Số 11 - 2026

THÔNG TIN TRONG NƯỚC

1. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

1.1. Về kết quả Hội nghị:

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 05 - 08/10/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự, chỉ đạo, có các bài phát biểu quan trọng khai mạc và bế mạc Hội nghị.

Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, đề án và báo cáo của Bộ Chính trị, Đảng ủy Chính phủ; Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết nghị thông qua nội dung các văn kiện:

(1) Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất xác định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, chế độ và sự nghiệp phát triển đất nước.

(2) Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới

Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phải gắn với trách nhiệm chính trị, với nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và quản trị quốc gia; phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, thực hành văn hóa trong Đảng, văn hóa liêm chính và trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực.

(3) Nghị quyết về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", quyết định trực tiếp năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và năng lực phát triển đất nước. Cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đồng bộ, chất lượng cao, có tầm nhìn dài hạn, tư duy đột phá, năng lực kiến tạo phát triển và tổ chức thực hiện, làm chủ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân; đủ khả năng xử lý những vấn đề mới, khó, phức tạp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và nâng cao vị thế đất nước.

(4) Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cho ý kiến vào dự thảo Quy định trên, bảo đảm thống nhất về tổ chức đảng, thẩm quyền thi hành kỷ luật, giải quyết khiếu nại kỷ luật và quy trình thực hiện, phù hợp với mô hình mới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, phát hiện sớm sơ hở, kiểm soát cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm; giữ nghiêm kỷ luật đi đôi với bảo vệ cán bộ liêm chính, đổi mới vì lợi ích chung; không bao che sai phạm.

(5) Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh

Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cao quan điểm cần đổi mới mạnh mẽ tư duy về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" để đảng viên làm giàu chính đáng, đóng góp cho đất nước.

(6) Kết luận về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, thảo luận, cho nhiều ý kiến vào dự thảo Đề án Chiến lược quốc gia thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững với mục tiêu xây dựng hệ thống quản trị nhân tài quốc gia hiện đại, thống nhất, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế; hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao, đủ mạnh, có cơ cấu hợp lý trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, có khả năng dẫn dắt giải quyết các bài toán lớn, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của đất nước.

(7) Kết luận về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026, kế hoạch năm 2027

Trung ương thống nhất nhận định, năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đặt nền móng cho giai đoạn phát triển mới; năm 2027 là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho những năm tiếp theo.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội căn cứ Kết luận của Trung ương về kinh tế - xã hội năm 2026 - 2027 để hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo Kế hoạch trình Quốc hội xem xét, quyết định; phối hợp chặt chẽ, kịp thời xem xét, điều chỉnh phù hợp khi có biến động, ảnh hưởng lớn tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô và cân đối ngân sách nhà nước.

(8) Kết luận về Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Ban Chấp hành Trung ương Đảng cơ bản thống nhất về mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, nội dung và phương pháp của Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Trung ương xác định đây là nhiệm vụ hệ trọng, phải được tiến hành thận trọng, khoa học, dân chủ, khách quan; chỉ đề xuất sửa đổi vấn đề cần thiết, có giá trị lâu dài, không chuyển cơ học nội dung nghị quyết vào Điều lệ Đảng; cần kết hợp chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, kế thừa những giá trị đã được khẳng định và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phù hợp.

(9) Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định, dự thảo Đề cương của 2 Báo cáo đã được thực hiện khoa học, nghiêm túc, kỹ lưỡng, bổ sung những vấn đề, chủ trương mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chỉ đạo, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương để tiếp thu, giải trình, chỉ đạo, hoàn thiện, ban hành các văn kiện trên và quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý chủ trương đổi tên Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương thành Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương. Giao Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định theo thẩm quyền và chỉ đạo thực hiện thống nhất, đồng bộ trong hệ thống chính trị.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bổ sung đồng chí Trần Quang Bảo, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031.

1.2. Về các nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới:

Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo tập trung triển khai 3 nhiệm vụ trọng tâm:

Thứ nhất, cụ thể hóa đầy đủ, thể chế hóa kịp thời các quyết sách của Hội nghị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo; Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và các cấp ủy thực hiện theo thẩm quyền. Phải rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, điều kiện thực hiện; xử lý nội dung giao thoa, tránh chồng chéo, bỏ sót trách nhiệm. Việc đã rõ phải làm ngay; thí điểm phải rõ phạm vi, thẩm quyền, thời hạn, tiêu chí đánh giá và kiểm soát rủi ro.

Thứ hai, hoàn thành cao nhất nhiệm vụ năm 2026, tạo nền tảng để năm 2027 tăng tốc, bứt phá. Các bộ, ngành, địa phương chủ động tháo gỡ vướng mắc, chuẩn bị kế hoạch, ngân sách, con người và nguồn lực cho năm tới. Không để việc đã tháo gỡ khó khăn, đã xác định phải thực hiện mà tiếp tục kéo dài vì chậm quyết định, né tránh trách nhiệm.

Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện và phát huy vai trò của Nhân dân. Theo sát nhiệm vụ trọng tâm, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, chấn chỉnh thiếu sót; kiểm tra việc khắc phục, xử lý trách nhiệm. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội tăng cường vận động, giám sát, phản biện; bảo đảm Nhân dân được tham gia, thụ hưởng thành quả. 

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu:

Một là, mỗi đồng chí Trung ương phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực, địa bàn được phân công; chọn đúng việc trọng tâm, giải quyết đến cùng những vấn đề thuộc trách nhiệm của mình. Đã nhận việc phải làm, đã cam kết phải thực hiện, có tồn tại, khuyết điểm phải khắc phục, sửa chữa. Sự gương mẫu phải bắt đầu từ chúng ta, từ công việc hằng ngày, tạo chuyển biến trong từng tổ chức và cả hệ thống.

Hai là, ngay sau Hội nghị, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hãy cùng Nhân dân bắt tay vào công việc, tháo gỡ khó khăn, mở ra cơ hội phát triển. Với bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân.

2. Quy định về cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Ngày 30/9/2026, Ban Bí thư ban hành Quy định số 220-QĐ/TW về cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quy định số 220-QĐ/TW áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trọng tâm là xây dựng cơ chế khuyến khích, ghi nhận và bảo vệ những cán bộ có đề xuất đổi mới, sáng tạo mang lại giá trị thiết thực, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Các đề xuất đổi mới, sáng tạo được phân thành 4 nhóm: đột phá khâu thực thi; đột phá thể chế; mô hình thí điểm và không gian thử nghiệm có kiểm soát.

Cán bộ có đề xuất được phê duyệt, triển khai đạt kết quả cao, đóng góp rõ rệt cho sự phát triển chung được xem xét biểu dương, khen thưởng; kết quả thực hiện đề xuất là căn cứ quan trọng trong đánh giá, xếp loại, quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ.

Đối với những cán bộ có thành tích đột phá, mang lại hiệu quả đặc biệt xuất sắc, có khả năng lan tỏa và nhân rộng trên phạm vi cả nước, Quy định đặt ra cơ chế ưu tiên xem xét bố trí, bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn theo quy định; ưu tiên đưa vào quy hoạch cán bộ cấp chiến lược hoặc chức danh lãnh đạo cao hơn; giao chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm, chiến lược, đột phá và tạo điều kiện về nguồn lực, nhân lực để tiếp tục phát huy năng lực.

