Số 4 - 2026
so 4
THÔNG TIN TRONG NƯỚC
1. Tiếp tục lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Ngày 23/02/2026, Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ban hành Kết luận số 03-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, trong đó đặc biệt lưu ý một số nội dung sau:
Lãnh đạo, chỉ đạo thật tốt công tác chuẩn bị nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ gắn với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ; bảo đảm cơ cấu hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc; bảo đảm tỉ lệ người ứng cử là phụ nữ và người dân tộc thiểu số theo đúng quy định; có tỉ lệ hợp lý đại biểu các tôn giáo, đại biểu tái cử, đại biểu trẻ tuổi, các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân và các hiệp hội, nghiệp đoàn trong sản xuất, kinh doanh.
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, trong đó cần quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc bảo đảm chất lượng đại biểu và tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách (dự kiến có 145 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở Trung ương và 55 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại địa phương). Quan tâm, hỗ trợ tối đa cho các ứng cử viên do Trung ương giới thiệu về ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương (trong số 217 người ứng cử đại biểu Quốc hội do các cơ quan Trung ương giới thiệu, có nhiều ứng cử viên trẻ từ các cơ quan của Quốc hội, các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở Trung ương được giới thiệu lần đầu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội) để các ứng cử viên xây dựng chương trình hành động thực chất, bám sát cơ sở, cung cấp thông tin, tài liệu về tình hình kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, đặc điểm dân cư nơi ứng cử; đáp ứng tốt nhất nguyện vọng của cử tri, thực hiện tốt các cuộc tiếp xúc cử tri trong vận động tranh cử; có các hình thức phù hợp tuyên truyền về tiểu sử để cử tri nắm bắt được thông tin tiểu sử và quá trình công tác, trình độ, năng lực của các ứng cử viên; nghiên cứu, sắp xếp, phân bổ các ứng cử viên do Trung ương giới thiệu về các đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu có sự hài hòa, hợp lý, phát huy được ưu điểm, lợi thế của mỗi ứng cử viên, tạo được niềm tin, sự ủng hộ và tín nhiệm cao của cử tri nơi ứng cử.
Làm tốt công tác bảo đảm an ninh, trật tự; công tác thông tin, tuyên truyền về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc bầu cử, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật.
Thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo; khi có yêu cầu của Hội đồng Bầu cử quốc gia phải kịp thời báo cáo, cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, đúng tiến độ, không để chậm trễ, thiếu sót, bảo đảm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành chung và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
2. Quy định mới chế độ đảng phí và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên
Ngày 03/02/2026, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 01-QĐ/TW về chế độ đảng phí; quy định cụ thể việc đóng đảng phí của đảng viên; nguyên tắc thu, nộp, phân bổ, quản lý và sử dụng đảng phí của tổ chức đảng các cấp; áp dụng đối với toàn bộ đảng viên, tổ chức, cơ quan, đơn vị của Đảng và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Quy định khẳng định, đóng đảng phí là nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi đảng viên theo Điều lệ Đảng. Đảng viên phải báo cáo trung thực với chi bộ về thu nhập làm căn cứ xác định mức đóng. Đảng viên trong nước (kể cả đảng viên dự bị) thực hiện đóng đảng phí hằng tháng qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc nộp trực tiếp bằng tiền mặt cho chi bộ; lộ trình thực hiện trên môi trường số theo hướng dẫn của Văn phòng Trung ương Đảng. Trừ các trường hợp bất khả kháng, việc thu, nộp đảng phí của tổ chức đảng các cấp đều thực hiện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, thuận tiện và hiện đại hóa công tác quản lý tài chính đảng.
Khuyến khích đảng viên tự nguyện đóng cao hơn mức quy định; đồng thời nêu rõ, trường hợp đảng viên không đóng đảng phí 3 tháng trong năm mà không có lý do chính đáng thì chi bộ xem xét, đề nghị cấp ủy có thẩm quyền xóa tên khỏi danh sách đảng viên. Các tổ chức đảng được mở tài khoản ngân hàng để quản lý, sử dụng tiền đảng phí; chủ động lựa chọn hình thức quản lý số dư bảo đảm an toàn, chặt chẽ, đúng quy định pháp luật.
Về mức đóng, đảng viên tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đóng hằng tháng bằng 1% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước; trường hợp nghỉ ốm đau, thai sản đóng 1% mức trợ cấp do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả. Đảng viên hưởng lương hưu đóng 0,5% mức lương hưu; học sinh, sinh viên đóng 5.000 đồng/tháng.
Đối với đảng viên chưa đến tuổi nghỉ hưu, mức đóng tính theo tỷ lệ lương tối thiểu vùng: 0,3% giai đoạn 2026 - 2027 và 0,5% từ năm 2028; đảng viên đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa hưởng lương hưu đóng mức thấp hơn, tương ứng 0,2% và 0,3%. Đảng viên là người có công với cách mạng, hưởng trợ cấp bệnh binh, mất sức lao động hoặc trợ cấp bảo trợ xã hội chỉ đóng bằng 50% mức của nhóm tương ứng.
Đảng viên ở nước ngoài làm việc tại cơ quan đại diện Việt Nam, phu nhân, phu quân đi theo nhiệm kỳ, lưu học sinh theo diện ngân sách hoặc hiệp định đóng bằng 1% sinh hoạt phí hằng tháng. Các trường hợp khác ở nước ngoài thực hiện theo mức do cơ quan có thẩm quyền quyết định, tương đương từ 30.000 đến 400.000 đồng/tháng.
Các trường hợp được miễn, giảm đảng phí, như đảng viên có từ 50 năm tuổi đảng trở lên; người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; đảng viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Các trường hợp khó khăn khác có thể được xem xét giảm 30%, 50% hoặc 70% mức đóng trong thời gian tối đa 12 tháng. Đồng thời, bổ sung quy định về chậm đóng, đóng trước đảng phí và không thu đảng phí trong thời gian đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt do bị tạm giam hoặc bị xử lý theo bản án của tòa án.
Quy định số 01-QĐ/TW có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2026, thay thế Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 342-QĐ/TW năm 2010. Đảng ủy từ cấp cơ sở trở lên và ủy ban kiểm tra các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện, bảo đảm chế độ đảng phí được triển khai nghiêm túc, thống nhất trong toàn Đảng.
Ngày 09/02/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 06-QĐ/TW về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên; quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và đảng viên trong việc quản lý, sử dụng và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên. Theo Quy định, quản lý thẻ đảng viên là các hoạt động cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên; sản xuất, in, huỷ thẻ đảng viên; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ các cấp. Thẻ đảng viên được dùng để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định. Việc quản lý và sử dụng thẻ đảng viên bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định. Nghiêm cấm việc làm giả thẻ đảng viên.
Về trách nhiệm của đảng viên, Quy định nêu rõ: Đảng viên phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận thẻ đảng viên. Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; không cho người khác mượn, sử dụng thẻ đảng viên; không được dùng thẻ đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự huỷ thẻ đảng viên. Nếu thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng, bị mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với cấp uỷ, chi bộ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị việc cấp lại thẻ đảng viên theo quy định.
Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ. Đảng viên từ trần thì gia đình của đảng viên được giữ lại thẻ đảng viên và không được sử dụng thẻ đảng viên trái với Quy định này. Đảng viên phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc có những hành vi sử dụng trái với Quy định này phải kịp thời báo cáo cấp uỷ, chi bộ quản lý trực tiếp để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; đề nghị cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên cho đảng viên theo quy định; tổ chức phát thẻ đảng viên tại cuộc họp chi bộ gần nhất. Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cuối năm; báo cáo cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng uỷ được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên) kết quả kiểm tra.
Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ đảng viên không đúng quy định lên cấp ủy cấp trên trực tiếp; thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xóa tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác hoặc thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng và nộp lên cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên). Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.
Các trường hợp xử lý vi phạm gồm: Đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự hủy thẻ đảng viên bị xóa tên đảng viên theo quy định; Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên sai quy định; làm mất thẻ đảng viên không có lý do chính đáng; để người khác sử dụng thẻ đảng viên thì tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức đảng, đảng viên phát hiện những hành vi trái với Quy định này mà không kịp thời tố giác hoặc bao che thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức, cá nhân làm giả thẻ đảng viên thì tuỳ mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3. Một số nét về tình hình kinh tế Việt Nam hai tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ thời gian tới
Trong hai tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng ổn định trên nhiều lĩnh vực, tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng của năm.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp trong tháng 2 tập trung vào gieo trồng và chăm sóc lúa đông xuân cùng các loại cây màu trên cả nước. Hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định nhưng có sự phân hóa: chăn nuôi trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp và chi phí đầu vào cao; trong khi chăn nuôi lợn phục hồi và tái đàn sau Tết. Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được tăng cường; đến cuối tháng 02/2026 cả nước không còn dịch tai xanh và lở mồm long móng, tuy nhiên dịch cúm gia cầm vẫn xuất hiện cục bộ tại một số địa phương và dịch tả lợn châu Phi vẫn còn tại 15 địa phương chưa qua 21 ngày. Lâm nghiệp duy trì phát triển ổn định; thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá nhờ giá cá tra và tôm ở mức thuận lợi. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản đạt 1,279 triệu tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước.
Khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,4%, cao hơn mức tăng 7,5% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi và mở rộng.
Khu vực dịch vụ duy trì xu hướng khởi sắc nhờ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán và sự phục hồi của du lịch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.236,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 4,5%. Một số lĩnh vực dịch vụ tăng mạnh như lưu trú, ăn uống tăng 9,1% và du lịch lữ hành tăng 12,2%. Riêng tháng 02/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 613,7 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.
Du lịch quốc tế tiếp tục là điểm sáng của khu vực dịch vụ. Nhờ chính sách thị thực thuận lợi, tăng cường quảng bá và đa dạng hóa sản phẩm du lịch, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh. Tính chung hai tháng đầu năm, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 4,7 triệu lượt, tăng 18,1% so với cùng kỳ.
Hoạt động đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng. Ngay từ đầu năm 2026, các bộ, ngành và địa phương đã tích cực triển khai vốn đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án chuyển tiếp và các công trình hạ tầng trọng điểm. Tính chung hai tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 83,5 nghìn tỷ đồng, bằng 9,4% kế hoạch năm và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Tính đến ngày 28/02/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam (bao gồm vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần) đạt 6,03 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, vốn FDI thực hiện đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của hai tháng đầu năm trong vòng 5 năm gần đây.
Hoạt động thương mại quốc tế tiếp tục duy trì quy mô lớn nhưng cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu. Tính chung hai tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3%, và nhập khẩu đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3%, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu khoảng 2,98 tỷ USD.
Về thị trường thương mại, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 23,8 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 31,9 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu sang Mỹ 20,4 tỷ USD (tăng 20,8%), xuất siêu sang EU 6,7 tỷ USD (tăng 6,5%); đồng thời nhập siêu từ Trung Quốc 20,9 tỷ USD (tăng 35,7%), từ Hàn Quốc 6,5 tỷ USD (tăng 41,5%) và từ ASEAN 2,6 tỷ USD (tăng 20,7%).
Về giá cả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2026 tăng 1,14% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu mua sắm và đi lại tăng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. So với tháng 12/2025, CPI tăng 1,19% và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân hai tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,94%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 3,47%, cho thấy lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát.
Hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước tiếp tục ổn định. Hai tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 601,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán năm và tăng 13,1% so với cùng kỳ. Thu nội địa đạt 558,1 nghìn tỷ đồng, bằng 25,4% dự toán và tăng 15,0%; thu từ dầu thô 5,1 nghìn tỷ đồng, bằng 11,9% dự toán nhưng giảm 42,2%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 38,0 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% dự toán và tăng 1,2%.
Tổng chi ngân sách nhà nước hai tháng đầu năm ước đạt 311,0 nghìn tỷ đồng, bằng 9,8% dự toán năm và tăng 11,0% so với cùng kỳ. Trong đó chi thường xuyên 241,0 nghìn tỷ đồng (bằng 13,3% dự toán, tăng 14,8%); chi đầu tư phát triển 42,5 nghìn tỷ đồng (bằng 3,8% dự toán); chi trả nợ lãi 27,1 nghìn tỷ đồng (bằng 22,3% dự toán, tăng 8,1%).
Tại phiên họp Chính phủ ngày 04/3/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá “kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn được bảo đảm”. Các chỉ số kinh tế quan trọng cho thấy hoạt động sản xuất - kinh doanh đang phục hồi và mở rộng, trong đó các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu và sản xuất công nghiệp tiếp tục được duy trì.
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với một số thách thức như biến động của kinh tế thế giới có thể tạo áp lực đối với lạm phát, tỷ giá, lãi suất và giá vàng; hoạt động sản xuất - kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn khó khăn và số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó, quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp vẫn đang tiếp tục hoàn thiện.
Thời gian tới, dự báo kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động phức tạp và khó lường; thương mại toàn cầu tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ tái diễn đứt gãy chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 10% trở lên, tại Cuộc họp với Hội đồng Tư vấn chính sách, thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội tháng 2, hai tháng năm 2026, các diễn biến mới trên thế giới tác động tới Việt Nam (ngày 07/3/2026), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chỉ đạo thực hiện các nhóm giải pháp trọng tâm trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất, yêu cầu không để thiếu xăng dầu, thiếu điện, thiếu năng lượng; đồng thời xác định đây cũng là cơ hội để chuyển đổi năng lượng xanh, khai thác tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước.
Thứ hai, tiếp tục điều hành đồng bộ, linh hoạt và hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô; đặc biệt chú trọng sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả, phù hợp với thực tiễn, ổn định tỉ giá, lãi suất, nâng cao dự trữ quốc gia; góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Thứ ba, phấn đấu tự chủ về năng lượng, tự chủ về nguồn lực quốc gia, từ đó phân cấp, phân quyền cho các địa phương.
Thứ tư, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; tập trung xử lý các dự án tồn đọng, tháo gỡ vướng mắc cho hộ kinh doanh; các điểm nghẽn về đất đai, điện, tài nguyên; huy động đầu tư toàn xã hội tăng khoảng 5% so với năm 2025; đẩy mạnh đầu tư công.
Thứ năm, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xác định con người là trung tâm, chủ thể, là nhân tố quyết định vận mệnh đất nước, quyết định các chuyển đổi, sự thay đổi trạng thái và đầu tư cho con người là đầu tư cho sự phát triển.
Thứ sáu, hoàn thiện thể chế kiến tạo, đổi mới, tháo gỡ được những điểm nghẽn hiện nay và đặc biệt là khuyến khích đổi mới sáng tạo; giảm chi phí đầu vào cho người dân, doanh nghiệp bằng đẩy mạnh phát triển hạ tầng, giảm chi phí tuân thủ qua cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và nền kinh tế.
4. Nhận diện và đấu tranh với những âm mưu, phương thức, thủ đoạn chống phá cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 trên không gian mạng
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống chính trị - xã hội của đất nước ta. Đây không chỉ là hoạt động hiến định nhằm hình thành các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương, mà còn là cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, trực tiếp lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình.
Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam luôn được tổ chức nghiêm túc, đúng pháp luật, bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch. Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử qua các nhiệm kỳ luôn ở mức cao, phản ánh sự quan tâm của Nhân dân đối với đời sống chính trị cũng như niềm tin đối với các thiết chế dân chủ của Nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội, không gian mạng đã trở thành một môi trường truyền thông phức tạp, nơi các thông tin đa chiều được lan truyền với tốc độ nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, tổ chức chống đối và một số cá nhân cực đoan thường lợi dụng môi trường mạng để phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc về các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, trong đó có các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Việc nhận diện rõ các phương thức, thủ đoạn chống phá trên không gian mạng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính nghiêm túc của quá trình bầu cử, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị và các thiết chế dân chủ.
(1) Nhận diện các chiến dịch thông tin chống phá bầu cử trên không gian mạng
Các thông tin sai lệch liên quan đến bầu cử trên không gian mạng thường không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà là một phần trong chiến lược truyền thông có chủ đích của các tổ chức chống đối. Mục tiêu của các chiến dịch này là tác động đến nhận thức xã hội, gây hoang mang trong dư luận và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với hệ thống chính trị.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ số, các chiến dịch truyền thông chống phá ngày càng trở nên tinh vi và có tổ chức hơn. Các đối tượng thường sử dụng nhiều công cụ công nghệ mới như video deepfake, hình ảnh cắt ghép, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, cũng như mạng lưới các tài khoản ẩn danh hoặc tài khoản giả để lan truyền thông tin sai lệch. Những nội dung này thường được thiết kế theo hướng tạo cảm giác “chân thực” ảo, khiến người đọc khó phân biệt giữa thông tin thật và giả. Khi một thông tin sai lệch được lặp lại nhiều lần trên nhiều nền tảng khác nhau, nó có thể tạo ra hiệu ứng tâm lý khiến người tiếp nhận tin rằng đó là thông tin đáng tin cậy.
Qua khảo sát các nguồn thông tin trên mạng xã hội và một số trang truyền thông nước ngoài, có thể nhận diện một số nhóm chủ thể thường tham gia phát tán thông tin xuyên tạc liên quan đến bầu cử. Trước hết là các tổ chức chống đối chính trị ở nước ngoài thường xuyên đăng tải các bài viết hoặc video nhằm phủ nhận tính hợp pháp của hệ thống chính trị Việt Nam. Bên cạnh đó là một số trang truyền thông nước ngoài có cách tiếp cận thiên lệch khi bình luận về các sự kiện chính trị tại Việt Nam. Ngoài ra, trên mạng xã hội còn xuất hiện một số tài khoản cá nhân cực đoan thường xuyên đăng tải các bài viết mang tính suy diễn hoặc chưa được kiểm chứng nhằm gây hoài nghi trong dư luận. Một số mạng lưới tài khoản ẩn danh còn sử dụng công nghệ để tạo ra các nội dung giả mạo nhằm gia tăng tốc độ lan truyền của thông tin sai lệch. Sự phối hợp giữa các chủ thể này đã hình thành một hệ sinh thái truyền thông chống phá, trong đó mỗi nhóm đóng một vai trò khác nhau trong việc sản xuất, khuếch tán và lan truyền thông tin xuyên tạc.
(2) Các dạng thông tin xuyên tạc phổ biến liên quan đến cuộc bầu cử
Qua phân tích các nội dung lan truyền trên không gian mạng, có thể nhận thấy các thông tin xuyên tạc về cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 tập trung vào một số nhóm nội dung chủ yếu:
Các luận điệu phủ nhận bản chất dân chủ của cuộc bầu cử. Một số bài viết cố tình cho rằng bầu cử ở Việt Nam chỉ mang tính hình thức hoặc đã được “sắp đặt trước”. Những lập luận này thường bỏ qua thực tế rằng quy trình bầu cử ở Việt Nam được tiến hành theo các quy định chặt chẽ của pháp luật, với sự tham gia của nhiều tổ chức chính trị - xã hội và sự giám sát của cử tri.
Các bài viết bôi nhọ hoặc hạ thấp uy tín của các ứng cử viên. Những nội dung này thường được trình bày dưới dạng “nguồn tin nội bộ” hoặc “thông tin riêng”, khiến người đọc dễ nhầm tưởng rằng đó là thông tin xác thực. Trong nhiều trường hợp, nội dung chỉ dựa trên suy đoán hoặc các thông tin bị cắt xén khỏi bối cảnh.
Bên cạnh đó, một số tổ chức và cá nhân cực đoan còn kêu gọi tẩy chay bầu cử thông qua các bài viết hoặc video trên mạng xã hội với nội dung khuyến khích người dân không tham gia bỏ phiếu[1]. Những lời kêu gọi này thường đi kèm với các lập luận mang tính kích động cảm xúc nhưng thiếu cơ sở pháp lý và không phản ánh đầy đủ quyền cũng như nghĩa vụ công dân.
Ngoài ra, một số bài viết còn cố tình khai thác các sự việc cá biệt xảy ra trong quá trình chuẩn bị bầu cử, sau đó thổi phồng hoặc suy diễn thành vấn đề mang tính hệ thống. Đây là một thủ đoạn truyền thông phổ biến nhằm tạo ra cảm giác rằng tình hình nghiêm trọng hơn so với thực tế.
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, các nội dung giả mạo như hình ảnh cắt ghép, video chỉnh sửa hoặc ảnh chụp màn hình giả cũng được sử dụng để lan truyền thông tin sai lệch. Do đặc điểm trực quan của hình ảnh và video, những nội dung này thường có sức lan truyền mạnh và dễ gây hiểu nhầm đối với người tiếp nhận thông tin.
(3) Phương thức và thủ đoạn truyền thông chống phá trên không gian mạng
Các chiến dịch truyền thông chống phá bầu cử trên không gian mạng thường được tổ chức theo nhiều phương thức khác nhau nhằm tạo ra hiệu ứng lan truyền rộng rãi. Một trong những thủ đoạn phổ biến là việc lặp lại cùng một nội dung sai lệch trên nhiều nền tảng khác nhau để tạo cảm giác rằng đó là thông tin phổ biến và đáng tin cậy. Khi một nội dung được chia sẻ nhiều lần, người tiếp nhận có thể nhầm tưởng rằng đó là quan điểm chung của xã hội. Một phương thức khác là cắt ghép hoặc trích dẫn thông tin ngoài bối cảnh nhằm làm thay đổi ý nghĩa của nội dung ban đầu. Những đoạn trích bị cắt xén hoặc những hình ảnh được sử dụng sai bối cảnh có thể khiến người đọc hiểu sai bản chất của sự việc.
Ngoài ra, nhiều bài viết còn sử dụng “nguồn tin ẩn danh” để tạo cảm giác rằng thông tin được cung cấp từ một nguồn đáng tin cậy. Chiến thuật này lợi dụng tâm lý tò mò của người đọc đối với những thông tin được cho là “bí mật” hoặc “nội bộ”, từ đó khiến tin đồn lan truyền nhanh chóng.
Một số chiến dịch truyền thông còn cố tình tạo ra “hiệu ứng đám đông” bằng cách sử dụng nhiều tài khoản để đăng tải các nội dung giống nhau hoặc tương tự nhau. Khi người dùng Internet nhìn thấy nhiều bài viết cùng một nội dung, họ có thể nhầm tưởng rằng đó là quan điểm phổ biến trong xã hội. Bên cạnh đó, các nội dung xuyên tạc còn thường khai thác những vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm, sau đó liên kết chúng với cuộc bầu cử nhằm khơi dậy tâm lý bất mãn và tạo ra những câu chuyện đơn giản nhưng dễ lan truyền trên mạng xã hội.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Trong bối cảnh môi trường thông tin ngày càng đa chiều và phức tạp, việc nhận diện và đấu tranh với các thông tin sai lệch về bầu cử đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh và góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị.
Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi tham gia các nền tảng truyền thông trực tuyến. Trong điều kiện mạng xã hội ngày càng phổ biến, việc tiếp nhận và chia sẻ thông tin phải dựa trên nguyên tắc thận trọng, khách quan và có kiểm chứng. Việc lan truyền những thông tin chưa được xác thực hoặc có dấu hiệu xuyên tạc không chỉ làm gia tăng nguy cơ nhiễu loạn thông tin mà còn có thể ảnh hưởng đến nhận thức xã hội. Do đó, cán bộ, đảng viên cần chủ động tìm hiểu và nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến bầu cử, đồng thời cập nhật thông tin chính thống để có thể kịp thời cung cấp, giải thích và định hướng thông tin đúng đắn cho người dân.
Thứ hai, cán bộ, đảng viên cần trang bị những kỹ năng cần thiết để nhận diện thông tin sai lệch trên không gian mạng. Những biểu hiện như nguồn tin không rõ ràng, nội dung mang tính suy diễn, thiếu bằng chứng xác thực, tiêu đề giật gân hoặc thông tin bị cắt ghép ngoài bối cảnh thường là dấu hiệu của các nội dung thiếu tin cậy.
Thứ ba, cần xây dựng văn hóa sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm. Không gian mạng không chỉ là nơi trao đổi thông tin mà còn là môi trường thể hiện thái độ, nhận thức và trách nhiệm công dân. Khi mỗi cá nhân có ý thức kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, đồng thời kiên quyết không tiếp tay cho các nội dung sai lệch, môi trường thông tin sẽ trở nên minh bạch và lành mạnh hơn.
5. Nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết về Phát triển văn hóa Việt Nam
Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước trong đó nêu: Để đạt được mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, bên cạnh nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan, địa phương và tổ chức liên quan cần cụ thể hóa và quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện những nhiệm vụ sau: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý để xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để kịp thời xử lý, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế đối với kinh tế nhà nước; đồng thời, phân định rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế, chức năng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận với chức năng kinh doanh đối với các tổ chức kinh tế nhà nước.
Cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian, chi phí tuân thủ, giảm thiểu can thiệp hành chính trực tiếp; phân cấp, phân quyền; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm; áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia trong các cơ quan, tổ chức kinh tế nhà nước; có chính sách hiệu quả nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài gắn với tiêu chuẩn năng lực, đạo đức nghề nghiệp, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Lồng ghép Chương trình, Kế hoạch hành động phát triển kinh tế nhà nước trong Chương trình, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, cơ quan, địa phương hằng năm và 05 năm; chủ động bố trí, lồng ghép kinh phí hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí để triển khai các hoạt động liên quan. Xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật công bằng, minh bạch theo cơ chế thị trường trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia.
Phối hợp với Bộ Công an khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia để kịp thời giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng vốn, tài sản, nguồn lực nhà nước, làm căn cứ cho hoạch định chính sách, phân bổ và điều tiết nguồn lực. Phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; tránh chồng chéo, trùng lặp, ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan, tổ chức kinh tế nhà nước.
Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi. Thiết lập quy trình xem xét độc lập, toàn diện và minh bạch để đánh giá bản chất vụ việc là sai sót khách quan hay vi phạm pháp luật nhằm xử lý đúng người, đúng tội. Tăng cường hoạt động đối thoại; tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị để giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.
Xây dựng và tổ chức triển khai chương trình tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng về nội dung Nghị quyết số 79-NQ/TW và vai trò của kinh tế nhà nước theo hướng đa dạng hóa các hình thức, phương thức tuyên truyền; cụ thể hóa nội dung tuyên truyền cho từng nhóm đối tượng. Xây dựng chương trình truyền thông chuyên đề về phát triển kinh tế nhà nước trên đài truyền hình, phát thanh, trên các mạng xã hội, báo điện tử. Chuẩn hóa dữ liệu về nguồn lực kinh tế nhà nước, bảo đảm liên thông, tích hợp, an toàn, an ninh thông tin.
Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó nêu: Bám sát quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 80-NQ/TW đề ra, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ sau: Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa. Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa Nhân dân, văn minh. Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa. Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm, nhận diện và ứng xử thích hợp với tài nguyên văn hóa. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia, gắn với phát triển du lịch văn hóa. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần xứng đáng gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
6. Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Để triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí kịp thời, thống nhất và hiệu quả, Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí được Thủ tướng ký ban hành bởi Quyết định số 307/QĐ-TTg ngày 15/02/2026. Kế hoạch nêu một số nội dung triển khai trọng tâm sau:
Xây dựng các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí: Cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian hoàn thành: Tháng 5/2026. Việc xây dựng, soạn thảo 02 Nghị định được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn. Sản phẩm: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị định quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật, miễn trừ, giảm nhẹ trách nhiệm xử lý kỷ luật đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí và Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.
Tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Nội dung thực hiện: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có liên quan. Cơ quan thực hiện: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công. Thời gian thực hiện: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi kết quả rà soát về Bộ Tài chính trước ngày 15/4/2026; Bộ Tài chính tổng hợp kết quả rà soát báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/5/2026. Sản phẩm: Danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ. Văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ.
Tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026: Nội dung thực hiện: Xây dựng, ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026 theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan tổ chức khác có liên quan. Thời gian hoàn thành: Trong tháng 4/2026. Sản phẩm: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chủ đề và kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026.
Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành: Ở trung ương, cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo. Sản phẩm: Hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông. Ở địa phương, cơ quan chủ trì: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Cơ quan phối hợp: Các ban, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan. Thời gian thực hiện: Năm 2026 và các năm tiếp theo. Sản phẩm: Hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông, các bài đăng trên báo, tạp chí, phóng sự.
Phổ biến, giáo dục về nội dung của Luật thực hiện theo quy định của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định khác của Chính phủ.
Kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí: Cơ quan thực hiện: Bộ Tài chính, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định pháp luật. Thời gian thực hiện: Thường xuyên. Biên soạn tài liệu, hướng dẫn áp dụng, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp nhận và xử lý kiến nghị (nếu có). Cơ quan chủ trì: Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Thời gian thực hiện: Thường xuyên. Sản phẩm: Hội nghị tập huấn, tọa đàm, tài liệu hướng dẫn.
7. Đổi mới công tác đào tạo nghề ở nông thôn
Nhằm tiếp tục triển khai đường lối chiến lược của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; nâng cao vai trò của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới; để công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững và thực chất; đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn; ngày 24/02/2026, Thủ tướng cũng đã ký Quyết định số 326/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Kế hoạch nêu các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, nâng cao dân trí và đời sống của người dân nông thôn. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Bảo đảm nguồn lực thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Cùng ngày 24/02/2026, Thủ tướng đã ký Quyết định số 328/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”. Chương trình đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, rút ngắn khoảng cách về tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa khu vực nông thôn và thành thị. Tập trung đào tạo nhân lực có chất lượng phục vụ sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại; đào tạo để chuyển đổi một bộ phận lao động nông thôn sang làm công nghiệp, dịch vụ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn gắn xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu; đào tạo thực chất, đi theo chiều sâu, hiệu quả, bền vững, lấy cư dân nông thôn làm chủ thể, đem lại chuyển biến tích cực, rõ nét hơn về chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm, thu nhập cho người dân.
