bền vững, chuyển đổi số, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống; tiếp tục khẳng định vai trò cầu nối, tăng cường phối hợp lập trường giữa các nghị viện ASEAN. Đồng thời, Quốc hội Việt Nam cũng tham gia tích cực tại APPF, ASEP, APF, các diễn đàn nghị sĩ trẻ, nữ nghị sĩ và nhiều cơ chế nghị viện chuyên đề khác, qua đó tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế.
5. Đối ngoại quốc phòng, an ninh - bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh tiếp tục được triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; tiếp tục cụ thể hóa hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, các quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về “vươn mình trong hội nhập quốc tế”, “Rạng rỡ Việt Nam” vào quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Bộ Quốc phòng chủ động ban hành Kế hoạch số 3588/KH-BQP ngày 12/6/2025 triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai hiệu quả các đề án, kế hoạch về đối ngoại quốc phòng, bảo đảm mọi hoạt động đúng định hướng, không để xảy ra sai sót. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, trọng tâm là Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và Nghị định số 234/2025/NĐ-CP ngày 27/8/2025 của Chính phủ quy định đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam và tàu quân sự Việt Nam đi nước ngoài.
Công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại được triển khai chủ động, bài bản, gắn với các sự kiện chính trị, đối ngoại quốc phòng lớn của đất nước như: kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9, góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam tới bạn bè quốc tế.
Trong năm 2025, các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đã chủ động nghiên cứu, đánh giá tình hình, kịp thời tham mưu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xử lý hiệu quả các vấn đề liên quan đến quan hệ quốc tế và đối ngoại quốc phòng; tham mưu triển khai ký kết 44 văn bản hợp tác với 21 nước; tham mưu cho phép tàu hải quân, cảnh sát biển của 14 nước thăm xã giao và ghé đậu kỹ thuật tại Việt Nam, qua đó góp phần tăng cường lòng tin, mở rộng hợp tác và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
Quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng tiếp tục được ưu tiên thúc đẩy, góp phần củng cố vành đai an ninh trực tiếp của đất nước. Quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc được triển khai theo phương hướng “6 hơn” mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thống nhất; nhiều hoạt động hợp tác thực chất được triển khai như huấn luyện liên hợp lục quân, huấn luyện chung trên biển, nghiên cứu chung, trao đổi học thuật. Hoạt động trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao giữa hai Bộ Quốc phòng được duy trì hiệu quả; nổi bật là việc thiết lập cơ chế đối thoại chiến lược “3+3” cấp Bộ trưởng về ngoại giao, quốc phòng và an ninh và tổ chức thành công Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 9.
Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược với Lào và quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Campuchia tiếp tục được củng cố và phát triển thực chất, góp phần tăng cường lòng tin chính trị, giữ vững ổn định khu vực biên giới và xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Quan hệ quốc phòng với các nước lớn, các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện tiếp tục được thúc đẩy thông qua trao đổi đoàn các cấp, cơ chế đối thoại chính sách, đối thoại chiến lược quốc phòng và hợp tác thực chất trên nhiều lĩnh vực. Với Mỹ, Việt Nam chủ động triển khai tiếp xúc với chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump, duy trì hiệu quả cơ chế Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng; tổ chức điện đàm, gặp song phương và đón Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ thăm chính thức Việt Nam, qua đó góp phần tăng cường hợp tác quốc phòng song phương, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho các hoạt động vận động chính trị - ngoại giao và đàm phán thương mại giữa hai nước.
Với Nga, hai bên tiếp tục duy trì thường xuyên trao đổi đoàn và các cơ chế hợp tác quan trọng như Ủy ban liên Chính phủ, Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng; thành lập nhóm công tác hợp tác công nghiệp quốc phòng nhằm thúc đẩy hợp tác kỹ thuật quân sự đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.
Quan hệ với nhiều nước khác tiếp tục được mở rộng thông qua các chuyến thăm cấp cao và các cơ chế hợp tác song phương. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tham gia đoàn cấp cao thăm Indonesia, Singapore, Hàn Quốc, Phần Lan, Bulgaria, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Triều Tiên, Azerbaijan, Belarus; đồng thời đón Bộ trưởng Quốc phòng Cuba, Azerbaijan, Thổ Nhĩ Kỳ, Slovakia thăm chính thức Việt Nam. Đối thoại Chính sách/Chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng được duy trì với 11 nước, góp phần mở rộng không gian hợp tác, tăng cường đan xen lợi ích chiến lược giữa Việt Nam với các đối tác.
Đối ngoại biên giới tiếp tục là điểm sáng nổi bật của đối ngoại quốc phòng. Việt Nam tổ chức thành công Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 9 và Việt Nam - Campuchia lần thứ 2; phối hợp chặt chẽ với các địa phương biên giới thúc đẩy mở, nâng cấp cửa khẩu, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập cảnh, thương mại và giao lưu nhân dân. Đồng thời, tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trên biển; nâng cao hiệu quả đấu tranh chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU).
Hợp tác an ninh trên biển, trên không; hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh; hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và đầu tư, thương mại quân sự tiếp tục được triển khai hiệu quả. Việt Nam chủ động tranh thủ nguồn lực về vốn, khoa học, công nghệ, trang bị từ các đối tác phục vụ tăng cường tiềm lực quốc phòng; đồng thời chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Lãnh đạo Bộ Quốc phòng tham dự nhiều diễn đàn lớn như Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh, Đối thoại Shangri-La lần thứ 22; có nhiều bài phát biểu quan trọng, thể hiện rõ vai trò tích cực, chủ động và trách nhiệm của Việt Nam đối với các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời truyền tải thông điệp về một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Đặc biệt, tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 (29/5/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu dẫn đề quan trọng, thể hiện tầm nhìn, quan điểm, chủ trương, chính sách của Việt Nam đối với châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á; được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tiếp tục được triển khai đúng kế hoạch. Việt Nam hoàn thiện và thành lập Đội Công binh số 4, Bệnh viện dã chiến cấp 2.7; cử cán bộ tham gia các phái bộ quốc tế; đàm phán ký kết Kế hoạch 3 năm (2025 – 2027) triển khai Thỏa thuận đối tác gìn giữ hòa bình giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia, qua đó tiếp tục khẳng định trách nhiệm và đóng góp của Việt Nam đối với hòa bình, ổn định toàn cầu.
Công tác phối hợp tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA) tiếp tục được triển khai hiệu quả. Hai bên tổ chức 04 đợt hoạt động đơn phương và hỗn hợp với tổng số 17 đội; Việt Nam đã trao trả cho phía Mỹ 05 hòm hài cốt cùng nhiều hiện vật liên quan đến quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh. Đây tiếp tục là điểm sáng trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, góp phần củng cố lòng tin và thúc đẩy quan hệ song phương Việt Nam - Mỹ phát triển ổn định, thực chất.