Đối tượng được xem xét bảo vệ không chỉ là cán bộ trực tiếp đề xuất, tổ chức thực hiện mà còn bao gồm những người tham mưu, thẩm định, thành viên hội đồng tư vấn, giám sát, cán bộ phê duyệt và các cơ quan phối hợp có liên quan. Các biện pháp bảo vệ được quy định cụ thể, từ bảo vệ vị trí công tác, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ đến bảo vệ danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp; xem xét không xử lý, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo thẩm quyền khi đáp ứng đầy đủ điều kiện.

Quy định nhấn mạnh yêu cầu phân định rõ rủi ro, sai sót do nguyên nhân khách quan, sai sót không cố ý với hành vi cố ý vi phạm vì vụ lợi, lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm. Việc xem xét trách nhiệm phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể, đánh giá toàn diện động cơ, mục đích, thẩm quyền, mức độ lỗi, khả năng dự báo, kiểm soát rủi ro và kết quả đạt được, không chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra để quy kết trách nhiệm.

Đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu, Quy định yêu cầu chủ động phát hiện, giao nhiệm vụ mới, việc khó, vấn đề tồn đọng kéo dài; gắn giao nhiệm vụ với giao quyền, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm, tiến độ, nguồn lực và điều kiện thực hiện. Người đứng đầu phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, lấy kết quả và hiệu quả thực thi làm căn cứ chủ yếu để đánh giá cán bộ; đồng thời chịu trách nhiệm nếu chậm quyết định, né tránh hoặc để công việc đình trệ, lãng phí nguồn lực, bỏ lỡ cơ hội phát triển.

3. Định hướng trọng tâm hoạt động giám sát nhiệm kỳ Quốc hội khoá XVI

Ngày 20/9/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 96-KL/TW về định hướng trọng tâm hoạt động giám sát nhiệm kỳ Quốc hội khoá XVI; trong đó nhấn mạnh hoạt động giám sát nhiệm kỳ Quốc hội khoá XVI tập trung vào một số định hướng lớn sau:

Giám sát việc hoàn thiện thể chế, pháp luật, góp phần bảo đảm thể chế hoá đầy đủ, kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, các yêu cầu phát triển đất nước và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn; nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; nâng cao chất lượng, tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi của hệ thống pháp luật. Giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, việc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần hoàn thiện và vận hành hiệu quả chính quyền Trung ương và địa phương, nâng cao công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Việt Nam; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và trên thế giới. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần bảo đảm phát triển xã hội bền vững, bảo vệ quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần bảo đảm quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; mở rộng đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả.

Những năm tiếp theo của nhiệm kỳ, căn cứ định hướng trọng tâm giám sát và yêu cầu thực tiễn, tập trung giám sát những vấn đề lớn, có tác động sâu rộng; những vấn đề nổi lên, mới phát sinh trong thực tiễn; những lĩnh vực còn nhiều hạn chế, vướng mắc, bất cập trong tổ chức thi hành chính sách, pháp luật; tăng cường theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát.

Đổi mới mạnh mẽ hoạt động giám sát của Quốc hội khoá XVI, coi trọng giám sát chủ động, thường xuyên, bám sát tình hình thực tiễn, giám sát dựa trên dữ liệu; kết hợp hài hoà giữa các hình thức giám sát; chuyển trọng tâm giám sát theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, từ giám sát nhằm phát hiện và xử lý vi phạm sang giám sát nhằm cảnh báo, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa, nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả thi hành pháp luật. Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động giám sát với công tác xây dựng pháp luật và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động giám sát, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát phải bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có tính khả thi, rõ việc, rõ chủ thể, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và rõ kết quả. Nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ; coi kết quả thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng và đảng viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Quy định về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt

Ngày 22/9/2026, Ban Bí thư ban hành Quy định số 218-QĐ/TW về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt; quy định cụ thể về nguyên tắc, yêu cầu, đối tượng, nội dung, thời hạn, hình thức, thẩm quyền ký, gửi, tiếp nhận, tổng hợp và trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

Quy định số 218-QĐ/TW áp dụng đối với các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; các cơ quan tham mưu, giúp việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cơ quan Đảng ở Trung ương; các đảng ủy bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt.

Quy định yêu cầu công tác báo cáo phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất; thông tin đúng định hướng, đúng thẩm quyền; khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, kịp thời. Đặc biệt, báo cáo phải có phân tích, đánh giá, dự báo, nhận diện sớm vấn đề, nguy cơ, thách thức và cơ hội, đồng thời kiến nghị phương án xử lý để phục vụ kịp thời công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quyết định. Báo cáo phải bảo đảm nguyên tắc “một nguồn dữ liệu, nhiều mục đích sử dụng”. Thông tin, dữ liệu được thu thập một lần, chia sẻ và khai thác thống nhất theo phân quyền, qua đó hạn chế tối đa việc yêu cầu báo cáo trùng lặp giữa các cơ quan.

Quy định xác định các loại báo cáo gồm: báo cáo định kỳ (ngày, tuần, tháng, quý I, 6 tháng, 9 tháng, năm); báo cáo chuyên đề; báo cáo lãnh đạo chủ chốt; báo cáo đột xuất và các báo cáo khác; báo cáo điểm văn bản. Đối với báo cáo ngày, các cơ quan được quy định thực hiện phải phản ánh tóm tắt những vấn đề nổi bật, phát sinh cần báo cáo trong ngày và gửi Văn phòng Trung ương Đảng trước 15 giờ hằng ngày. Báo cáo tuần phải phản ánh những diễn biến nổi bật, vấn đề mới phát sinh, vấn đề phức tạp, nhạy cảm, kết quả thực hiện các kết luận, chỉ đạo và những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ; gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước 15 giờ thứ Sáu hằng tuần. Đối với báo cáo tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và năm, yêu cầu không chỉ dừng ở việc tổng hợp tình hình mà phải đánh giá, phân tích nguyên nhân, xác định điểm nghẽn, dự báo xu hướng và kiến nghị giải pháp, gắn với kết quả thực hiện các chủ trương lớn của Đảng.

Báo cáo lãnh đạo chủ chốt phải tập trung vào những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, những nội dung quan trọng, phức tạp hoặc nhạy cảm; không tổng hợp dàn trải hoặc lặp lại các nội dung đã được phản ánh trong các báo cáo định kỳ khác. Mỗi vấn đề trong báo cáo cần làm rõ 5 nội dung: tình hình, diễn biến; nguyên nhân; đánh giá tác động; kiến nghị hoặc phương án xử lý; nội dung cần xin ý kiến chỉ đạo nếu có. Đối với những vấn đề, vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, khẩn cấp hoặc có nguy cơ tác động lớn, yêu cầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức đảng chủ động báo cáo ngay khi có thông tin ban đầu, không chờ có đầy đủ thông tin hoặc có yêu cầu của cấp có thẩm quyền. Báo cáo ban đầu phải nêu rõ tình hình, đánh giá sơ bộ về tính chất, mức độ, phạm vi tác động, biện pháp đã thực hiện, dự báo diễn biến và kiến nghị xử lý.

5. Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội; các giá trị văn hóa phải thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm, định hướng hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo; xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát huy văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên gắn với xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Một số nhiệm vụ trọng tâm gồm: hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực; bảo tồn, phát huy giá trị di sản; phát triển công nghiệp văn hóa; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa. Phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng; bảo đảm quyền thụ hưởng, sáng tạo và tiếp cận bình đẳng văn hóa.

Nghị quyết số 80-NQ/TW thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam để nâng cao khả năng thụ hưởng văn hóa của Nhân dân, động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hóa, văn minh. Đây là dịp tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm công dân và khát vọng đóng góp, cống hiến.

Để tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) thiết thực, hiệu quả, ngày 30/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 35/CT-TTg xác định một số nội dung, hình thức tổ chức sau:

Tổ chức trang trọng, rộng khắp, phong phú, sinh động, vui tươi, ý nghĩa các hoạt động kỷ niệm Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn kết với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc trong từng cộng đồng, khu dân cư, thôn, tổ dân phố, địa bàn cơ sở trên toàn quốc theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể tham gia, sáng tạo và thụ hưởng, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân và khát vọng đóng góp, cống hiến của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức, triển khai thực hiện; huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân, người có uy tín; tăng cường sự tham gia của người dân, cộng đồng, doanh nghiệp gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của từng địa phương, vùng, miền, tăng cường trải nghiệm tại cộng đồng, thiết chế văn hóa và không gian công cộng, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức, không để xảy ra lãng phí, tiêu cực, vi phạm quy định.

Tổ chức phong phú, đa dạng, sáng tạo, giàu bản sắc các hoạt động liên hoan văn hóa, văn nghệ, ẩm thực, trình diễn dân ca, dân vũ, nhạc cụ, trang phục truyền thống, trò chơi dân gian, môn thể thao dân tộc, thực hành, truyền dạy di sản văn hóa truyền thống và các hoạt động văn hóa, sáng tạo khác phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng địa phương, cộng đồng; chú trọng giới thiệu sản phẩm văn hóa, nghề, làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ; đẩy mạnh giao lưu giữa các tầng lớp nhân dân, cộng đồng các dân tộc anh em, các thế hệ, các địa phương cấp tỉnh, thành phố, xã phường, thôn bản, phát huy mạnh mẽ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc tốt đẹp và trao truyền giá trị văn hóa liên thế hệ, nhất là cho thế hệ trẻ.

Khai thác hiệu quả các thiết chế văn hóa, bảo tàng, thư viện, di tích, nhà văn hóa, không gian sáng tạo, tổ chức trưng bày, triển lãm, chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu tác giả, tác phẩm ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương; chú trọng phương thức tổ chức lưu động đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị lịch sử văn hóa truyền thống đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

Mỗi địa phương cấp tỉnh, thành phố, cấp xã phường rà soát, lựa chọn ít nhất một hoạt động, sản phẩm, câu chuyện văn hóa, không gian văn hóa tiêu biểu để giới thiệu, quảng bá, gắn với xúc tiến, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa; trong đó mỗi xã, phường lựa chọn ít nhất một hoạt động hoặc mô hình phù hợp để duy trì, phát huy sau Ngày Văn hóa Việt Nam và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc, góp phần xây dựng cộng đồng văn hóa cơ sở giàu bản sắc, sáng - xanh - sạch - đẹp.

Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, thực hiện tốt nhiệm vụ chỉnh trang cảnh quan, trang trí, khánh tiết, cổ động trực quan đối với các hoạt động kỷ niệm Ngày Văn hóa Việt Nam và chuỗi hoạt động tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, lan tỏa không khí phấn khởi, vui tươi, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, truyền thông đa phương tiện, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo (AI) để giới thiệu câu chuyện văn hóa đặc sắc đến từng cộng đồng, từng gia đình, người dân trên mọi miền Tổ quốc, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

6. Một số nét chính về tình hình kinh tế - xã hội nước ta 9 tháng năm 2026; giải pháp trọng tâm những tháng cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng tốc trong quý III/2026. GDP quý III tăng 9,95%, 9 tháng tăng 9,01% so với cùng kỳ.

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026. Sản xuất nông nghiệp nhìn chung đạt kết quả tích cực, với năng suất và sản lượng lúa tăng, trong khi cơ cấu sử dụng đất tiếp tục được điều chỉnh theo hướng nâng cao hiệu quả. Vụ lúa hè thu năm 2026 cả nước gieo cấy 1.861,6 nghìn ha, giảm 36,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, chủ yếu do chuyển sang cây trồng khác, nuôi trồng thủy sản và các mục đích sử dụng đất khác. Tuy nhiên, năng suất lúa hè thu ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; sản lượng đạt gần 11,0 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn.

- Sản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Trong quý III/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước, duy trì mức tăng hai con số. IIP 9 tháng tăng 12,3%, là mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.

- Khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026, với hoạt động thương mại, vận tải và du lịch tiếp tục khởi sắc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8%.

- Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tiếp tục duy trì đà tăng cao. Trong quý III/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 11,6% của cùng kỳ năm 2025.

- Hoạt động thương mại quốc tế tiếp tục sôi động trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026. Trong quý III/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu đạt 170,33 tỷ USD, tăng 42,2%. Tháng 9, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng liên tiếp nhập siêu.

Tính chung 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 24,5%, nhập khẩu tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD.

Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 140,0 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 187,34 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 122,62 tỷ USD, tăng 23,8%; xuất siêu sang EU 36,06 tỷ USD, tăng 25,3%; đồng thời nhập siêu từ Trung Quốc 121,48 tỷ USD, tăng 43,0%, từ Hàn Quốc 43,75 tỷ USD, tăng 90,4% và từ ASEAN 15,49 tỷ USD, tăng 48,1%.

- Mặt bằng giá trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026 chịu sức ép rõ hơn từ nhóm năng lượng và chi phí sinh hoạt. CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng Chín, CPI tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,20% so với tháng 12/2025. Tính chung 9 tháng năm 2026, CPI bình quân tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%.

- Công tác an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên, bảo đảm công bằng xã hội. Các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo chuyển biến rõ nét theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, 72-NQ/TW, 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có bước tiến mới theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp thiết thực xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.

Quý IV là giai đoạn nước rút quyết định kết quả cả năm 2026. Bám sát chỉ đạo của Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ (tháng 9/2026), ngày 03/10/2026, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung quán triệt, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và của Chính phủ; tận dụng tối đa thời cơ, các yếu tố thuận lợi, khắc phục khó khăn, hạn chế, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2026, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, tạo đà bứt phá cho năm 2027 với tinh thần tăng tốc hành động quyết liệt.