Đến năm 2030, bình quân hằng năm đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn, trong đó, đào tạo nghề phi nông nghiệp chiếm khoảng 70%, đào tạo nghề nông nghiệp, phát triển ngành nghề nông thôn chiếm khoảng 30%; số lao động nông thôn là nữ được đào tạo nghề chiếm trên 45%, người khuyết tật có nhu cầu được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm chiếm khoảng 4%, người dân tộc thiểu số trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù của vùng dân tộc thiểu số chiếm khoảng 70%. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 85%.
Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội và người dân về vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học nghề, việc làm cho lao động nông thôn. Nâng cao chất lượng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho lao động nông thôn. Tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp, hợp tác xã trong tổ chức đào tạo và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện Chương trình.
8. Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035
Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035 được phê duyệt bởi Quyết định số 336/QĐ-TTg, ngày 25/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, với mục tiêu hình thành văn hóa khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục; lan tỏa tinh thần và khát vọng khởi nghiệp, phát triển sản phẩm, giải pháp khởi nghiệp có giá trị, mang bản sắc Việt Nam. Tạo điều kiện để người học phát huy vai trò trung tâm sáng tạo, từng bước nâng cao năng lực làm chủ tri thức và công nghệ; khuyến khích tham gia đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh góp phần phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế tri thức và phát triển bền vững. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục đồng bộ, thực chất, với sự hỗ trợ hiệu quả từ cơ chế, chính sách của Nhà nước, dịch vụ hỗ trợ, hạ tầng, nền tảng số và vốn mồi, giúp người học vốn hóa tri thức, hình thành doanh nghiệp khởi nguồn, khởi nghiệp, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Giai đoạn 2026 - 2030, đối với cơ sở giáo dục phổ thông, 50% học sinh trung học phổ thông; 25% học sinh trung học cơ sở; 15% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp. 35% học sinh trung học phổ thông; 15% học sinh trung học cơ sở; 10% học sinh tiểu học được trang bị kiến thức, kỹ năng, tư duy khởi nghiệp. Bình quân hằng năm, tối thiểu 5% học sinh trung học phổ thông và 2% học sinh trung học cơ sở tham gia ít nhất một dự án hoặc hoạt động khởi nghiệp do cơ sở giáo dục hoặc cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.
Đối với các cơ sở đào tạo, 100% cơ sở đào tạo ban hành và công khai quy chế hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp trên cổng thông tin; 100% cơ sở đào tạo cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp với các dịch vụ tối thiểu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 85% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp hoặc tham gia tối thiểu 01 khóa học kỹ năng khởi nghiệp. Số sinh viên khởi nghiệp mới theo quy mô tối thiểu 50/10.000 sinh viên chính quy mỗi năm. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm đạt tối thiểu 100/10.000 sinh viên.
Hằng năm, tối thiểu 40% cơ sở đào tạo duy trì và triển khai chương trình ươm tạo khởi nghiệp cho sinh viên. Ít nhất 20% cơ sở đào tạo có 20 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm đạt tối thiểu 50 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Về đầu tư/kết nối dự án khởi nghiệp, mỗi năm ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn, trong đó ít nhất 30% dự án có nữ tham gia và ít nhất 10% dự án của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số.
Giai đoạn 2031 - 2035, đối với cơ sở giáo dục phổ thông, 65% học sinh trung học phổ thông; 35% học sinh trung học cơ sở; 20% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp. 50% học sinh trung học phổ thông; 25% học sinh trung học cơ sở; 15% học sinh tiểu học được trang bị kiến thức, kỹ năng, tư duy khởi nghiệp. Bình quân hàng năm, tối thiểu 8% học sinh trung học phổ thông và 3% học sinh trung học cơ sở tham gia ít nhất một dự án hoặc hoạt động khởi nghiệp do cơ sở giáo dục hoặc cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.
Đối với các cơ sở đào tạo, duy trì mức 100% cơ sở đào tạo cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 95% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp hoặc tham gia tối thiểu 01 khóa học kỹ năng khởi nghiệp. Số sinh viên khởi nghiệp mới theo quy mô tối thiểu 100/10.000 sinh viên chính quy mỗi năm. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm tối thiểu 150/10.000 sinh viên. Hằng năm, tối thiểu 60% cơ sở đào tạo duy trì và triển khai chương trình ươm tạo khởi nghiệp cho sinh viên.
Ít nhất 30% cơ sở đào tạo có 20 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Riêng đối với cơ sở đào tạo trọng điểm tối thiểu 100 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, 50% số dự án hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Về đầu tư/kết nối dự án khởi nghiệp, mỗi năm ít nhất 70 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn, trong đó ít nhất 35% dự án có nữ tham gia và ít nhất 15% dự án của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số.
Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp. Tăng cường hoạt động kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, hợp tác quốc tế. Đổi mới nội dung chương trình, đẩy mạnh công tác đào tạo thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp. Đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục. Đa dạng hóa nguồn vốn cho chương trình, dự án khởi nghiệp.
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VÀ TÌNH HÌNH THẾ GIỚI NỔI BẬT THỜI GIAN GẦN ĐÂY
1. Một số kết quả chuyến tham dự Cuộc họp khai mạc Hội đồng hòa bình về Gaza của Tổng Bí thư Tô Lâm
Nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Chủ tịch Hội đồng hòa bình về Gaza, Tổng Bí thư Tô Lâm đã tham dự Cuộc họp khai mạc Hội đồng hòa bình về Gaza tại Washington D.C (Hoa Kỳ) từ ngày 18 - 20/02/2026, với tư cách thành viên sáng lập. Tham dự cuộc họp, có nguyên thủ và lãnh đạo của hơn 50 quốc gia, là các nước thành viên sáng lập và quan sát viên của Hội đồng Hòa bình. Đây là một dấu ấn đối ngoại, khẳng định vị thế, khí thế mới, hành động thiết thực để đóng góp hiệu quả cho hòa bình thế giới.
Việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình là cụ thể hóa đường lối đối ngoại theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế; khẳng định quan điểm và tư tưởng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã trải qua nhiều hy sinh, mất mát của chiến tranh, một dân tộc luôn phấn đấu cho hòa bình. Việt Nam sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các thành viên Hội đồng Hòa bình về Gaza tham gia trong khả năng của mình vào các nỗ lực chung nhằm hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp, tái thiết cơ sở hạ tầng thiết yếu và xây dựng lòng tin giữa các bên.
Trong chuyến công tác, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump; trao đổi với lãnh đạo cấp cao các nước, trong đó có lãnh đạo của các quốc gia tại khu vực Trung Đông; tiếp Trưởng đại diện Thương mại Hoa Kỳ - Đại sứ Jamieson Greer, điện đàm với các nghị sĩ Hoa Kỳ, gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tại các cuộc gặp, Tổng Bí thư và các đồng chí thành viên trong đoàn đã thông tin về tình hình Việt Nam, kết quả của quá trình đổi mới trong 40 năm qua, trong đó có 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII với các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045. Tổng Bí thư cũng chia sẻ các phương hướng phát triển của Việt Nam và đường lối đối ngoại của Việt Nam, tiếp tục thúc đẩy quan hệ với các đối tác, trong đó có quan hệ với nước chủ nhà Hoa Kỳ, phù hợp với khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện. Các đối tác đều nhất trí tăng cường quan hệ song phương thực chất, hiệu quả với Việt Nam.
