Yến sào Tây Ninh tìm hướng chuyển từ sản xuất thô sang giá trị cao
Từ nền tảng hơn 2.100 nhà yến, Tây Ninh định hướng kết nối người nuôi với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, xây dựng vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc nhằm nâng sức cạnh tranh sản phẩm.
Mặc dù nghề nuôi chim yến tại Tây Ninh đã phát triển thành một hoạt động sản xuất có quy mô đáng kể với hơn 2.100 nhà yến và sản lượng tổ yến khoảng 15,5 tấn mỗi năm nhưng phía sau mức tăng trưởng về sản lượng, ngành hàng này vẫn đối mặt bài toán kinh tế quan trọng là tổ chức sản xuất, nâng cao năng lực chế biến và mở rộng thị trường để gia tăng giá trị sản phẩm.
Hình thành vùng sản xuất có quy mô
Điều kiện tự nhiên là một trong những nền tảng giúp nghề nuôi chim yến phát triển tại Tây Ninh. Theo bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh, địa phương có địa hình đồng bằng, hệ thống sông, hồ và kênh tưới phân bố rộng; các khu vực như sông Vàm Cỏ Đông, vùng Đồng Tháp Mười, hồ Dầu Tiếng cùng những vùng đất lâm nghiệp, cây lâu năm và mặt nước tự nhiên tạo môi trường sinh sống, nguồn thức ăn phù hợp cho chim yến.
Từ lợi thế đó, hoạt động nuôi yến đã mở rộng trên địa bàn tỉnh, hình thành mạng lưới cơ sở sản xuất phân bố tại nhiều địa phương.
Đến tháng 6/2026, Tây Ninh có 2.126 nhà yến; trong đó, 1.911 nhà yến thuộc hộ gia đình, chiếm 89,89%. Tổng diện tích sàn nuôi đạt khoảng 635.797m2, quần thể chim yến ước tính hơn 5,5 triệu con.
Khoảng 70% số nhà yến đang khai thác, cao hơn mức trung bình cả nước khoảng 60%. Sản lượng tổ yến đạt khoảng 15,5 tấn mỗi năm.
Những con số này cho thấy nghề nuôi yến đã hình thành một hoạt động sản xuất có quy mô, tạo nguồn thu cho nhiều hộ dân, góp phần đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.
Đáng chú ý, bên cạnh khâu nuôi và khai thác, địa phương đã có các cơ sở, doanh nghiệp tham gia sơ chế, chế biến, kinh doanh sản phẩm từ tổ yến; 35 sản phẩm yến sào được công nhận đạt OCOP 3-4 sao.
Tuy nhiên, quy mô sản xuất hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào hộ gia đình, các nhà yến phân bố rộng và phần lớn được xây dựng kiên cố bằng bêtông.
Đặc điểm này tạo nên mạng lưới sản xuất tương đối lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản lý, tổ chức lại hoạt động nuôi theo hướng phù hợp quy hoạch, bảo đảm hiệu quả kinh tế và hạn chế tác động đến khu dân cư.
Trong tổng số nhà yến hiện có, 1.789 nhà nằm trong vùng nuôi theo định hướng của địa phương; còn 337 nhà nằm ngoài vùng nuôi. Phần lớn các cơ sở ngoài vùng đã hoạt động trước năm 2020, cần được theo dõi, giám sát về tiếng ồn và vệ sinh môi trường.
Theo ngành chức năng, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động nuôi yến từng bước được tăng cường, từ tuyên truyền quy định về chăn nuôi, môi trường, phòng, chống dịch bệnh đến quản lý vùng nuôi.
Tỉnh đã ban hành quy định về vùng nuôi và chính sách hỗ trợ di dời cơ sở chăn nuôi khỏi khu vực không được phép chăn nuôi là cơ sở quan trọng để sắp xếp hoạt động này theo quy hoạch.
Công tác giám sát dịch bệnh cũng được triển khai; từ năm 2025 đến tháng 7/2026, cơ quan chuyên môn đã lấy mẫu tại 125 nhà yến, chiếm khoảng 6% tổng số cơ sở.
Riêng 6 tháng đầu năm 2026, cơ quan chức năng đã lấy 435 mẫu đơn, tương ứng 87 mẫu gộp; chưa phát hiện vi rút cúm gia cầm type A.
Dù vậy, những kết quả về quy mô và sản lượng chưa đồng nghĩa giá trị kinh tế của ngành hàng đã được khai thác tương xứng.

Khi phần lớn cơ sở nuôi hoạt động độc lập, việc liên kết giữa người nuôi với các khâu thu mua, sơ chế, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Sản phẩm chủ yếu vẫn ở dạng nguyên liệu thô; năng lực chế biến sâu, xây dựng vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc chưa phát triển đồng bộ.
Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nâng giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường của yến sào Tây Ninh.
Nâng giá trị tổ yến bằng liên kết và chế biến
Thị trường xuất khẩu cho thấy rõ hơn yêu cầu phải thay đổi cách tổ chức ngành hàng. Trung Quốc đã cấp phép nhập khẩu chính ngạch tổ yến Việt Nam từ ngày 9/11/2023.