Hệ thống Văn phòng Tùy viên Quốc phòng, Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Liên hợp quốc và các nước tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối quan trọng trong triển khai hợp tác quốc phòng song phương và đa phương; tham mưu, tổ chức hiệu quả các hoạt động trao đổi đoàn, hội chợ, triển lãm quốc phòng quốc tế; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại và quản lý lưu học sinh quân sự. Việt Nam cũng triển khai Đề án mở Văn phòng Tùy viên Quốc phòng tại Thổ Nhĩ Kỳ và Italia nhằm mở rộng mạng lưới đối ngoại quốc phòng trong giai đoạn mới.
6. Ngoại giao văn hóa góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Đảng, của đất nước trên trường quốc tế
Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới; văn hóa và con người được đặt ở vị trí trung tâm, trở thành trục xuyên suốt của chiến lược phát triển quốc gia; nhấn mạnh “Khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại”.
Ngoại giao văn hóa là trụ cột chiến lược của nền ngoại giao chuyên nghiệp, toàn diện, hiện đại. Đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao văn hóa, đóng góp vào thực hiện thành công các đột phá lớn của đất nước, đặc biệt là hai mục tiêu 100 năm, nâng tầm sức mạnh mềm của đất nước, quảng bá hình ảnh, bản sắc và giá trị Việt Nam, làm phong phú thêm cho văn minh nhân loại, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển thịnh vượng.
Ở góc độ thực tiễn phát triển, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trên lĩnh vực ngoại giao văn hóa không chỉ dừng ở quảng bá hình ảnh, mà còn phải định vị quốc gia, góp phần mở đường và khơi thông nguồn lực cho phát triển; biến di sản thành tài sản, tiềm lực thành nguồn lực; hỗ trợ định hình thương hiệu địa phương, thương hiệu quốc gia và gia tăng giá trị cho các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch, dịch vụ sáng tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Năm 2025, ngoại giao văn hóa lan tỏa mạnh mẽ, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Việt Nam đã vận động thành công UNESCO công nhận thêm 7 danh hiệu mới, đưa tổng số danh hiệu của Việt Nam được UNESCO công nhận lên 77, vượt xa mục tiêu đã đề ra là 60 danh hiệu vào năm 2030, trong đó có việc Ủy ban Di sản thế giới ghi danh Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản thế giới thứ chín của Việt Nam và là di sản mới đầu tiên được ghi danh sau 11 năm. Tại Triển lãm Thế giới EXPO 2025 ở Osaka (Nhật Bản), Việt Nam đã giành được Giải Bạc hạng mục "Thiết kế trưng bày" và Giải Đồng hạng mục "Đội ngũ xuất sắc nhất". Đặc biệt, sáng kiến của Việt Nam về "Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững" đã được Đại hội đồng UNESCO thông qua để trình lên Liên hợp quốc, thể hiện vai trò dẫn dắt và trách nhiệm của Việt Nam đối với các vấn đề toàn cầu. Công tác thông tin đối ngoại chủ động, không chỉ quảng bá hình ảnh quốc gia mà còn bảo vệ nền tảng tư tưởng, lợi ích đất nước trong môi trường thông tin phức tạp. Việc Việt Nam đón hơn 21 triệu lượt khách quốc tế năm 2025 và 10,6 triệu lượt trong 5 tháng đầu năm 2026 đã mở ra kỷ nguyên du lịch mới cho Việt Nam khi đạt kỷ lục đón khách cao nhất từ trước đến nay. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã thành công trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc với thành quả rõ nét chính là nguồn kiều hối gửi về nước đạt mức kỷ lục, trở thành nguồn lực quan trọng đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
7. Nâng tầm đối ngoại nhân quyền; công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân
7.1. Về công tác đối ngoại nhân quyền
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, xung đột vũ trang, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các thách thức an ninh phi truyền thống và xu hướng chính trị hóa, vấn đề nhân quyền tiếp tục tác động sâu sắc đến môi trường quốc tế, công tác đối ngoại về quyền con người của Việt Nam được triển khai chủ động, toàn diện và hiệu quả. Bám sát đường lối đối ngoại của Đảng, Việt Nam tiếp tục tranh thủ hiệu quả các diễn đàn đa phương, nhất là Liên hợp quốc và Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vị thế đất nước, đồng thời đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
Năm 2025 là năm cuối Việt Nam đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Trên cơ sở phương châm tham gia “Tôn trọng và hiểu biết; Đối thoại và hợp tác; Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”, Việt Nam đã tham gia đầy đủ, tích cực và thực chất các hoạt động của Hội đồng; hiện diện ở tất cả các phiên họp cấp cao và các kỳ họp quan trọng, thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và quản trị toàn cầu về quyền con người. Trong quá trình tham gia Hội đồng, Việt Nam không chỉ chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn về xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương mà còn thúc đẩy cách tiếp cận đối thoại, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau và đề cao vai trò của phát triển trong bảo đảm quyền con người.
Một trong những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại nhân quyền trong thời gian qua là việc Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò chủ động trong xây dựng và định hình các nội dung hợp tác quốc tế về quyền con người. Trong nhiệm kỳ 2023-2025, Việt Nam đã chủ trì giới thiệu Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người và 30 năm Tuyên bố, Chương trình hành động Vienna - hai văn kiện có ý nghĩa nền tảng đối với phong trào nhân quyền quốc tế. Đồng thời, Việt Nam cùng các đối tác thúc đẩy các sáng kiến và nghị quyết về biến đổi khí hậu và quyền con người, quyền trẻ em trong môi trường số, cũng như các vấn đề liên quan đến tác động của khoa học công nghệ đối với việc thụ hưởng quyền con người. Các sáng kiến của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá tích cực, thể hiện vai trò ngày càng chủ động, trách nhiệm và có đóng góp thực chất của Việt Nam tại các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc.
Cùng với việc tham gia tích cực các cơ chế đa phương, Việt Nam tiếp tục thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người. Trong năm 2025, Việt Nam bảo vệ thành công các báo cáo quốc gia theo những công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, trong đó có nhiều nội dung được cộng đồng quốc tế quan tâm và được xem là phức tạp, nhạy cảm. Đáng chú ý là việc bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia lần thứ tư về thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Báo cáo quốc gia lần đầu tiên về thực thi Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD), đồng thời tiếp tục triển khai hiệu quả các khuyến nghị theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và các nghĩa vụ theo Công ước chống phân biệt chủng tộc (CERD). Quá trình đối thoại và bảo vệ báo cáo được thực hiện trên tinh thần cởi mở, xây dựng, minh bạch và trách nhiệm, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.