Dư luận quốc tế đánh giá việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình thể hiện rõ đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam: mong muốn đóng góp cho hòa bình và phát triển của thế giới. Điều này tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và vai trò ngày càng nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Một số nét chính về kinh tế thế giới những tháng đầu năm 2026
Trong những tháng đầu năm 2026, môi trường địa chính trị quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp và khó dự báo, với sự gia tăng các điểm nóng an ninh và cạnh tranh địa kinh tế giữa các cường quốc. Đáng chú ý, căng thẳng quân sự tại Trung Đông đầu tháng 3/2026 làm gia tăng nguy cơ xung đột lan rộng, đặc biệt liên quan đến eo biển Hormuz - tuyến vận tải năng lượng chiến lược trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu. Các tổ chức quốc tế cảnh báo nếu xung đột kéo dài và ảnh hưởng đến vận tải qua khu vực này, kinh tế thế giới có thể chịu tác động đáng kể thông qua kênh giá năng lượng, làm gia tăng áp lực lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô.
Cạnh tranh địa kinh tế giữa các nền kinh tế lớn tiếp tục gia tăng khi nhiều quốc gia đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm an ninh kinh tế và kiểm soát nguồn lực chiến lược. Trung Quốc áp dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với một số khoáng sản và vật liệu chiến lược, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ phân mảnh chuỗi cung ứng nguyên liệu toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao và công nghiệp quốc phòng. Sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ phần lớn chính sách thuế quan đối ứng trước đó, Mỹ triển khai mức thuế quan toàn cầu khoảng 10% đối với hàng hóa nhập khẩu, đồng thời vẫn bỏ ngỏ khả năng tăng thuế đối với một số đối tác thương mại.
Căng thẳng địa chính trị gia tăng đã tác động đến tâm lý thị trường và các biến số kinh tế vĩ mô toàn cầu. Xu hướng phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư ngày càng rõ rệt, thể hiện qua sự dịch chuyển dòng vốn sang các tài sản an toàn. Trên thị trường tài chính, dòng vốn có xu hướng chảy vào kim loại quý như vàng, khiến giá vàng tăng mạnh trong những tháng đầu năm 2026. Thị trường chứng khoán toàn cầu chịu áp lực điều chỉnh, trong bối cảnh lo ngại xung đột tại Trung Đông và khả năng giá năng lượng tăng cao. Trên thị trường năng lượng, giá dầu thế giới tăng đáng kể do lo ngại gián đoạn nguồn cung từ Trung Đông. Nhiều tổ chức quốc tế cảnh báo nếu hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz bị gián đoạn kéo dài, giá dầu có thể tăng mạnh và gây ra cú sốc năng lượng đối với kinh tế toàn cầu, qua đó làm gia tăng rủi ro lạm phát và áp lực đối với chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn.
Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu vẫn tiềm ẩn rủi ro, các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng nhằm cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Tại Mỹ, số liệu của Cục Thống kê lao động cho thấy chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 1/2026 tăng khoảng 0,5% so với tháng trước, cao hơn dự báo thị trường, cho thấy áp lực lạm phát vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn, củng cố lập trường thận trọng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đối với việc cắt giảm lãi suất. Trong khi đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) duy trì lãi suất cho vay cơ bản (LPR) 3,0% đối với kỳ hạn 1 năm và 3,5% đối với kỳ hạn 5 năm nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh nhu cầu nội địa còn yếu. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đang từng bước điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng bình thường hóa sau giai đoạn nới lỏng kéo dài, dù điều kiện tài chính nhìn chung vẫn mang tính hỗ trợ.
Theo cập nhật của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong Báo cáo World Economic Outlook Update đầu năm 2026, kinh tế thế giới được dự báo duy trì tăng trưởng tương đối ổn định trong trung hạn, dù vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro địa chính trị, tài chính và thương mại. IMF dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt khoảng 3,3% năm 2026 và 3,2% năm 2027, tương đương mức trung bình trước đại dịch. Tuy nhiên, tăng trưởng tiếp tục phân hóa giữa các nhóm quốc gia. Các nền kinh tế phát triển được dự báo tăng trưởng khoảng 1,7 - 1,8%, do tác động kéo dài của lãi suất cao, dân số già hóa và năng suất chậm cải thiện; trong đó Mỹ khoảng 2 - 2,4%, khu vực đồng Euro khoảng 1,5 - 1,6%. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (EMDEs) được dự báo tăng trưởng khoảng 4,5% năm 2026 và khoảng 4% năm 2027, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng toàn cầu. Ấn Độ duy trì tốc độ tăng trưởng cao khoảng 6,4%/năm, nhờ cải cách kinh tế, mở rộng đầu tư hạ tầng và dịch chuyển chuỗi cung ứng. Trung Quốc dự kiến tăng trưởng 4 - 4,5%, thấp hơn giai đoạn trước do các thách thức cơ cấu như khủng hoảng bất động sản, già hóa dân số và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong khi đó, khu vực ASEAN được kỳ vọng tăng trưởng khoảng 4,2 - 4,4%, nhờ tiêu dùng nội địa, dòng vốn đầu tư nước ngoài và hội nhập kinh tế sâu rộng.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2026 còn nhiều biến động, các xu hướng trên sẽ tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng có thể làm giá dầu thế giới tăng, tác động đến chi phí sản xuất, vận tải và áp lực lạm phát trong nước. Đồng thời, những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, đặc biệt các biện pháp thuế quan mới, có thể ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù xu hướng bảo hộ thương mại làm gia tăng rủi ro đối với thương mại toàn cầu, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng quốc tế cũng mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút thêm đầu tư và mở rộng xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến và công nghệ.
3. Xung đột tại Trung Đông và tác động đối với an ninh toàn cầu
Trung Đông từ lâu được xem là một trong những khu vực địa chính trị phức tạp và nhạy cảm nhất thế giới. Nằm tại điểm giao thoa giữa ba châu lục Á - Âu - Phi và sở hữu khoảng trên 50% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu, khu vực này luôn là tâm điểm cạnh tranh lợi ích giữa các cường quốc. Bên cạnh yếu tố năng lượng, Trung Đông còn tồn tại nhiều mâu thuẫn lịch sử liên quan đến lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo và quyền tự quyết của các dân tộc, đặc biệt là xung đột Israel - Palestine và sự đối đầu giữa Israel với Iran. Sự khác biệt giữa các tôn giáo lớn như Do Thái giáo, Hồi giáo, Kitô giáo và sự phân hóa trong nội bộ Hồi giáo giữa hai dòng Sunni - Shia càng làm cấu trúc an ninh khu vực trở nên phức tạp.
Trong nhiều thập niên, Trung Đông giữ vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mỹ duy trì ảnh hưởng thông qua các đồng minh chiến lược như Israel và nhiều quốc gia Arab, cùng mạng lưới căn cứ quân sự rộng khắp và hệ thống thanh toán dầu mỏ bằng USD (Petrodollar), qua đó củng cố vai trò chi phối đối với trật tự kinh tế - năng lượng khu vực. Tuy nhiên, sự can dự của các cường quốc cùng những mâu thuẫn nội tại khiến Trung Đông luôn tiềm ẩn nguy cơ xung đột.
Quan hệ giữa Iran với Mỹ và Israel từng gắn bó dưới thời Quốc vương Mohammad Reza Pahlavi, nhưng sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979, Iran chuyển sang đối đầu mạnh mẽ với hai nước này. Sự kiện bắt giữ con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran (Iran) năm 1979 đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ. Từ thập niên 1980, Iran xây dựng mạng lưới lực lượng ủy nhiệm tại khu vực như Hezbollah, Hamas và Houthi, hình thành “trục kháng chiến” nhằm đối phó với Mỹ và Israel.