Tuy nhiên, theo thông tin ngành chức năng, các doanh nghiệp trong nước mới xuất khẩu chính ngạch hơn 4 tấn tổ yến tinh chế cùng hàng triệu sản phẩm chế biến, với tổng trị giá trên 4 triệu USD.
Đối với các doanh nghiệp tại Tây Ninh, việc tham gia thị trường này vẫn gặp nhiều trở ngại do yêu cầu cao về kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, quy trình làm sạch, đóng gói, kiểm soát chất lượng, vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc theo nghị định thư giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Thực tế đó cho thấy, cơ hội thị trường đã mở ra nhưng không tự động chuyển thành lợi thế kinh doanh cho các cơ sở sản xuất.
Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu; nguồn nguyên liệu phải được kiểm soát, quy trình sản xuất và chế biến phải bảo đảm tính đồng nhất, minh bạch.
Trong khi đó, hoạt động nuôi yến tại Tây Ninh còn phân tán, dữ liệu về vị trí, quy mô, sản lượng và tình trạng hoạt động của các nhà yến chưa đồng bộ.
Việc xây dựng thương hiệu chung, xúc tiến thương mại và bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm yến sào địa phương cũng chưa tương xứng với quy mô sản xuất đã hình thành.
Bài toán của ngành hàng vì vậy không chỉ nằm ở việc nâng sản lượng tổ yến, mà quan trọng hơn là tạo được mối liên kết giữa các khâu sản xuất.
Các hộ nuôi cần được kết nối với cơ sở thu mua, doanh nghiệp chế biến và đơn vị tiêu thụ; vùng nguyên liệu phải gắn với yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thị trường đầu ra.

Khi có sự tham gia dẫn dắt của doanh nghiệp và các tổ chức liên kết như hợp tác xã, tổ hợp tác, hoạt động sản xuất mới có điều kiện chuyển từ những cơ sở riêng lẻ sang chuỗi cung ứng có khả năng kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm.
Theo ông Nguyễn Minh Lâm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh, tỉnh định hướng phát triển ngành yến phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch và vùng nuôi của địa phương; không lấy tăng số lượng nhà yến làm mục tiêu chủ yếu mà tập trung ổn định quy mô, nâng cao hiệu quả, chất lượng và giá trị.
Tỉnh chú trọng phát triển chuỗi liên kết từ nuôi, khai thác đến thu mua, sơ chế, chế biến và tiêu thụ; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu sản phẩm.
Định hướng này được cụ thể hóa bằng mục tiêu đến năm 2030 duy trì khoảng 1.800-2.100 nhà yến, tỷ lệ nhà yến có khai thác khoảng 70%, sản lượng tổ yến nguyên liệu đạt 18-20 tấn mỗi năm.
Tỉnh đặt mục tiêu hình thành ít nhất một chuỗi liên kết sản xuất, khai thác, sơ chế, chế biến, tiêu thụ hoặc xuất khẩu; có 15-20% số nhà yến tham gia vùng nguyên liệu phục vụ chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Trên 90% cơ sở đang hoạt động được rà soát, cập nhật dữ liệu, chuẩn hóa và số hóa thông tin, định vị trên bản đồ nhà yến.
Từ những mục tiêu trên, vấn đề đặt ra với yến sào Tây Ninh là làm sao chuyển quy mô sản xuất hiện có thành giá trị kinh tế cao hơn.
Theo bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh, thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung phát triển ngành yến theo chuỗi liên kết, kết nối các khâu từ cung ứng nguyên liệu, thu mua đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ. Trong đó, khuyến khích hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã để tập hợp người nuôi, liên kết với doanh nghiệp; phát huy vai trò của doanh nghiệp trong kiểm soát chất lượng nguyên liệu, tổ chức chế biến và định hướng thị trường.
Tỉnh cũng chú trọng thu hút đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm nhằm nâng giá trị tổ yến, giảm phụ thuộc vào tiêu thụ nguyên liệu thô và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Cùng với năng lực chế biến và liên kết sản xuất, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc là điều kiện để yến sào Tây Ninh tham gia sâu hơn vào thị trường. Vì vậy, việc quản lý vùng nuôi, kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ môi trường, ứng dụng khoa học công nghệ và số hóa dữ liệu nhà yến cần được đặt trong yêu cầu chung là xây dựng nguồn nguyên liệu ổn định, minh bạch.
Việc phát triển sản phẩm OCOP, xây dựng thương hiệu yến sào Tây Ninh, kết nối cung cầu và xúc tiến thương mại cũng được chú trọng, gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng, bảo đảm nguồn cung ổn định và đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường.
Với nền tảng sản xuất hiện có, yến sào Tây Ninh còn nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, giá trị ngành hàng trong thời gian tới không chỉ phụ thuộc vào sản lượng khai thác mà quan trọng hơn là năng lực chế biến, liên kết sản xuất và mở rộng thị trường.
Đây là hướng đi để tổ yến Tây Ninh chuyển từ sản phẩm nguyên liệu sang ngành hàng nông nghiệp có giá trị gia tăng cao./.