Trong xử lý các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ và nhân quyền tại các diễn đàn quốc tế, Việt Nam tiếp tục kiên trì bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và đề cao đối thoại, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Cách tiếp cận cân bằng, khách quan và mang tính xây dựng của Việt Nam được nhiều quốc gia ghi nhận, góp phần tăng cường đồng thuận, duy trì đối thoại và thúc đẩy hợp tác thực chất trong lĩnh vực quyền con người trong bối cảnh thế giới còn nhiều khác biệt và chia rẽ.
Dấu ấn nổi bật nhất của công tác đối ngoại nhân quyền năm 2025 là việc Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 với 180 phiếu ủng hộ, là quốc gia đạt số phiếu cao nhất trong Nhóm châu Á - Thái Bình Dương. Kết quả này phản ánh sự đánh giá khách quan, tích cực của cộng đồng quốc tế đối với những cam kết, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; đồng thời khẳng định sự tín nhiệm đối với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và những đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam tại các cơ chế đa phương. Việc tái đắc cử ngay sau khi hoàn thành nhiệm kỳ 2023-2025 cũng cho thấy cộng đồng quốc tế đánh giá cao cách tiếp cận đối thoại, hợp tác và cân bằng mà Việt Nam đã kiên trì theo đuổi trong thời gian qua.
Những kết quả đạt được trong công tác đối ngoại nhân quyền gắn liền với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quyền con người ở trong nước. Năm 2025, Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế 8,02%, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 1,3%; nhiều chính sách quan trọng về an sinh xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tiếp tục được triển khai hiệu quả. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp Việt Nam nâng cao tính thuyết phục trong đối thoại quốc tế về quyền con người và khẳng định quan điểm nhất quán lấy con người làm trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình phát triển.
Trong thời gian tới, công tác đối ngoại nhân quyền cần tiếp tục quán triệt và triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế và đối ngoại đa phương; phát huy vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028; chủ động tham gia xây dựng và thúc đẩy các sáng kiến liên quan đến biến đổi khí hậu, quyền trẻ em, bình đẳng giới, quyền con người trong môi trường số, y tế, giáo dục và phát triển bền vững. Đồng thời, tiếp tục thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người; nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại; tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, góp phần xây dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển đất nước.
Với nền tảng được tạo dựng trong nhiệm kỳ 2023 - 2025 cùng sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế, Việt Nam bước vào nhiệm kỳ Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2026 - 2028 với tâm thế chủ động, tự tin và trách nhiệm; tiếp tục đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
7.2. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; xung đột vũ trang, bất ổn chính trị tại nhiều khu vực, các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai cực đoan, tội phạm xuyên quốc gia và tình trạng di cư trái phép tiếp tục gia tăng, công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân được triển khai chủ động, quyết liệt, hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững niềm tin của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với Đảng và Nhà nước, đồng thời nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Số liệu tổng kết năm 2025 cho thấy, công tác người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục đóng góp thiết thực vào việc huy động các nguồn lực phục vụ phát triển đất nước, nhất là trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế. Lượng kiều hối chuyển về nước đạt trên 16 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Về đầu tư, đã có 457 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt trên 1,7 tỷ USD. Từ nguồn lực tài chính, mạng lưới chuyên gia, trí thức đến các dự án đầu tư, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng chuyển từ vị thế “nguồn lực tiềm năng” sang những chủ thể trực tiếp đồng hành cùng đất nước trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh những đóng góp về kinh tế, hình ảnh Việt Nam tiếp tục được lan tỏa rộng rãi thông qua đời sống, hoạt động và uy tín ngày càng cao của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, ẩm thực, truyền thống gia đình và tinh thần nhân ái của dân tộc được quảng bá sinh động tại nhiều quốc gia, góp phần từng bước hình thành “không gian Việt Nam toàn cầu” giàu bản sắc. Công tác bảo tồn và phát huy tiếng Việt trong cộng đồng tiếp tục được chú trọng triển khai với nhiều hình thức phong phú, thiết thực. Các hoạt động tôn vinh tiếng Việt, hỗ trợ giảng dạy tiếng Việt và kết nối thế hệ trẻ kiều bào với quê hương ngày càng được tổ chức bài bản, chuyên nghiệp.
Trong năm 2025, Bộ Ngoại giao đã tổ chức 10 chuỗi hoạt động lớn dành cho người Việt Nam ở nước ngoài với khoảng 90 sự kiện trên cả nước, thu hút hơn 1.500 lượt kiều bào tham dự. Các chương trình đã góp phần tăng cường kết nối cộng đồng, phát huy nguồn lực tri thức, doanh nhân, chuyên gia và văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Cùng với công tác cộng đồng, công tác lãnh sự và bảo hộ công dân tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thể hiện rõ bản chất nhân văn của nền ngoại giao Việt Nam. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, Bộ Ngoại giao đã phát huy vai trò đầu mối, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương triển khai hiệu quả công tác bảo hộ công dân theo phương châm “chủ động - kịp thời - hiệu quả - nhân văn”. Cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng tiếp tục phát huy hiệu quả, bảo đảm chia sẻ thông tin, xây dựng phương án ứng phó và triển khai các biện pháp bảo hộ công dân tại các địa bàn có nguy cơ cao.
Trong năm 2025, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thường xuyên theo dõi sát diễn biến tại các khu vực xung đột, bất ổn chính trị và thiên tai, duy trì liên lạc với cộng đồng người Việt Nam, sẵn sàng triển khai các biện pháp hỗ trợ cần thiết nhằm bảo đảm an ninh, an toàn cho công dân. Khi xung đột tại khu vực Trung Đông leo thang vào tháng 6/2025, các cơ quan chức năng đã triển khai nhiều biện pháp bảo hộ và sơ tán công dân khỏi các khu vực nguy hiểm, bảo đảm an toàn cho công dân Việt Nam tại Iran, Israel và các địa bàn liên quan. Trước diễn biến giao tranh tại khu vực biên giới Thái Lan - Campuchia, các cơ quan đại diện và cơ quan chức năng trong nước đã chủ động khuyến cáo, hướng dẫn và hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam di chuyển đến nơi an toàn, hạn chế tối đa rủi ro phát sinh.