Bước sang thế kỷ XXI, chương trình hạt nhân và năng lực tên lửa của Iran trở thành tâm điểm căng thẳng. Mỹ và Israel coi đây là mối đe dọa chiến lược, trong khi Iran khẳng định mục đích hòa bình. Nhiều chiến dịch bí mật, ám sát nhà khoa học hạt nhân và các cuộc tấn công vào cơ sở quân sự - hạt nhân của Iran trong giai đoạn 2010 - 2025 đã làm gia tăng đáng kể mức độ đối đầu trong khu vực.
Căng thẳng leo thang mạnh vào cuối tháng 02/2026, khi Mỹ và Israel tiến hành cuộc tấn công quân sự quy mô lớn nhằm vào Iran, sử dụng hàng trăm máy bay chiến đấu và hàng nghìn tên lửa tấn công các mục tiêu chiến lược như cơ quan đầu não, hệ thống phòng không, căn cứ quân sự và cơ sở hạt nhân. Đòn tấn công mang tính “phủ đầu” này gây tổn thất lớn đối với bộ máy lãnh đạo và tiềm lực quân sự của Iran, đánh dấu bước leo thang nghiêm trọng chưa từng có trong xung đột giữa các bên. Đáp lại, Iran nhanh chóng triển khai chiến lược phản công với cường độ cao, sử dụng hàng loạt tên lửa và máy bay không người lái (UAV) tấn công vào lãnh thổ Israel cũng như nhiều căn cứ quân sự của Mỹ tại Trung Đông. Đồng thời, các lực lượng thuộc “trục kháng chiến” cũng tham gia phối hợp tác chiến từ nhiều hướng, khiến chiến trường mở rộng trên phạm vi toàn khu vực.
Cuộc xung đột tại Trung Đông tạo ra những dư chấn sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tác động mạnh đến cấu trúc an ninh khu vực. Nhiều quốc gia Trung Đông rơi vào thế lưỡng nan giữa việc duy trì quan hệ với Mỹ và tránh bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Các cường quốc ngoài khu vực như Nga, Trung Quốc và Ấn Độ bày tỏ quan ngại sâu sắc, kêu gọi các bên kiềm chế và thúc đẩy giải pháp ngoại giao. Đồng thời, nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu mỏ toàn cầu, đặc biệt trong trường hợp Iran phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng bậc nhất thế giới - làm gia tăng lo ngại về những tác động nghiêm trọng đối với kinh tế và thị trường năng lượng toàn cầu.
Trước tình hình leo thang căng thẳng tại Trung Đông hiện nay, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 28/02/2026 nhấn mạnh: Việt Nam quan ngại sâu sắc về tình hình xung đột leo thang phức tạp tại khu vực Trung Đông, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng và an toàn của người dân, cũng như hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan kiềm chế tối đa, chấm dứt ngay các hành động làm gia tăng căng thẳng, bảo vệ dân thường và các cơ sở hạ tầng thiết yếu, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nỗ lực đàm phán hòa bình vì an ninh, ổn định của khu vực và thế giới.
Tiếp đó ngày 05/3/2026, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: Lập trường của Việt Nam đã được nêu rõ ngày 28/02/2026. Việt Nam phản đối các hành vi sử dụng vũ lực tấn công vào các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt vào các cơ sở hạ tầng dân sự khiến nhiều người dân bị thiệt mạng. Các hành động này đã gây thiệt hại nghiêm trọng và tiếp tục đe dọa tính mạng, an toàn và lợi ích của người dân, trong đó có công dân Việt Nam tại khu vực, gây bất ổn cho các hoạt động kinh tế, hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan hành động có trách nhiệm, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, nối lại đàm phán, tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại hướng tới việc giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, vì lợi ích của người dân, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Bộ Ngoại giao cũng khuyến cáo công dân Việt Nam tại Iran, Israel và các quốc gia lân cận chủ động theo dõi tình hình, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn. Trong trường hợp khẩn cấp hoặc gặp khó khăn, công dân Việt Nam cần liên hệ ngay với các đường dây nóng bảo hộ công dân 24/7 của các cơ quan đại diện Việt Nam tại Iran, Israel và các khu vực lân cận, hoặc Tổng đài Bảo hộ công dân của Bộ Ngoại giao Việt Nam để được hỗ trợ kịp thời.
4. Cuộc cạnh tranh trí tuệ nhân tạo giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những lĩnh vực công nghệ có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Nhiều nước lớn đã ban hành chiến lược quốc gia về AI, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, xây dựng hạ tầng công nghệ và thúc đẩy ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Trong xu thế đó, Mỹ và Trung Quốc được xem là hai trung tâm công nghệ lớn, có vai trò quan trọng trong việc định hình cục diện phát triển AI trên thế giới.
Tháng 7/2025, Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố kế hoạch hành động về trí tuệ nhân tạo nhằm củng cố vị thế công nghệ của Mỹ trong lĩnh vực này. Văn kiện nhấn mạnh rằng quốc gia nắm ưu thế trong AI có thể tạo ra lợi thế đáng kể về kinh tế, khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cạnh tranh trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo không chỉ diễn ra trong một lĩnh vực đơn lẻ mà trải rộng trên nhiều khâu của hệ sinh thái công nghệ, từ phát triển mô hình AI tiên tiến, xây dựng hạ tầng tính toán như trung tâm dữ liệu và chip bán dẫn, đến định hình tiêu chuẩn công nghệ và triển khai ứng dụng AI trong các hệ thống vật lý như robot, nhà máy và phương tiện giao thông. Điều này cho thấy mỗi quốc gia có thể đạt lợi thế ở những khâu khác nhau của chuỗi giá trị công nghệ.
Đáng chú ý là việc Mỹ điều chỉnh chính sách xuất khẩu chip AI. Tháng 12/2025, Tổng thống Donald Trump tuyên bố cho phép bán chip H200 của Nvidia - một trong những dòng chip AI có hiệu năng cao cho một số khách hàng được chấp thuận tại Trung Quốc. Quyết định này được cho là nhằm tạo thêm nguồn thu cho các doanh nghiệp công nghệ Mỹ và duy trì ảnh hưởng của các tiêu chuẩn công nghệ do Mỹ phát triển. Tuy nhiên, động thái này cũng đặt ra nhiều đánh giá khác nhau về tác động đối với cán cân công nghệ toàn cầu, khi các doanh nghiệp Mỹ tiếp tục giữ vị thế mạnh trong các dịch vụ AI tiên tiến, còn các doanh nghiệp Trung Quốc có thể mở rộng ứng dụng AI với chi phí thấp hơn trong sản xuất và hạ tầng.
Trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển mô hình AI, các doanh nghiệp công nghệ Mỹ như OpenAI, Google và Anthropic đã xây dựng nhiều hệ thống có khả năng xử lý ngôn ngữ tự nhiên, phân tích dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định với độ chính xác cao. Những hệ thống này trở thành nền tảng cho nhiều dịch vụ số như trợ lý ảo, quản trị nền tảng điện toán đám mây, phần mềm năng suất và dịch vụ khách hàng. Tuy vậy, khoảng cách công nghệ đang dần thu hẹp khi các doanh nghiệp công nghệ Trung Quốc như DeepSeek, Alibaba hay Moonshot AI tăng cường đầu tư nghiên cứu. Trong nhiều ứng dụng phổ biến như soạn thảo văn bản, tóm tắt thông tin, dịch thuật hoặc hỗ trợ lập trình, sự khác biệt giữa các hệ thống AI hàng đầu ngày càng giảm.