Thứ hai, kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng năm 2026 đạt "2 con số" gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; lấy hiệu quả thực chất của nền kinh tế, năng suất, sức cạnh tranh, sự phát triển của doanh nghiệp và việc làm, thu nhập, chất lượng cuộc sống của Nhân dân làm thước đo cho sự phát triển.

Thứ ba, rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; khắc phục các điểm nghẽn về kết nối, chia sẻ dữ liệu và giải quyết thủ tục liên thông.

Thứ tư, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống của Nhân dân, nhất là người có công, đối tượng chính sách, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ năm, chuẩn bị chu đáo các hoạt động văn hóa, lễ hội vào dịp cuối năm, trong đó tổ chức tốt Ngày Văn hóa Việt Nam và tuần lễ văn hóa - đại đoàn kết dân tộc năm 2026. Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa. Theo dõi sát tình hình quan hệ lao động, tiền lương, tiền thưởng tại các khu công nghiệp; tăng cường tổ chức các sàn giao dịch việc làm, hỗ trợ kết nối lao động cho các doanh nghiệp phục vụ cao điểm sản xuất cuối năm.

7. Phát triển Ứng dụng định danh quốc gia VNeID - nền tảng định danh số phục vụ người dân và doanh nghiệp

Ngày 06/01/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 06/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Kế thừa kết quả Đề án 06, Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” xác định phát triển VNeID thành nền tảng số quốc gia, hướng tới siêu ứng dụng giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia.

Theo thống kê của Bộ Công an, VNeID có hơn 102,1 triệu hồ sơ định danh và 71,5 triệu tài khoản đã kích hoạt. Kết quả này tạo cơ sở mở rộng việc xác thực danh tính, tích hợp giấy tờ và cung cấp dịch vụ trên môi trường số. Người dân có thể sử dụng tài khoản định danh điện tử để tiếp cận dịch vụ công, khai thác thông tin đã tích hợp và thực hiện các giao dịch theo quy định.

Giá trị của VNeID thể hiện ở khả năng giảm khai báo trùng lặp, hạn chế yêu cầu cung cấp lại giấy tờ, tiết kiệm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục. Nghị định số 320/2026/NĐ-CP ngày 13/8/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 69/2024/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 28/9/2026, quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, giao dịch dân sự và các hoạt động khác phải khai thác thông tin, giấy tờ đã tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia; không được yêu cầu nộp, xuất trình lại bản chính hoặc bản sao các giấy tờ, tài liệu đã tích hợp. Nghị định đồng thời bổ sung quy định về tài khoản hưởng an sinh xã hội, tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí và chi trả an sinh xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển VNeID đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan. Liên thông, tái sử dụng dữ liệu phải đi cùng tái cấu trúc quy trình; nếu chỉ chuyển hồ sơ giấy sang môi trường điện tử mà chưa cắt giảm khâu trung gian, hiệu quả phục vụ sẽ còn hạn chế. Tại hội nghị giao ban ngày 18/9/2026, lãnh đạo Bộ Công an yêu cầu đánh giá việc tái cấu trúc thủ tục từ thực tế sử dụng, tiếp tục đơn giản hóa quy trình và giao diện.

Số lượng tài khoản được kích hoạt chưa phản ánh đầy đủ mức độ sử dụng và chất lượng dịch vụ. Chênh lệch về kỹ năng số, điều kiện thiết bị và khả năng tiếp cận mạng cần được quan tâm, nhất là với người cao tuổi, nhóm yếu thế, người dân vùng sâu, vùng xa. Bảo vệ dữ liệu cá nhân và phòng ngừa lừa đảo giả mạo hướng dẫn cài đặt, sử dụng VNeID là yêu cầu thường xuyên.

Để phát huy kết quả, khắc phục hạn chế, cần thực hiện hiệu quả Quyết định số 940/QĐ-TTg và các quy định về định danh, xác thực điện tử. Các bộ, ngành, địa phương phải rà soát quy trình, phân định rõ trách nhiệm; khai thác, tái sử dụng dữ liệu, không yêu cầu nộp hoặc xuất trình lại giấy tờ đã tích hợp trên VNeID theo quy định. Lấy việc giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả.

Cùng với hoàn thiện thể chế, cần bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ, cập nhật và kết nối thông suốt giữa các hệ thống. Ưu tiên tiện ích thiết yếu, đơn giản hóa thao tác, nâng cao năng lực vận hành và xử lý kịp thời vướng mắc. Việc mở rộng tiện ích phải gắn với bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống, bảo vệ dữ liệu cá nhân và kiểm soát rủi ro.

Để VNeID được sử dụng hiệu quả, cần gắn tuyên truyền với hướng dẫn thực hành và hỗ trợ tại cơ sở. Phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên, lực lượng công an cơ sở và Tổ công nghệ số cộng đồng; chú trọng hỗ trợ người còn hạn chế về kỹ năng số. Đồng thời, hướng dẫn nhận diện hành vi giả mạo, bảo vệ tài khoản, mật khẩu và mã xác thực.

Các bộ, ngành, địa phương cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra, tháo gỡ điểm nghẽn và tiếp nhận phản ánh của người dân, doanh nghiệp. Qua đó, phát huy vai trò của VNeID trong cải cách hành chính, thực hiện chính sách an sinh xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

8. Công tác người khuyết tật trong tình hình mới

Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 22/9/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trong tình hình mới xác định mục tiêu, đến năm 2030, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người khuyết tật; ưu tiên chăm lo cho những người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn hoặc không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống; đồng thời, mở rộng tối đa cơ hội học tập, lao động, khởi nghiệp, sáng tạo, sản xuất, kinh doanh và tham gia các hoạt động xã hội, để người khuyết tật có khả năng phát huy năng lực, tự chủ, cống hiến, thụ hưởng thành quả phát triển; bảo đảm sự tham gia phù hợp của người khuyết tật vào các cơ quan dân cử.

Đến năm 2045, phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bình đẳng, hoà nhập đối với người khuyết tật; nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện để người khuyết tật phát triển toàn diện, sống độc lập và được thụ hưởng đầy đủ các thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; hỗ trợ người khuyết tật trở thành nguồn nhân lực chất lượng, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thịnh vượng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Chỉ thị số 14-CT/TW nêu một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, tổ chức và Nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác người khuyết tật.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về người khuyết tật; thực hiện đầy đủ, hiệu quả các điều ước quốc tế nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật. Nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, phục hồi chức năng, hoà nhập, đào tạo nghề, việc làm, sinh kế, vay vốn, trợ giúp pháp lý; nâng cao khả năng tiếp cận hạ tầng, công trình công cộng, nhà ở, giao thông, thông tin, truyền thông và các dịch vụ thiết yếu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số để hỗ trợ người khuyết tật phát huy năng lực, nâng cao tính tự chủ và chất lượng cuộc sống.

Tăng cường phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, chẩn đoán, can thiệp sớm và phục hồi chức năng; chủ động phòng ngừa, giảm thiểu các nguyên nhân và trường hợp khuyết tật mới có thể phòng ngừa được, nhất là do tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, bệnh tật; chăm lo, hỗ trợ trẻ em khuyết tật, người nhiễm chất độc da cam và các nhóm người khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt.