Đối với tình trạng lừa đảo dưới hình thức “việc nhẹ, lương cao”, công tác bảo hộ công dân tiếp tục được triển khai quyết liệt. Các cơ quan chức năng của Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan hữu quan của Campuchia, Myanmar, Thái Lan và Philippines triển khai nhiều đợt giải cứu, bảo hộ và hỗ trợ công dân trở về nước trong các chiến dịch truy quét các cơ sở lừa đảo trực tuyến sử dụng lao động nước ngoài trái phép. Công tác bảo hộ ngư dân và tàu cá Việt Nam bị phía nước ngoài bắt giữ cũng tiếp tục được triển khai kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngư dân, đồng thời hỗ trợ thực hiện các cam kết quốc tế về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Tính chung trong năm 2025, Cục Lãnh sự và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai bảo hộ trên 13.000 lượt công dân; hỗ trợ, tư vấn và xử lý nhiều trường hợp công dân bị bắt giữ, tạm giam, tai nạn, ốm đau, mất giấy tờ, gặp khó khăn về pháp lý, tài chính hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở nước ngoài. Công tác thông tin, tuyên truyền và khuyến cáo công dân tiếp tục được đẩy mạnh thông qua nhiều hình thức, giúp người dân nâng cao nhận thức, chủ động phòng ngừa rủi ro và tuân thủ pháp luật nước sở tại.
Bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân cần tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ theo hướng chủ động, hiện đại và lấy người dân làm trung tâm phục vụ. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật liên quan đến xuất nhập cảnh, quốc tịch, hộ tịch, di cư và bảo hộ công dân; nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp liên ngành trong xử lý các tình huống khủng hoảng, khẩn cấp; mở rộng mạng lưới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan lãnh sự và Lãnh sự danh dự Việt Nam ở nước ngoài.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu về di cư và hệ sinh thái lãnh sự số; tăng cường ứng dụng AI, dữ liệu lớn trong công tác quản lý, dự báo và bảo hộ công dân; tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về lãnh sự và di cư; chủ động tham gia xây dựng các cơ chế quản trị di cư khu vực và toàn cầu. Đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lãnh sự và bảo hộ công dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, tận tụy phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đối ngoại trong tình hình mới.
PHẦN III
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM CỦA CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI,
HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Một số nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai thực hiện đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế trong thời gian tới
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế".
Để thực hiện định hướng trên, Nghị quyết 06-NQ/TW đề ra 4 nhóm định hướng, chủ trương lớn; 4 nhóm nhiệm vụ trên cơ sở các mục tiêu cốt lõi của đối ngoại liên quan đến an ninh, phát triển, vị thế của đất nước và yêu cầu xây dựng, phát triển ngành đối ngoại; được cụ thể hóa trong Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn 2026-2030. Trong đó, một số nhóm nhiệm vụ theo các định hướng, chủ trương lớn như sau:
Thứ nhất, phát huy vai trò tiên phong và nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại trong việc chủ động giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để tập trung phát triển đất nước.
Ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng, khu vực. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là các nước láng giềng chung biên giới, các nước Đông Nam Á. Tăng cường, củng cố tin cậy chiến lược giữa Việt Nam và các nước. Đẩy mạnh ngoại giao nguyên thủ và ngoại giao cấp cao; đổi mới, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác.
Chú trọng phát triển quan hệ với các nước lớn; chủ động thúc đẩy trao đổi đoàn các cấp, nâng cao hiệu quả các cơ chế đối thoại, hợp tác; chú trọng hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, quyết liệt tháo gỡ các vướng mắc trong hợp tác trên các lĩnh vực.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ với các đối tác quan trọng, các nước bạn bè truyền thống. Với các nước có ảnh hưởng quan trọng trong G7, G20, tăng cường đan xen lợi ích toàn diện, thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư gắn với công nghệ cao; tháo gỡ các vướng mắc trong các dự án hợp tác. Với các nước bạn bè truyền thống, củng cố tin cậy chính trị, phát huy đối thoại, hợp tác kênh đảng; đổi mới tư duy và cách làm; khai thác các thị trường tiềm năng (Mỹ Latinh, Trung Đông, Trung Á, Trung - Đông Âu, châu Phi).
Xử lý ổn thỏa các vấn đề biên giới, lãnh thổ với các bên liên quan, chủ động ngăn ngừa xung đột từ sớm, từ xa. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam. Thiết lập, nâng cao hiệu quả các cơ chế điều phối, phối hợp thường xuyên giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ta ở Biển Đông. Duy trì, phát triển đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, an ninh, hợp tác và phát triển; tăng cường kết nối hạ tầng giao thông, logistics xuyên biên giới và liên khu vực; đẩy mạnh hợp tác, giao lưu hữu nghị biên giới với các nước láng giềng.
Chủ động nhận diện, hóa giải các thách thức; tranh thủ cơ hội tham gia xây dựng các thể chế mới trong cấu trúc an ninh khu vực và toàn cầu. Chủ động tham gia, đề xuất các sáng kiến, thúc đẩy hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống; xây dựng, kiến tạo các khuôn khổ hợp tác, quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực mới.
Thứ hai, phát huy vai trò tiên phong và nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả.
Đưa đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả trở thành động lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Tranh thủ tối đa các khuôn khổ quan hệ với các đối tác để tăng cường hợp tác phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2 con số, chuyển đổi mô hình phát triển. Tạo đột phá trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Phát huy tính chủ động của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho phát triển.
Phát huy vai trò đột phá của ngoại giao khoa học, công nghệ phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thực hiện đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển các ngành công nghệ chiến lược, góp phần triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đưa hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành trụ cột hợp tác ngày càng quan trọng trong quan hệ với các đối tác.
Tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn cung; tích cực hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia, nâng cao vị trí trong các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Triển khai các cơ chế, chính sách thúc đẩy khơi thông thị trường vốn cho doanh nghiệp; hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp và địa phương tiếp cận thị trường các nước, tháo gỡ vướng mắc, giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, nâng cao vai trò, vị thế trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.
Chủ động, tích cực tham gia cải cách, xây dựng, định hình các thể chế của cấu trúc quốc tế và khu vực, trọng tâm là ASEAN, Liên hợp quốc, các cơ chế tiểu vùng Mê Công, APEC. Chủ động đề xuất và triển khai các sáng kiến, ý tưởng trong các lĩnh vực ta có ưu tiên, lợi ích và đóng góp vào giải quyết các vấn đề chung của khu vực, toàn cầu. Nghiên cứu việc tham gia một số cơ chế lớn theo hình thức phù hợp với lợi ích và khả năng của ta.