Bên cạnh nghiên cứu mô hình, năng lực tính toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của AI. Việc huấn luyện và vận hành các mô hình AI quy mô lớn đòi hỏi hạ tầng điện toán rất lớn, bao gồm chip xử lý chuyên dụng, trung tâm dữ liệu và nguồn năng lượng ổn định. Trong lĩnh vực này, Mỹ hiện vẫn nắm giữ nhiều lợi thế khi các doanh nghiệp công nghệ của nước này kiểm soát phần lớn năng lực tính toán AI toàn cầu và tiếp tục đầu tư mạnh vào trung tâm dữ liệu cũng như hạ tầng điện toán.
Trong khi đó, Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh phát triển công nghệ bán dẫn, xây dựng hạ tầng phục vụ AI và mở rộng ứng dụng trong sản xuất. Nước này có lợi thế về quy mô dữ liệu, nguồn nhân lực công nghệ và khả năng triển khai hạ tầng với tốc độ nhanh. Một xu hướng đáng chú ý là việc tích hợp AI vào các hệ thống hoạt động trong môi trường vật lý, thường được gọi là AI hiện thân, bao gồm robot công nghiệp, phương tiện tự hành và các thiết bị thông minh. Trong lĩnh vực này, Trung Quốc đang thúc đẩy mạnh mẽ tự động hóa và robot hóa trong sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của các nhà máy.
Nhìn tổng thể, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo trên thế giới đang diễn ra theo xu hướng đa lĩnh vực và đa trung tâm. Các quốc gia có thể đạt được lợi thế ở những khâu khác nhau của chuỗi giá trị công nghệ, từ nghiên cứu mô hình, phát triển hạ tầng tính toán đến triển khai ứng dụng trong sản xuất và dịch vụ. Trong thời gian tới, AI được dự báo sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và trở thành động lực quan trọng của chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời góp phần định hình cục diện công nghệ toàn cầu.
5. Một số sự kiện thế giới đáng chú ý
- Nhân dịp kỷ niệm 115 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/1910 - 08/3/2026), Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres kêu gọi hành động bảo vệ quyền và sự tiến bộ của phụ nữ và trẻ em gái trên toàn thế giới.
Phát biểu tại một sự kiện ở trụ sở Liên hợp quốc tại New York (Mỹ), ông Antonio Guterres cho biết năm 2026 đánh dấu 30 năm Hội nghị Thế giới về Phụ nữ tại Bắc Kinh (1995) - cột mốc khẳng định quyền phụ nữ là quyền con người. Theo ông Guterres, dù phụ nữ đã từng bước phá vỡ nhiều rào cản xã hội và nâng cao vị thế, nhưng bạo lực, phân biệt đối xử và bất bình đẳng kinh tế vẫn tồn tại, thậm chí có xu hướng gia tăng ở một số nơi. Trước thực trạng đó, ông Guterres kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động mạnh mẽ hơn để bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em gái, thúc đẩy bình đẳng giới, chống mọi hình thức phân biệt đối xử vì lợi ích chung của toàn nhân loại.
- Phát biểu tại Sự kiện nâng cao nhận thức về mua bán người nhằm mục đích ép buộc thực hiện hành vi phạm tội tại các trung tâm lừa đảo, đồng thời chính thức giới thiệu Chiến dịch #Mắcbẫytộiphạmlừađảo (TrappedInScamCrime) của UNODC tại Việt Nam[2] (09/3/2026), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng công tác phòng, chống mua bán người, xem đây là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân. Việt Nam sẵn sàng tăng cường hợp tác quốc tế, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức phi chính phủ và các đối tác liên quan để phòng ngừa, phát hiện và xử lý hiệu quả tội phạm mua bán người.
- Việt Nam đồng đề xuất Nghị quyết của Liên hợp quốc về “Ngày quốc tế cà phê”: Ngày 10/3/2026, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết A/Res/80/249 lấy ngày 1/10 hằng năm làm "Ngày quốc tế cà phê" nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng quốc tế về ý nghĩa kinh tế, xã hội và văn hóa của cà phê cũng như vai trò của ngành cà phê đối với phát triển bền vững.
Nghị quyết Ngày quốc tế cà phê do Brazil và Nhóm nòng cốt gồm 18 nước đề xuất, trong đó có Việt Nam, cùng sự đồng bảo trợ của 97 quốc gia thành viên Liên hợp quốc - cao nhất trong số các dự thảo nghị quyết được Đại hội đồng khóa 80 xem xét cho đến nay. Nghị quyết được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực để các quốc gia, tổ chức quốc tế và các giới liên quan tăng cường hợp tác, hỗ trợ nông dân và cộng đồng sản xuất cà phê, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững ngành cà phê, đóng góp tích cực vào việc thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 về phát triển bền vững.
Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết về "Ngày quốc tế cà phê" có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam - một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới. Là thành viên Nhóm nòng cốt xây dựng Nghị quyết, Việt Nam đã tích cực phối hợp với các nước và đối tác quốc tế thúc đẩy sáng kiến này, qua đó góp phần nâng cao nhận thức toàn cầu về vai trò của ngành cà phê, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong phát triển chuỗi giá trị cà phê bền vững, đồng thời quảng bá hình ảnh và giá trị của cà phê Việt Nam tới cộng đồng quốc tế.
VĂN BẢN MỚI
Nghị định số 31/2026/NĐ-CP, ngày 21/01/2026 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/3/2026.
Nghị định gồm 04 Chương, 22 Điều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ, bao gồm: hành vi vi phạm hành chính về thực hiện nghiệp vụ lưu trữ và về hoạt động dịch vụ lưu trữ; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể của các chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lưu trữ. Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến tài liệu bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình. Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực lưu trữ không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.
Theo đó, đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này bao gồm: cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm hành chính mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước về lưu trữ; đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.
Theo Nghị định, các hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực lưu trữ bao gồm: cảnh cáo và phạt tiền, trong đó mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 30 triệu đồng, đối với tổ chức là 60 triệu đồng. Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ có thời hạn từ 03 đến 06 tháng. Nghị định cũng quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục tình trạng ban đầu, bảo đảm an toàn, toàn vẹn của tài liệu lưu trữ.
Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm và mức xử phạt tương ứng, tập trung vào các nhóm hành vi như: vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lưu trữ; vi phạm quy định về thu nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành và lưu trữ lịch sử; vi phạm quy định về chỉnh lý, bảo quản, hủy và sử dụng tài liệu lưu trữ; vi phạm quy định về số hóa tài liệu, tạo lập cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng Chứng chỉ hành nghề lưu trữ và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
Nghị định quy định mức phạt cao đối với các hành vi xâm hại nghiêm trọng đến tài liệu lưu trữ như: mang tài liệu lưu trữ ra ngoài trái phép; truy cập, sao chép, chia sẻ, mua bán, hủy tài liệu lưu trữ trái phép; làm mất, làm hỏng hoặc làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ. Đối với lĩnh vực số hóa và quản lý dữ liệu lưu trữ, Nghị định bổ sung nhiều quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, phòng ngừa nguy cơ mất mát, thất thoát dữ liệu.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra các bộ, ngành, Giám đốc Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ kiểm tra trong lĩnh vực lưu trữ, bảo đảm phù hợp với quy mô, tính chất, mức độ vi phạm và yêu cầu quản lý nhà nước.
[1] Các luận điệu xuyên tạc, sai lệch các thế lực thù địch sử dụng trong chiến dịch truyền thông xuất hiện trên mạng xã hội, blog cá nhân và một số trang truyền thông thiếu thiện chí như: “Không nên đi bỏ phiếu vì bầu cử không có ý nghĩa”; “Tẩy chay bầu cử là cách thể hiện quan điểm chính trị”; “Cử tri không thực sự quan tâm đến bầu cử”; Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử bị thổi phồng;…
[2]Sự kiện do Bộ Ngoại giao phối hợp với Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) tổ chức tại Hà Nội.