Tăng cường khả năng tiếp cận của người khuyết tật là yêu cầu bắt buộc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, từ khâu hoạch định, quy hoạch, thiết kế, đầu tư, xây dựng, giám sát công trình đến cung cấp sản phẩm, dịch vụ và phát triển các nền tảng số.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp hiệu quả nhằm phát hiện sớm trẻ em có dấu hiệu bất thường, được đến trường, được học tập, được tham gia học tập, giáo dục và phổ cập giáo dục; tạo điều kiện hỗ trợ để người khuyết tật học tập ở các cấp học của hệ thống giáo dục, đào tạo nghề. Chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật, chính quyền các cấp và lực lượng chức năng chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực, xâm hại, ngược đãi, bỏ rơi, phân biệt đối xử hoặc lợi dụng người khuyết tật để trục lợi.

9. Mục tiêu phát triển thông tin cơ sở

Để hệ thống thông tin cơ sở trở thành kênh tương tác hai chiều giữa Nhà nước và người dân, bảo đảm quyền của người dân trong việc tiếp cận thông tin thiết yếu nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đầy đủ, Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2045 được phê duyệt bởi Quyết định số 1868/QĐ-TTg ngày 29/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ đề ra một số mục tiêu cụ thể như sau:

Đến năm 2030, hệ thống thông tin cơ sở trở thành hệ thống chủ lực thiết yếu, cung cấp thông tin thiết yếu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành ở địa phương; phục vụ nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân thông qua nhiều loại hình phù hợp với nhu cầu, điều kiện.

90% hệ thống truyền thanh cấp xã ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được quản lý tập trung và vận hành hiệu quả. 90% thôn, tổ dân phố có cụm thu phát thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông, bảo đảm tối thiểu 80% hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố nghe được thông tin từ cụm thu phát thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông. 70% xã, phường, đặc khu có ít nhất 03 kênh truyền thông số chính thống để cung cấp thông tin thiết yếu.

90% người dân được tiếp cận thông tin thiết yếu qua ít nhất một loại hình thông tin cơ sở phù hợp và người sử dụng thiết bị thông minh được tiếp cận qua nền tảng, ứng dụng số phù hợp điều kiện hạ tầng, thiết bị.

Đến năm 2045, hệ thống thông tin cơ sở trở thành một hạ tầng truyền thông hiện đại ở cấp cơ sở có khả năng tương tác hai chiều giữa Nhà nước với người dân, được vận hành trên môi trường số và là một cấu phần của hệ thống điều hành quốc gia, kết nối với hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ; kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nền tảng định danh, xác thực điện tử; hình thành bảng điều khiển (dashboard) quản lý, điều hành hoạt động thông tin cơ sở từ trung ương đến địa phương.

Chiến lược đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm: Hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế phối hợp; Phát triển hạ tầng kỹ thuật, nền tảng số và bảo đảm an ninh mạng; Phát triển nguồn nhân lực thông tin cơ sở; Đổi mới nội dung, phương thức cung cấp thông tin và đo lường hiệu quả truyền thông; Tăng cường phối hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh, thông tin đối ngoại.

HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VÀ

TÌNH HÌNH THẾ GIỚI NỔI BẬT THỜI GIAN GẦN ĐÂY

1. Một số kết quả công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta 9 tháng năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm

Từ đầu năm 2026 đến nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những chuyển động sâu sắc, nhanh chóng và phức tạp. Bám sát đường lối đối ngoại của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai toàn diện, chủ động, thực chất, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.

Ngoại giao cấp cao, nhất là ngoại giao nguyên thủ, được đẩy mạnh, phát huy vai trò dẫn dắt chiến lược trong quan hệ đối ngoại. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt tiến hành nhiều hoạt động song phương và đa phương quan trọng[1]. Việt Nam đón nhiều lãnh đạo các nước, chính đảng và tổ chức quốc tế, tiêu biểu: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào; Tổng thống Hàn Quốc; Nhà vua và Hoàng hậu Thái Lan; Tổng thống Myanmar; Thủ tướng Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan, Timor-Leste và Slovakia; Chủ tịch Quốc hội Campuchia; Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch Hạ viện Thái Lan; Chủ tịch Quốc hội Bờ Biển Ngà; Chủ tịch Hội đồng châu Âu; Chủ tịch Hạ viện Jordan và Chủ tịch Đảng Công nhân Hungary;...

Ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền đối ngoại toàn diện. Đối ngoại Đảng tiếp tục góp phần định hướng chiến lược, củng cố tin cậy chính trị và nền tảng lâu dài của quan hệ với các đối tác. Nhân dịp Đại hội XIV của Đảng, nhiều chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế gửi thư, điện chúc mừng. Trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN năm 2026, Việt Nam lần đầu tổ chức Tọa đàm giữa các chính đảng Đông Nam Á, mở thêm kênh trao đổi, tăng cường hiểu biết và hợp tác. Các hoạt động đối ngoại của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các chính đảng, trao đổi lý luận và kinh nghiệm xây dựng Đảng, phát triển đất nước.

Ngoại giao Nhà nước tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất. Việt Nam nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện với Liên minh châu Âu; Đối tác chiến lược với Slovakia và Canada; Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường với Ấn Độ; Đối tác toàn diện với Sri Lanka; Đối tác chiến lược tăng cường với Philippines. Việt Nam và Na Uy ký bản ghi nhớ về Đối tác chiến lược xanh, mở rộng triển vọng hợp tác trong chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển và phát triển bền vững. Các ban, bộ, ngành tiếp tục tham gia triển khai các thỏa thuận, hoạt động đối ngoại và chương trình hợp tác quốc tế.

Đối ngoại Quốc hội được đẩy mạnh, góp phần củng cố tin cậy và tăng cường hợp tác với các đối tác. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo Quốc hội tiến hành nhiều hoạt động song phương, đa phương quan trọng. Tại Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152, Việt Nam tiếp nhận nhiệm vụ Chủ tịch Nhóm ASEAN+3 tại Đại hội đồng lần thứ 153 theo cơ chế luân phiên. Quốc hội Việt Nam và Hạ viện Jordan ký Bản ghi nhớ hợp tác; Quốc hội Việt Nam thúc đẩy triển khai Thỏa thuận hợp tác với Hạ viện Thái Lan giai đoạn 2023–2028, đồng thời đề nghị nghiên cứu thành lập Nhóm nghị sĩ hữu nghị tại Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Bờ Biển Ngà.

Đối ngoại nhân dân tiếp tục góp phần củng cố nền tảng xã hội cho quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức nhân dân và hiệp hội triển khai các hoạt động giao lưu, trao đổi, hợp tác quốc tế, tăng cường sự hiểu biết và gắn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.

Ngoại giao phục vụ phát triển được triển khai với trọng tâm là ngoại giao kinh tế, hướng vào mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, bảo vệ lợi ích kinh tế, tháo gỡ rào cản và tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Tháng 7/2026, Việt Nam và Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA) công bố kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do. Đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng công bằng và cân bằng Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục tiến triển; hai bên đang trao đổi, làm rõ một số vấn đề kỹ thuật còn lại để tiến tới hoàn tất và ký kết.