Chủ động tham gia định hướng sự phát triển của kinh tế thế giới, khu vực phù hợp với lợi ích chung của ta và cộng đồng quốc tế, nhất là cải cách hệ thống quản trị toàn cầu về tài chính, thương mại đa phương theo hướng minh bạch, công bằng, bình đẳng. Chủ động đề xuất các khuôn khổ hợp tác phù hợp với lợi ích của ta; tích cực tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế, định hướng hợp tác về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Chủ động, tích cực phát huy sức mạnh mềm, con người, văn hóa và hệ giá trị Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh của đất nước. Đổi mới tư duy và cách triển khai ngoại giao văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia; phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, kinh tế di sản; tăng hiện diện văn hóa Việt Nam tại các cơ chế đa phương, tổ chức quốc tế. Tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, góp phần phát triển nền văn hóa dân tộc và nâng cao điều kiện thụ hưởng của nhân dân. Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của công tác thông tin đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, góp phần củng cố đồng thuận xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ tư, đổi mới đồng bộ thể chế, bộ máy, bảo đảm nguồn lực cho đối ngoại.
Đẩy mạnh xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, tập trung vào các công tác nghiên cứu lý luận về đối ngoại và ngoại giao; dự báo, tham mưu chiến lược; hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; xây dựng bộ máy tinh gọn; kiện toàn công tác cán bộ; thực hiện chuyển đổi số. Phát huy tốt vai trò của Chính phủ trong Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; vai trò điều phối của Bộ Ngoại giao trong quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại.
Triển khai đồng bộ, sáng tạo, nhịp nhàng, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trọng tâm là: (i) Nâng cao hiệu quả và tính chiến lược trong triển khai các cơ chế hợp tác đối ngoại đảng; (ii) Phát huy vai trò của đối ngoại nhân dân trong việc củng cố nền tảng xã hội bền vững trong quan hệ với các đối tác; nâng cao tính chủ động và hiệu quả tham gia các diễn đàn, cơ chế đa phương chính đảng và đối ngoại nhân dân; (iii) Tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác song phương với nghị viện của các đối tác, phát huy tính chủ động và vai trò của Quốc hội Việt Nam trong các cơ chế đa phương, liên nghị viện quan trọng; (iv) Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đối ngoại công an nhân dân, góp phần kiến tạo cục diện đối ngoại thuận lợi, nâng cao tự chủ và đa dạng hóa chiến lược, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Bảo đảm nguồn lực cho đối ngoại tương xứng với thế và lực mới của đất nước và mặt bằng chung của khu vực. Bảo đảm ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực cho công tác đối ngoại lên mức ngang với các nước có trình độ phát triển tương đương trong ASEAN.
Để tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết 06-NQ/TW, tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 4 vấn đề lớn:
Một là, xác định rõ đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương đối ngoại và thông qua chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nếu đường lối đối ngoại của Đại hội XIV là sự kết tinh của tầm nhìn, ý chí chính trị của Đảng thì các nội dung của Nghị quyết 06-NQ/TW là sự cụ thể hóa cần thiết và quan trọng để hiện thực hóa tầm nhìn, ý chí chính trị đó. Việc triển khai Nghị quyết không phải chỉ là của các cơ quan đối ngoại mà của tất cả các cấp ủy, cơ quan, tổ chức, địa phương. Cần quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới vang xa”. Bằng việc làm tốt công việc của mình, từng bộ, ngành, địa phương cũng là góp phần xứng đáng vào công tác đối ngoại.
Hai là, nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện của tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương, gắn với triển khai Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công cụ thể. Lấy kết quả cụ thể, tính thực tế, thực chất làm thước đo hiệu quả, loại bỏ tư duy hình thức, phô trương. Đề cao kỷ luật thực thi, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên việc triển khai Nghị quyết, qua đó nâng cao tính minh bạch và khả năng phản ứng chính sách kịp thời.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ cơ chế phối hợp liên ngành, liên lĩnh vực, giữa Trung ương và địa phương trong công tác đối ngoại: Kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước (bao gồm đối ngoại Quốc hội), đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ,... tạo sức mạnh tổng hợp của đối ngoại, đưa đối ngoại trở thành một mặt trận thống nhất, vững mạnh trong đó ngoại giao cấp cao là động lực chủ công, mang tính dẫn dắt, định hướng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và hệ thống giám sát thời gian thực đối với việc thực hiện Nghị quyết, nhất là hệ thống theo dõi, đôn đốc, giám sát việc triển khai các cam kết, thoả thuận quốc tế.
Bốn là, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, phối hợp triển khai Nghị quyết, đặc biệt là việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế; chuẩn bị triển khai xây dựng Chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới. Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có năng lực tổ chức thực thi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khắc phục tình trạng yếu kém, trì trệ trong khâu tổ chức thực hiện, lấy kết quả thực chất làm tiêu chuẩn đánh giá cán bộ.
2. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong các nội dung cụ thể của công tác đối ngoại
2.1. Đối ngoại đa phương
Để thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội XIV, tiếp tục nâng tầm đối ngoại đa phương, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương; chủ động, tích cực tham gia định hình các thể chế đa phương, ngoại giao đa phương thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tư duy về đối ngoại đa phương, phát huy vai trò tại các diễn đàn ASEAN, Mê Kông, Liên hợp quốc, ASEM, Phong trào Không liên kết,... và nhất là tận dụng cơ hội là nước chủ nhà APEC năm 2027, thúc đẩy tuân thủ và đề xuất sáng kiến thiết lập luật chơi minh bạch, công bằng, tạo dựng khuôn khổ pháp lý vững chắc, quản lý bất đồng, phòng ngừa xung đột, tiếp tục đề xuất các sáng kiến, xây dựng các chương trình nghị sự đa phương, thúc đẩy các cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực phù hợp với lợi ích và khả năng của Việt Nam, đặc biệt là các vấn đề có ảnh hưởng tới lợi ích an ninh, phát triển và vị thế của Việt Nam như tranh chấp Biển Đông, bảo vệ nguồn nước sông Mê Kông, an ninh mạng, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu,...
Thứ hai, phát huy lợi thế ở tuyến đầu để chủ động nắm bắt, phân tích sớm các thông tin chiến lược, tình hình quốc tế và khu vực, nhận diện các xu thế toàn cầu, các tư duy mới, chính sách của các nước, nhất là các nước lớn, nâng cao chất lượng dự báo tham mưu chiến lược.
Thứ ba, rà soát, nghiêm túc triển khai hiệu quả các thoả thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các sáng kiến do Việt Nam đưa ra. Tiếp tục đề xuất các sáng kiến mới, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, y tế, AI, an ninh mạng, môi trường, biến đổi khí hậu,… để huy động nguồn lực bên ngoài, thiết thực phục vụ các mục tiêu an ninh và phát triển của đất nước.