Việt Nam chủ động tham gia, đóng góp tại các cơ chế đa phương. Ngày 29/5/2026, tại Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 với chủ đề “Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động”, thể hiện quan điểm và đề xuất của Việt Nam về hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Tháng 9/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại Ấn Độ. Ngày 18/6/2026, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Anh, ứng cử viên của Việt Nam, trúng cử Thẩm phán Tòa án Luật biển quốc tế nhiệm kỳ 2026 - 2035 với số phiếu cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đánh dấu lần đầu Việt Nam có thẩm phán tại Tòa án này,…

Trong khuôn khổ ASEAN, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines (tháng 5/2026) và Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga tại Kazan, Nga (tháng 6/2026). Việt Nam tổ chức Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba tại Hà Nội (từ ngày 09 - 10/6/2026). Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Việt Nam tiếp tục tham gia, đóng góp tại Hội đồng Nhân quyền và UNESCO. Đồng thời, Việt Nam đẩy mạnh hoạt động tại APEC, các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công và những diễn đàn đa phương chuyên ngành; tích cực chuẩn bị cho năm APEC 2027.

Ngoại giao văn hóa tiếp tục góp phần quảng bá hình ảnh, các giá trị văn hóa Việt Nam và phát huy sức mạnh mềm của đất nước. Hợp tác với UNESCO, ASEAN và các đối tác được thúc đẩy nhằm huy động tri thức, công nghệ, nguồn lực phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Các địa phương từng bước gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa, chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác thông tin đối ngoại tiếp tục cung cấp thông tin về đường lối, chính sách đối ngoại và thành tựu phát triển của Việt Nam; góp phần tăng cường sự hiểu biết, củng cố quan hệ với các đối tác và nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước.

Công tác người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục quán triệt chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, gắn chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cộng đồng với phát huy nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài khẳng định cộng đồng là bộ phận không tách rời và nguồn lực chiến lược quan trọng của dân tộc, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Công tác này được triển khai theo hướng tăng cường đồng hành, hoàn thiện cơ chế phát huy nguồn lực, hỗ trợ hội nhập tại nước sở tại, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc.

Những tháng cuối năm 2026, công tác đối ngoại tập trung triển khai chủ động, linh hoạt các hoạt động song phương và đa phương; thúc đẩy quan hệ hài hòa, cân bằng với các nước lớn; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; mở rộng không gian phát triển, huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ các mục tiêu phát triển đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; chuẩn bị các hoạt động cấp cao, trong đó có Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 49; nâng cao hiệu quả thực hiện các thỏa thuận quốc tế và công tác chuẩn bị cho năm APEC 2027, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam.

2. Một số kết quả chuyến thăm chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng

Nhận lời mời của Thủ tướng Lào Saleumxay Kommasith và Thủ tướng Campuchia Hun Manet, từ ngày 08 - 10/10/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm chính thức Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia. 

Chuyến thăm chính thức Lào và Campuchia của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã thành công rất tốt đẹp, đạt nhiều kết quả quan trọng, thực chất, làm sâu sắc quan hệ hữu nghị truyền thống và tạo xung lực mới cho hợp tác toàn diện với hai nước láng giềng có vị trí quan trọng hàng đầu trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Thứ nhất, chuyến thăm có ý nghĩa chính trị, đối ngoại rất quan trọng, vì đây là chuyến thăm chính thức Lào và Campuchia đầu tiên của Thủ tướng Lê Minh Hưng ở cương vị Thủ tướng Chính phủ và cũng là chuyến thăm song phương chính thức nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng Lê Minh Hưng trên cương vị người đứng đầu Chính phủ. 

Đặc biệt, đối với Lào, đây là chuyến thăm đầu tiên của Lãnh đạo chủ chốt Việt Nam và Thủ tướng ta cũng là Lãnh đạo nước ngoài đầu tiên thăm Lào ngay sau khi nước bạn kiện toàn các vị trí Lãnh đạo chủ chốt, trong đó có Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội. Đối với Campuchia, chuyến thăm diễn ra đúng vào giai đoạn Campuchia đang tiếp tục thực hiện các kế hoạch quan trọng nhằm triển khai các chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội và chuẩn bị các hoạt động đối ngoại quan trọng.

Lãnh đạo cấp cao Lào và Campuchia đánh giá cao chuyến thăm thể hiện quan hệ đặc biệt, tình cảm hữu nghị truyền thống giữa hai nước cũng như quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong việc cùng Lào, Campuchia đưa hợp tác vươn lên một tầm mức mới. 

Trong chuyến thăm, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Lãnh đạo cấp cao Lào, Campuchia đã trao đổi về nhiều nội dung liên quan đến quan hệ hai Đảng, hai nước, các mặt hợp tác cũng như các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; qua đó tăng cường tin cậy chính trị, hiểu biết lẫn nhau và định hướng chính trị quan trọng cho quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia, khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của quan hệ hợp tác về quốc phòng - an ninh, trụ cột của quan hệ. 

Thứ hai, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã cùng Lãnh đạo Lào và Campuchia trao đổi, đánh giá tình hình triển khai hợp tác cụ thể trong các lĩnh vực; cùng các bộ, ngành giải quyết dứt điểm cơ bản những khó khăn của các dự án thời gian qua, tích cực triển khai đem lại kết quả thiết thực đối với các dự án hợp tác được Bộ Chính trị, hai đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam và Lào, cũng như Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia, Lãnh đạo Campuchia nhất trí; đồng thời, cũng mở ra các hướng, lĩnh vực và dự án hợp tác mới có tiềm năng, tạo thêm động lực, nguồn lực phát triển mới cho cả Việt Nam, Lào và Campuchia.

Thứ ba, chuyến thăm đã triển khai tích cực đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, thể hiện sự coi trọng và ưu tiên quan hệ láng giềng đối với Lào và Campuchia. Chuyến thăm cũng là bước chuẩn bị rất quan trọng cho các hoạt động đối ngoại cấp cao quan trọng giữa Việt Nam với Lào và Campuchia thời gian tới và đặc biệt để chuẩn bị cho các sự kiện quan trọng của Việt Nam với Lào và Campuchia trong năm 2027. Đó là kỷ niệm 65 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962), 50 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977) và 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia (24/6/1967). Đây là những dấu mốc có ý nghĩa quan trọng, tạo thêm động lực để tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, tăng cường gắn kết chiến lược và thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia phát triển lên tầm cao mới.

3. Một số kết quả chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn

Nhận lời mời của Ủy viên trưởng Nhân đại toàn quốc Trung Quốc Triệu Lạc Tế, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thăm chính thức Trung Quốc, đồng chủ trì Phiên họp lần thứ hai Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc từ ngày 11-15/10/2026.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã có các cuộc hội đàm, hội kiến với các đồng chí: Triệu Lạc Tế, Ủy viên trưởng Nhân đại toàn quốc Trung Quốc, Vương Hộ Ninh, Chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc, Lý Cường, Thủ tướng Chính phủ Trung Quốc; đồng chủ trì Phiên họp lần thứ hai Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc; thực hiện một số hoạt động quan trọng khác[2].