Thứ tư, tích cực ủng hộ chủ nghĩa đa phương và vai trò của Liên hợp quốc, đóng góp vào việc cải tổ Liên hợp quốc, các nỗ lực của Liên hợp quốc và quốc tế giải quyết các vấn đề toàn cầu cấp bách, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, khắc phục hậu quả chiến tranh. Bên cạnh đó, linh hoạt thích ứng, đồng thời với việc phát huy vai trò tại các tổ chức khu vực, liên khu vực[16], tham gia các hình thức hợp tác khác nhau bên trong, bên ngoài hoặc song song với các tổ chức quốc tế truyền thống, tham gia và góp phần định hình các hình thức hợp tác mới phù hợp với lợi ích và năng lực của Việt Nam, Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế để giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, thúc đẩy xây dựng lòng tin, giảm thiểu mâu thuẫn, quản lý xung đột, bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại am hiểu luật pháp quốc tế, có kiến thức sâu rộng và kỹ năng đàm phán đa phương, để tăng cường năng lực của các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là tạo điều kiện bồi dưỡng, tiến cử các nhà ngoại giao Việt Nam tham gia đảm đương các vị trí then chốt trong các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế.
Thứ sáu, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan đại diện và các bộ, ngành trong nước để xử lý kịp thời, hiệu quả, nhất quán các vấn đề quốc tế phức tạp. Tăng cường sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa ngoại giao nhà nước, đối ngoại đảng, đối ngoại nhân dân và ngoại giao nghị viện trên các diễn đàn đa phương, đảm bảo tính nhất quán, thống nhất trong triển khai đường lối đối ngoại. Chủ động tham gia các diễn đàn, cơ chế hợp tác đa phương giữa các chính đảng và các tổ chức nhân dân, thúc đẩy các sáng kiến phù hợp với lợi ích và điều kiện của nước ta.
2.2. Ngoại giao kinh tế
Năm 2026 là thời điểm có ý nghĩa chiến lược của dân tộc, là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030, bước đầu xác lập mô hình phát triển và quỹ đạo tăng trưởng dài hạn của đất nước hướng tới thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số", phương châm hành động của ngoại giao kinh tế năm 2026 cần phải kiến tạo không gian phát triển mới; kết nối nguồn lực chiến lược và kiểm chứng bằng hiệu quả thực thi, quyết tâm tăng tốc triển khai các quan điểm, chủ trương mới của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhất là các định hướng của Đại hội XIV và các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; chuyển hóa các định hướng chiến lược thành các kết quả cụ thể, thực chất, đo lường được.
Thứ nhất, kiến tạo không gian phát triển mới, cả về thị trường, công nghệ, vốn, năng lượng và chuỗi cung ứng. Kiến tạo cũng chính là định vị Việt Nam trong các chuỗi giá trị tương lai, trên bản đồ công nghệ của thế giới trong các lĩnh vực then chốt (AI, bán dẫn, dữ liệu, công nghệ xanh, năng lượng mới…).
Thứ hai, kết nối nguồn lực chiến lược cho phát triển, trong đó có kết nối đối tác, dự án; kết nối trung ương với địa phương và doanh nghiệp; kết nối tri thức, nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ ba, kiểm chứng đo lường kết quả, đeo bám, đôn đốc thực thi. Đây chính là “thước đo hiệu quả” của ngoại giao kinh tế. Kiểm chứng trước hết bằng cam kết tiến độ, kiểm chứng văn kiện bằng dự án, kiểm chứng tuyên bố bằng hành động. Chúng ta cần tiếp tục nâng cao hiệu quả cơ chế rà soát, đôn đốc, theo dõi thực thi các thỏa thuận đã ký; xác định rõ đầu mối, rõ lộ trình, rõ trách nhiệm; kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, địa phương và người dân. Kiểm chứng cũng là đo hiệu quả đầu ra bằng những thị trường, dự án, công nghệ cụ thể kết nối được, có ý nghĩa chiến lược, có tính khả thi cao.
Với cách tiếp cận đó, công tác ngoại giao kinh tế trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo sẽ tập trung vào những trọng tâm vừa mang tính chiến lược, vừa có sản phẩm cụ thể, bám sát 5 ưu tiên sau:
Một là, ưu tiên thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, trong đó ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao bán dẫn, ngoại giao kinh tế số là động lực trung tâm, là đột phá của ngoại giao kinh tế thời đại mới. Thúc đẩy nâng cao khả năng nghiên cứu, tiếp cận và sở hữu công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam, hỗ trợ hình thành các cụm R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo, các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực công nghệ cao, kết nối hệ sinh thái số; đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam vươn ra thị trường nước ngoài. Tìm cơ hội mua bán, sáp nhập, kết nối với các tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới; thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài.
Hai là, ưu tiên tạo đột phá trong mở rộng thị trường và chuỗi cung ứng với các đối tác tiềm năng ở khu vực Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh, Đông Âu, Trung Á, song song với củng cố và mở rộng hợp tác với các đối tác lớn, truyền thống, tranh thủ các khuôn khổ hợp tác mới nhằm mở rộng không gian phát triển. Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến các sản phẩm thương hiệu Việt Nam ra nước ngoài. Thúc đẩy đàm phán các hiệp định FTA với Bangladesh, Pakistan, các nước vùng Vịnh, các nước châu Phi như Ai Cập, Algeria, Liên minh thuế quan miền nam châu Phi, sớm ký kết FTA với MERCOSUR…
Ba là, ưu tiên hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ) nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các cam kết. Tích cực hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư, kinh doanh vươn ra thị trường quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến các sản phẩm thương hiệu Việt Nam ra nước ngoài. Phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh và không gian phát triển mới của địa phương trong bối cảnh triển khai chính quyền địa phương hai cấp.
Bốn là, nâng cao hơn nữa chất lượng và tính thiết thực của công tác nghiên cứu, gắn với hơi thở cuộc sống, bám sát tình hình thực tế, kịp thời tham mưu chính sách “trúng” và “đúng”, vừa tạo không gian chiến lược vừa thúc đẩy các trụ cột phát triển trong nước.
Năm là, ưu tiên đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao đa phương và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia định hình luật lệ và chuẩn mực mới; đồng thời chuẩn bị tốt chủ trì các cơ chế đa phương quan trọng, trong đó ưu tiên cao hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt cho Năm APEC 2027.
2.3. Đối ngoại của Quốc hội
Công tác đối ngoại của Quốc hội cần tiếp tục được triển khai chủ động, linh hoạt, hiệu quả, bám sát đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng và tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, trong đó chú trọng các nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt và triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng.
Tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai hiệu quả các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế; phát huy vai trò của đối ngoại nghị viện trong nền đối ngoại toàn diện, hiện đại Việt Nam; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Bám sát các định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Thứ hai, đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại nghị viện.
Tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác với Quốc hội/Nghị viện các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước lớn, bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng khác; tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; thúc đẩy các cơ chế hợp tác liên nghị viện đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Nhóm Nghị sĩ hữu nghị; tăng cường trao đổi kinh nghiệm về xây dựng pháp luật, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại đa phương.
Tiếp tục tham gia chủ động, tích cực, có trách nhiệm tại các diễn đàn nghị viện đa phương như IPU, AIPA, APPF, ASEP, APF và các cơ chế hợp tác nghị viện quốc tế khác; phát huy vai trò, tiếng nói và đóng góp của Quốc hội Việt Nam trong xử lý các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Đẩy mạnh việc đề xuất sáng kiến, tham gia xây dựng và định hình các nội dung hợp tác tại các diễn đàn đa phương; nâng cao chất lượng tham luận, phát biểu và đóng góp chính sách của các Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam.
Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, theo dõi tình hình quốc tế và khu vực nhằm phục vụ hiệu quả công tác tham mưu đối ngoại nghị viện.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại và chuyển đổi số.
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; quảng bá hình ảnh đất nước, con người và Quốc hội Việt Nam đổi mới, năng động, trách nhiệm và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và triển khai các hoạt động đối ngoại của Quốc hội; nâng cao hiệu quả trao đổi thông tin, điều phối và phối hợp công tác với các đối tác quốc tế và các cơ quan liên quan.
Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác đối ngoại.
Tiếp tục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại của Quốc hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, kỹ năng ngoại ngữ và năng lực hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tăng cường công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, nâng cao năng lực tham mưu chiến lược và khả năng xử lý các vấn đề quốc tế phát sinh; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác đối ngoại nghị viện trong giai đoạn mới.
2.4. Đối ngoại quốc phòng
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhận định, giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo cục diện thế giới và khu vực nhiều khả năng tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng,… công tác đối ngoại quốc phòng trong thời gian tới cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, tiếp tục quán triệt, triển khai công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo đúng đường lối đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Kết luận số 53-KL/TW ngày 28/4/2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW ngày 26/02/2024 của Quân uỷ Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; bám sát định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chỉ huy các cấp trong tham mưu, đề xuất với Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng những chủ trương, giải pháp chiến lược về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Chủ động ban hành, triển khai thực hiện hiệu quả các đề án, chương trình, kế hoạch về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã được phê duyệt; gắn kết tổ chức tốt các hoạt động, sự kiện đối ngoại quốc phòng với các ngày kỷ niệm, ngày lễ, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả, an toàn.
Hai là, tiếp tục theo dõi nắm chắc diễn biến tình hình thế giới, khu vực, nhất là xung đột Nga - Ukraine, tình hình Đông Nam Á, Trung Đông, cạnh tranh giữa Mỹ và phương Tây với Nga và Trung Quốc, các hoạt động tập hợp lực lượng và sự điều chỉnh trong chính sách của các nước lớn, Biển Đông, tuyến biên giới và vùng biển Tây Nam; chú trọng tham mưu chiến lược, kịp thời thống nhất tham mưu, xử lý quan hệ và triển khai các hoạt động đối ngoại đúng chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước, đáp ứng mục tiêu chiến lược, đảm bảo tối ưu lợi ích của ta, không để bị động, bất ngờ chiến lược.
Ba là, tập trung triển khai các hoạt động hợp tác quốc phòng song phương với các đối tác chủ chốt, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, đạt hiệu quả thiết thực, phù hợp với lợi ích của ta và đối tác. Tiếp tục ưu tiên quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng liền kề, các nước trong khu vực, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè truyền thống, đồng thời mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước có tiềm năng. Triển khai hợp tác đồng bộ trên các lĩnh vực, các cấp độ; gia tăng tin cậy chính trị, mức độ đan xen lợi ích; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra. Tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại của Lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị năm 2026.
Bốn là, chủ động, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng - quân sự đa phương trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Nghiên cứu tham gia một số hoạt động diễn tập đa phương trong các lĩnh vực nhân đạo như tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa ở các mức độ khác nhau; triển khai hiệu quả các chương trình, dự án khắc phục hậu quả chiến tranh; tiếp tục tham gia hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Năm là, tăng cường phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị, cơ quan báo chí quân đội với các cơ quan chức năng, cơ quan báo chí của các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đối ngoại quốc phòng; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền về đường lối, chủ trương đối ngoại, đối ngoại quốc phòng được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền đúng định hướng về tình hình các cuộc xung đột trên thế giới, diễn biến mới trên Biển Đông, không tạo kẽ hở để các thế lực phản động, cơ hội lợi dụng xuyên tạc, chống phá.
Sáu là, chú trọng nâng cao cảnh giác, phòng ngừa, tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ thực tiễn hoạt động của Quân đội.
Bảy là, chuẩn bị chu đáo và tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại lớn trong năm 2026, như: Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ 3; các hoạt động giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới với các nước liền kề; các hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương theo cơ chế thường niên luân phiên; hoạt động Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, công tác khắc phục hậu quả chiến tranh làm nổi bật những đóng góp của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, nâng cao hình ảnh, vị thế, uy tín của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
2.5. Ngoại giao văn hóa
Để góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, thời gian tới công tác ngoại giao văn hóa cần tập trung vào một số định hướng lớn và ưu tiên sau:
Thứ nhất, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao trong nhận thức và hành động về vai trò ngoại giao văn hóa; chú trọng công tác nghiên cứu tham mưu chính sách trong lĩnh vực ngoại giao văn hóa. Quán triệt chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm “Kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa với ngoại giao, văn hóa trong ngoại giao, làm cho mỗi hoạt động đối ngoại không chỉ có nội dung văn hóa sâu sắc, mà còn trở thành một hoạt động văn hóa; văn hóa vừa là phương tiện, vừa là phương châm, vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu của đối ngoại; không ngừng nhân sức mạnh mềm quốc gia lên tầm cao mới. Ngoại giao kết hợp với quốc phòng, an ninh duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa”[17]. Ngoại giao văn hóa không thể chỉ đóng vai trò bổ trợ, mà phải trở thành một trụ cột chiến lược.