Tại các cuộc hội đàm, hội kiến, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định, phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị hai bên duy trì tiếp xúc cấp cao, tăng cường trao đổi chiến lược; phát huy tốt cơ chế đối thoại chiến lược và đẩy mạnh hợp tác giữa các cơ quan trọng yếu, thường xuyên là ngoại giao, quốc phòng, công an; tăng cường giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm về công tác chuyên môn, hoạt động lập pháp; tăng cường phối hợp tại các diễn đàn nghị viện đa phương; tăng cường triển khai hiệu quả hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư; mở cửa hơn nữa thị trường cho nông sản Việt Nam; tạo chuyển biến rõ nét hơn nữa về khoa học, công nghệ, triển khai tốt Năm Hợp tác du lịch Việt - Trung; phát huy hơn nữa vai trò đặc biệt quan trọng của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc trong việc củng cố nền tảng ý dân; tăng cường giao lưu, trao đổi giữa các đoàn thể nhân dân hai nước. Quốc hội Việt Nam sẽ đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam, phối hợp, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan của Trung Quốc tăng cường trao đổi kinh nghiệm, cùng xây dựng, kiện toàn hành lang pháp lý thuận lợi cho hợp tác song phương.

Truyền thông Trung Quốc và quốc tế dành sự quan tâm đối với chuyến thăm chính thức Trung Quốc và đồng chủ trì Phiên họp lần thứ hai Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Các hãng thông tấn chính thống của Trung Quốc[3] cùng các kênh ngoại giao nhấn mạnh chuyến thăm đã phản ánh sâu sắc tinh thần quan hệ hữu nghị truyền thống “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, đồng thời thể hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc cụ thể hóa định hướng xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai” theo phương châm “6 hơn”. Báo chí Trung Quốc nhấn mạnh thông điệp từ các cuộc hội đàm, hội kiến cấp cao giữa Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với các nhà lãnh đạo Trung Quốc; qua đó khẳng định sự đồng thuận cao trong việc củng cố tin cậy chính trị, tăng cường trao đổi chiến lược và duy trì tiếp xúc thường xuyên ở tất cả các cấp.

4. Một số kết quả chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống nước Cộng hòa Panama José Raúl Mulino Quintero và Phu nhân

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm và Phu nhân, từ ngày 05 - 08/10/2026, Tổng thống nước Cộng hòa Panama José Raúl Mulino Quintero và Phu nhân đã thăm chính thức Việt Nam.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng thống Panama José Raúl Mulino Quintero đã tham dự lễ đón, hội đàm và chiêu đãi chính thức do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì, hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; tham dự và phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp hai nước, tiếp một số doanh nghiệp và thăm một số cơ sở văn hóa, lịch sử tại Hà Nội.

Tại các cuộc hội đàm, hội kiến, lãnh đạo hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa của chuyến thăm, là lần thứ hai một Nguyên thủ quốc gia Cộng hòa Panama thăm chính thức Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và khẳng định cam kết làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống Việt Nam - Panama, tạo dựng nền tảng và định hướng quan hệ cho giai đoạn mới nhân dịp kỷ niệm 51 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (28/8/1975 - 28/8/2026).

Tổng thống José Raúl Mulino Quintero ghi nhận và bày tỏ sự tri ân sâu sắc việc Việt Nam là quốc gia đầu tiên ký Nghị định thư về trung lập vĩnh viễn Kênh đào Panama (1979); khẳng định Panama coi Việt Nam là đối tác ưu tiên hàng đầu tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam coi Panama là nước bạn bè truyền thống, đối tác nhiều tiềm năng tại khu vực, mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt, đóng góp vào sự phát triển của cả hai nước.

Hai bên cũng đã trao đổi về tình hình gần đây, tầm nhìn và chính sách phát triển của mỗi nước thời gian tới, các phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực, chia sẻ quan điểm về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

Nhân dịp này, hai bên đã ra Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Panama và chứng kiến lễ trao và ký kết các văn kiện hợp tác giữa hai nước.

5. Những dấu ấn nổi bật và sự đóng góp của Việt Nam tại Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương

Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực tổ chức từ ngày 27/9 - 01/10/2026 đã thành công tốt đẹp.

Hội nghị đã trao đổi những vấn đề cốt lõi, lâu dài của Công ước Di sản thế giới và đạt được kết quả quan trọng với 4 dấu ấn nổi bật:

Thứ nhất, Hội nghị đã thông qua Văn kiện Hà Nội về di sản và tính xác thực, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và phương pháp luận bảo tồn di sản của khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu. Lần đầu tiên góc nhìn châu Á - Thái Bình Dương rõ ràng, có luận cứ chặt chẽ được đưa vào tiến trình thảo luận toàn cầu, tiếp nối Văn kiện Nara năm 1994 và Văn kiện Nairobi năm 2025. Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới UNESCO Lazare Eloundou Assomo nhận định việc thông qua Văn kiện Hà Nội là cột mốc quan trọng đối với cam kết chung của cộng đồng quốc tế trong thực thi Công ước Di sản thế giới năm 1972.

Thứ hai, dấu ấn về vai trò khởi xướng và năng lực dẫn dắt. Việt Nam không chỉ là nước chủ nhà mà với vai trò đồng chủ trì Hội nghị đã trực tiếp tham gia định hướng nội dung, định hình chính sách di sản toàn cầu. Ngay tại phiên khai mạc, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã nêu bốn định hướng lớn: nhìn nhận tính xác thực trên nền tảng tôn trọng đa dạng văn hóa; đề cao trách nhiệm với lịch sử và thế hệ tương lai, nhất là khi ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào di sản; lấy cộng đồng làm trung tâm, làm chủ thể và chuyển nhận thức thành hành động. Những định hướng này đều được phản ánh trong Văn kiện cuối cùng của Hội nghị. Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới Lazare Eloundou Assomo đã khẳng định tại phiên bế mạc rằng cộng đồng di sản thế giới có được đóng góp mang tính dấu mốc này là nhờ Việt Nam.

Thứ ba, dấu ấn về chính sách gắn với thực tiễn. Lần đầu tiên, một hội nghị chính sách về tính xác thực gắn trực tiếp với một sự kiện bảo tồn cụ thể: Lễ khởi công Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi Điện Kính Thiên sáng 29/9, cùng chuyến khảo sát Tràng An, Tam Chúc. Các đại biểu không chỉ bàn khái niệm mà còn được trực tiếp chứng kiến cách Việt Nam bảo tồn di sản tại Hoàng thành Thăng Long - điển hình hợp tác, mẫu mực về bảo đảm tính xác thực, nâng cao giá trị nổi bật toàn cầu, giải quyết hiệu quả bài toán cân bằng giữa bảo tồn và phát triển ngay tại di sản. Đồng thời, các bạn quốc tế cho rằng Việt Nam là "điểm đến đặc biệt có ý nghĩa" cho cuộc đối thoại toàn cầu này khi mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam chính là một hình mẫu thực tiễn sinh động.