Thứ hai, đổi mới nội dung, hình thức, có các sáng kiến đột phá để triển khai công tác ngoại giao văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, tạo dấu ấn, lan tỏa. Đặc biệt, tiếp tục lồng ghép ngoại giao văn hóa trong các hoạt động đối ngoại cấp cao; hỗ trợ các địa phương phát triển kinh tế di sản; gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa ngoại giao văn hóa với công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ ba, đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chủ động, hiệu quả tại các diễn đàn đa phương và song phương về văn hóa, góp phần đưa Việt Nam ra thế giới nhiều hơn và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm nền văn hóa, văn minh dân tộc.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác truyền thông gắn với chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát huy hiệu quả các nguồn lực cho ngoại giao văn hóa. Tăng cường quảng bá các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa tiêu biểu, kết nối các chủ thể sáng tạo, thúc đẩy hợp tác, đồng sản xuất và huy động hiệu quả nguồn lực quốc tế cho phát triển công nghiệp văn hóa. Triển khai cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa truyền thông, ngoại giao văn hóa và xuất khẩu sản phẩm - dịch vụ công nghiệp văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm và dịch vụ văn hóa - sáng tạo mang bản sắc Việt Nam. Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa phục vụ phát triển kinh tế di sản. Trọng tâm là sử dụng các giá trị của di sản như một nguồn lực để phát triển, biến di sản thành tài sản, tiềm lực thành nguồn lực; gắn phát huy các danh hiệu UNESCO với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, xây dựng thương hiệu địa phương.
Thứ năm, tăng cường phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công tác ngoại giao văn hóa ở cả Trung ương và địa phương, nhất là tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Tăng cường phổ biến kiến thức cơ bản về văn hóa, ngoại giao văn hóa với người Việt Nam đi lao động, học tập, công tác ở nước ngoài,… góp phần xây dựng, quảng bá tích cực về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
LỜI KẾT
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị đã phát triển tư duy đối ngoại của Đảng, khẳng định đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế cùng với tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế đất nước.
Thực tiễn thời gian qua tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân cùng các hoạt động đối ngoại Quốc hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa,... đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền đối ngoại toàn diện, hiện đại; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIV và Nghị quyết số 06-NQ/TW; nâng cao nhận thức về vai trò của công tác đối ngoại; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.
[1] Phát biểu đề dẫn của Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23, ngày 29/5/2026.- https://tapchicand.gov.vn/#/bai-viet/phat-bieu-cua-tong-bi-thu--chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-khai-mac-doi-thoai-shangri-la-lan-thu-23-adt_20260529203706182.html
[2] Rút khỏi 66 tổ chức quốc tế.
[3] Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng ngày 11/6/2026.
[4] Bài viết "Vươn mình trong hội nhập quốc tế" của Tổng Bí thư Tô Lâm.
[5] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí Lãnh đạo cấp cao của Đảng đã triển khai hoạt động đối ngoại toàn diện, đều khắp với các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác quan trọng, bạn bè truyền thống. Quan hệ với các đảng cầm quyền ở các nước láng giềng và bạn bè truyền thống tiếp tục giữ vai trò định hướng chiến lược. Quan hệ với các đảng cầm quyền, tham chính, đảng có vai trò quan trọng tại nhiều nước củng cố nền tảng chính trị, hỗ trợ tích cực cho quan hệ song phương. Các đối tác tại nhiều khu vực tiếp tục coi trọng, chủ động đề nghị trao đổi, làm việc với Lãnh đạo của ta trên kênh đảng. Vai trò, vị thế của Đảng ta tại các diễn đàn đa phương chính đảng như Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP) tiếp tục được nâng cao.
[6] Đảng ta hiện là thành viên Nhóm Công tác - một cơ chế thường trực của IMCWP. Năm 2016, Đảng ta đã đăng cai tổ chức Hội nghị toàn thể của IMCWP lần thứ 18 (tại Hà Nội)
[7] Tạp chí Cộng sản là đầu mối của Đảng ta tại solidnet.org từ năm 2011.
[8] Đảng ta hiện là thành viên Ủy ban Thường trực ICAPP. Năm 2013, Đảng ta đã đăng cai tổ chức cuộc họp lần thứ 19 của Ủy ban Thường trực ICAPP (tại Hà Nội).
[9] Lào, Cuba và Campuchia.
[10] Trung Quốc (từ năm 2008), Nga (từ năm 2012), Ấn Độ (từ năm 2016), Hàn Quốc (từ năm 2022), Hoa Kỳ (từ năm 2023), Nhật Bản (từ năm 2023), Australia (từ năm 2024), Pháp (từ năm 2024), Malaysia (từ năm 2024), New Zealand (từ năm 2025), Indonesia (từ năm 2025), Singapore (từ năm 2025), Thái Lan (từ năm 2025), Anh (từ năm 2025), EU (từ năm 2026).
[11] Tây Ban Nha (từ năm 2009), Đức (từ năm 2011), Italia (từ năm 2011), Philippines (từ năm 2015), Brazil (từ năm 2024), Kazakhstan (từ năm 2025), Belarus (từ năm 2025), Phần Lan (từ năm 2025), Bulgaria (từ năm 2025), Kuwait (từ năm 2025), Nam Phi (từ năm 2025), Algeria (từ năm 2025).
[12] Chile (từ năm 2007), Venezuela (từ năm 2007), Argentina (từ năm 2010), Ukraina (từ năm 2011), Đan Mạch (từ năm 2013), Myanmar (từ năm 2017), Canada (từ năm 2017), Hungary (từ năm 2018), Brunei (từ năm 2019), Hà Lan (từ năm 2019), Mông Cổ (từ năm 2024), UAE (từ năm 2024) và Thuỵ Sĩ (từ tháng 1/2025).
[13] Mặt trận Tổ quốc, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức nhân dân triển khai hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã chủ trì, tham gia, phối hợp tổ chức 07 hoạt động có sự tham gia của Lãnh đạo cấp cao, tổ chức thành công 12 hoạt động kỷ niệm năm chẵn, năm lẻ 5 thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước và 02 sự kiện đối ngoại nhân dịp lễ kỷ niệm quan trọng của đất nước. Công tác phi chính phủ nước ngoài tập trung vào ba trọng tâm chính: vận động viện trợ, tăng cường hợp tác và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.
[14] Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/
[15] Xem văn kiện Đại hội XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/
[16] Năm 2014 ASEAN đã thiết lập cơ chế gặp hàng năm với Liên minh Thái Bình Dương (Pacific Alliance - khu vực buôn bán tự do gồm 4 nước Chile, Colombia, Mexico và Peru) để tìm kiếm khả năng hợp tác phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và giao lưu nhân dân. Mới đây giữa Singapore và Pacific Alliance đã khởi động sáng kiến về du lịch sáng tạo và thoả thuận về khu vực buôn bán tự do.
[17] Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự đảng Bộ Ngoại giao về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội lần thứ XIII của Đảng và phát triển ngành Ngoại giao, ngày 29/8/2025.