Thứ tư, dấu ấn về năng lực tổ chức. Việc đăng cai tại Hà Nội và Ninh Bình góp phần khẳng định năng lực tổ chức, định vị Việt Nam là đối tác tin cậy, điểm đến của các sáng kiến văn hóa, di sản và đối thoại đa phương trong khu vực, góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh mềm của Việt Nam.

Việc Việt Nam phối hợp với UNESCO tổ chức thành công Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực, với Văn kiện Hà Nội được thông qua đúng dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt Nam - UNESCO khẳng định vai trò và tâm thế mới của Việt Nam trong đối ngoại đa phương và ngoại giao văn hóa. Hội nghị góp phần cụ thể hóa đường lối Đại hội Đảng lần thứ XIV, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, chuyển hóa nguồn lực văn hóa trở thành nguồn lực phục vụ trực tiếp cho các mục tiêu phát triển đất nước, phát huy sức mạnh mềm, nâng cao vị thế quốc gia.

6. Một số sự kiện thế giới đáng chú ý

- Nga miễn thị thực cho công dân Việt Nam lưu trú tối đa 30 ngày: Theo Sắc lệnh số 730 do Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin ký ngày 12/10/2026, công dân Việt Nam mang hộ chiếu phổ thông được phép nhập cảnh và lưu trú tại Nga không cần thị thực (visa) trong thời gian tối đa 30 ngày. Theo sắc lệnh được công bố trên Cổng thông tin pháp luật Liên bang Nga, chính sách áp dụng đối với công dân Việt Nam mang hộ chiếu phổ thông nhập cảnh vào Nga với mục đích thăm thân, công tác, du lịch, tham gia các hoạt động khoa học, văn hóa, chính trị - xã hội, kinh tế, thể thao hoặc quá cảnh qua lãnh thổ nước này.

Quy định miễn thị thực không áp dụng đối với công dân Việt Nam nhập cảnh vào Nga nhằm mục đích lao động, bao gồm hoạt động báo chí, học tập hoặc cư trú tại Nga. Sắc lệnh có hiệu lực từ ngày 15/10/2026 và quy định miễn thị thực được áp dụng đến ngày 15/10/2027.

- Việt Nam lên án các cuộc tấn công nhằm vào các cơ sở hạ tầng dân sự tại Saudi Arabia: Trước các cuộc tấn công gần đây nhằm vào các cơ sở hạ tầng dân sự tại Vương quốc Saudi Arabia, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam lên án các cuộc tấn công gần đây nhằm vào các cơ sở hạ tầng dân sự tại Vương quốc Saudi Arabia khiến nhiều dân thường thương vong, đe dọa đến hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, nối lại đàm phán, tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại hướng tới việc giải quyết các khác biệt bằng biện pháp hòa bình, vì lợi ích của người dân, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới”.

- Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia không hợp tác về thuế: Trước việc Liên minh châu Âu (EU) vừa quyết định đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia không hợp tác về thuế, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam hoan nghênh việc Liên minh châu Âu (EU) đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia không hợp tác về thuế. Quyết định này là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của Việt Nam thời gian qua trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, chính sách và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế nhằm xây dựng môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi, minh bạch, ổn định, phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Việt Nam sẵn sàng tiếp tục trao đổi, hợp tác với các đối tác quốc tế, trong đó có EU, trên tinh thần xây dựng, bình đẳng và cùng có lợi, nhằm thúc đẩy minh bạch thuế, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp và xây dựng môi trường kinh doanh quốc tế công bằng, thuận lợi và bền vững”.

VĂN BẢN MỚI

Nghị định số 321/2026/NĐ-CP ngày 15/8/2026 quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Nghị định gồm 4 chương, 16 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.

Đối tượng áp dụng là các đối tượng quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14.

Nghị định quy định tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.789.000 đồng lên 3.012.000 đồng.

Mức chuẩn trên làm căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng. Các mức quy định theo mức chuẩn tại Nghị định này được điều chỉnh khi mức chuẩn được điều chỉnh và làm tròn đến hàng nghìn đồng.

Nghị định quy định cụ thể mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với từng đối tượng như sau:

- Mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hằng tháng đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.

- Mức hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

- Mức hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với thương binh loại B.

- Mức hưởng trợ cấp ưu đãi một lần đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng. Nghị định nêu rõ trường hợp mức trợ cấp một lần tính theo thâm niên thì sau khi đã tính tròn số năm tham gia kháng chiến, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hoặc làm nghĩa vụ quốc tế mà còn có tháng lẻ thì số tháng lẻ được tính tròn số theo nguyên tắc: từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính là 01 năm, dưới 06 tháng được tính là 06 tháng. Trường hợp không xác định được ngày, tháng bắt đầu hoạt động kháng chiến thì được tính từ ngày 01 tháng 7 của năm đó.

Mức hưởng trợ cấp để theo học tại nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập, trường mầm non, lớp mầm non độc lập (cơ sở giáo dục mầm non): 0,4 lần mức chuẩn/đối tượng/năm.

Mức hưởng trợ cấp để theo học tại cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, trường chuyên biệt, lớp dành cho người khuyết tật và cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân (trừ cơ sở giáo dục mầm non): 0,8 lần mức chuẩn/đối tượng/năm.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng gồm: bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết; ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học; hỗ trợ thăm viếng mộ liệt sĩ; hỗ trợ di chuyển hài cốt liệt sĩ; hỗ trợ công tác mộ liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ; xác định danh tính hài cốt liệt sĩ và các chế độ khác…/.

[1] Tiêu biểu: Tổng Bí thư Tô Lâm thăm Lào, Campuchia và dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Hoa Kỳ (tháng 2/2026). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Trung Quốc (tháng 4/2026); Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, Singapore, dự Đối thoại Shangri-La (tháng 5/2026); Philippines (từ ngày 31/5 - 01/6/2026); Australia, New Zealand (tháng 8/2026); Nga, Pháp, Canada và dự Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 (tháng 9/2026). Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 (tháng 5/2026), Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN-Nga (tháng 6/2026), Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 (tháng 9/2026). Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự IPU-152, công tác tại Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Vatican (tháng 4/2026); viếng Chủ tịch Quốc hội Lào (tháng 8/2026); thăm Hàn Quốc, Mông Cổ (tháng 9/2026). Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú thăm Lào, Campuchia (tháng 4/2026), Singapore (tháng 8/2026);…

[2]Thăm Bảo tàng Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc; thăm Khu Phát triển Kinh tế - Công nghệ Bắc Kinh (Kinh tế Diệc Trang); thăm và khảo sát điểm liên lạc lập pháp Nam Ma Phòng; thăm và làm việc tại tỉnh Thiểm Tây; tham dự tọa đàm trao đổi kinh nghiệm với Nhân đại 3 cấp của Thành phố Bắc Kinh; gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Trung Quốc; tiếp các nhân sĩ hữu nghị Trung Quốc;...

[3]Tân Hoa Xã, China Daily, China News,…